Thứ Tư, 31 tháng 10, 2007

Bài thơ thứ 6

BƯỚC CHÂN

Lê bước chân
Theo năm tháng cuộc đời
Vui buồn lẫn lộn
Mãi tìm nguồn vui lớn:
Mang hạnh phúc cho nhân gian.

Ước mộng huy hoàng
Vá trời lấp biển
Chân không ngừng bước tiến
“Biết còn sống đến ngày mai”!
Anh muốn làm một
Con Người!

Anh sẽ tìm kiếm suốt cuộc đời
Con Người – em ơi
Đã thốt lên đầy cay đắng
Đã ngẫm trong muôn lần im lặng
Đến khi nào em ơi?

Nhưng anh không bước qua nổi nụ cười
Của em hay ma thuật?
Căm hờn hay ngây ngất?
Mà nhớ hoài
Mãi mãi không nguôi.

Em về nơi xa xôi
Nụ cười còn ở lại
Bước chân chừng không nhấc nổi
Bóng em chập chờn
Anh mỏi mệt lê bước nhân gian…

Chỉ chờ hoa nở mùa xuân
Vá trời lấp biển có cần không em?

Bài thơ thứ 5

THƯ GỬI VỢ MỚI CƯỚI

Cưới nhau tròn nửa tháng
Xa nhau mười lăm ngày
Anh đi công tác vắng
Em ở nhà quạnh hiu.

Đêm chia tay em thức
Nhớ: còn thiếu gì chăng?
Từ tấm áo, chiếc khăn
Đến bút bi, sổ nhỏ…

Anh vô tư say ngủ
- Để sức mai đi đường!
Khi giật mình tỉnh giấc
Em nở nụ cười duyên.

Anh quày quả lên đường
Gửi chiếc hôn vội vã
Em dõi nhìn rưng lệ
Không muốn rời dáng anh.

Tình yêu là màu xanh
Là xiết bao hi vọng
Anh hiểu. Và xao xuyến
Nhớ thương em làm sao!

Em ơi đừng nghẹn ngào
Nửa tháng rồi công tác
Mình lại được gần nhau
Đừng buồn, thêm lệ ướt.

Trên dòng đời xuôi ngược
Biết bao người chia li
Kẻ khóc người ra đi
Không hẹn ngày gặp lại.

Ngày xưa người ra trận
Vì độc lập, tự do
Đưa tiễn trong trống cờ
Giấu nụ cười nước mắt…

Nhớ anh em đừng khóc
Mười lăm ngày qua mau
Mơ hạnh phúc ngọt ngào
Nghĩ bao người đau khổ.

Dẫu chúng mình cách trở
Có đáng gì đâu em
Hãy nghĩ điều sắp quên
Em sẽ cười. Hạnh phúc!

Chuyện cũ hồi đi học

CÂU CHUYỆN ĐỔI TÊN

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm cách đây hơn 20 năm. Khi học ở trường tiểu học Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại (Bến Tre), trong lớp tôi có một bạn tên là Trần Văn Cu.
Cái tên “Cu” này rõ là không hay, không đẹp nhưng nó gắn với một tập quán của người dân thôn quê Nam bộ, rằng con nít được đặt tên xấu thì dễ nuôi! Bởi vậy, những cái tên Tí, Tèo, Đực, Nia… được khá nhiều người đặt cho con cái của mình.
Trong lớp tôi, dù đã quen với bạn Cu, nhưng mỗi lần nghe cô giáo gọi đến tên thì đám trẻ chúng tôi ở dưới lại cười khúc khích. Vài đứa nghịch ngợm còn kết ghép với những chữ khác chẳng hay ho gì hay bày những trò “quỷ” lếu tếu!
Một lần cô giáo bảo với Cu: “Tên của em làm các bạn hay cười nhạo, để cô đổi lại thành Cưu nhé!” Bạn Cu cúi mặt im lặng nhưng ra chiều cảm động lắm.
Lúc ấy, có lẽ chưa đứa nào trong lớp tôi biết “cưu” có nghĩa là gì nhưng sau này, tôi biết đó là một từ đẹp, không chỉ trong từ “cưu mang” mà còn trong một bài cổ thi nổi tiếng “Oan oan thư cưu, tại hà tri châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”…
Sau buổi học đó, bạn bè có đứa nào chọc về cái tên “Cu” nữa, Cưu liền “sửa miệng”: “Tên tao là Cưu mà!” Nói rồi bạn chìa cái nhãn vở có ghi chữ Trần Văn Cưu nắn nót.
Hiện nay, Trần Văn Cưu là một kỹ sư, làm việc tại một nhà máy ở Bến Tre. Tôi chắc rằng, cái tên Cưu có nhiều ý nghĩa đối với anh, không chỉ là một cái tên đẹp mà còn đầy kỷ niệm về lòng quan tâm và yêu thương của cô giáo đối với đứa học trò nhỏ của mình.

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2007

trucgiang: Bài thơ

trucgiang: Bài thơ

Phê bình văn học

THÊM MỘT GÓC NHÌN VỀ TIỂU THUYẾT BA NGƯỜI KHÁC

Tiểu thuyết Ba người khác nếu không nói là của Tô Hoài thì có lẽ rất khó để nhận ra đó là “đứa em cùng cha” của Dế mèn phiêu lưu ký. Không chỉ nội dung, hình thức thể hiện cũng tạo nên sự mới mẻ của Ba người khác.

1. Trong Ba người khác, dường như ta không thấy dấu vết của giọng văn miêu tả mà Tô Hoài là một bậc thầy. Nhà văn đã để cái nhìn của nhân vật, một đội phó Bối “giữ vững lập trường” tố điêu đến khi thân bại danh liệt, phải sống vất vưởng bên lề cuộc đời, thể hiện xuyên suốt mọi vấn đề, mọi sự vật, hiện tượng. Ngay trong những đoạn mà bắt buộc phải miêu tả (chính xác chỉ là “tả”) thì nhà văn cũng chỉ để nhân vật nhìn lướt qua, ghi nhận lại như một cái máy ảnh chụp bằng ống kính normal (50mm). Đó là sự ghi nhận chỉ bằng con-mắt-sinh-học, con mắt thường của con người, chứ không phải con mắt có tình cảm hay lý trí. Ta không thấy nhân vật sử dụng cái nhìn của ánh mắt của ống kính góc rộng (wide, nhỏ hơn 50mm), tất nhiên càng không thấy ánh nhìn cận cảnh (zoom in, lớn hơn 50mm). Cái nhìn đó gần như chỉ để phân biệt cái này với cái khác chứ không phải để phân tích, đánh giá, nhận định, càng không thể có cái nhìn “cắt lớp” với sự xẻ ngang xẻ dọc.
Ngay ở đoạn đầu, khi Bối và đoàn cải cách về xã để nhận công tác, đã “trông vào cái chợ mùa đói, nháo nhào không biết đâu người ăn mày hay người mua bán”. Thì ra, người này cũng như người kia, không hẳn người ăn mày cũng “tàn tạ”, “lếch thếch” như người mua bán, mà chính là cái ống kính của nhân vật chỉ chụp được bề mặt. Thậm chí chỉ bằng phim đen trắng trong điều kiện ánh sáng không bình thường, quá thiếu sáng hoặc quá dư sáng nên những mảng tối hoặc mảng sáng thì khi lên hình cứ như nhau, kém hẳn sự tương phản để làm nên một bức ảnh rõ nét. Những đoạn nói các cuộc họp, nói về cách trồng lúa “thần kỳ”, những cuộc “quần thảo” giữa cán bộ “thổ cải” và các nữ dân quân… đều được nói đến bằng giọng văn như thế. Ngay cả những cái chết – tự tử vì phản kháng sự tàn khốc của cuộc cải cách – cũng được thể hiện nhẹ như không.
Dù không bình luận mà chỉ để nhân vật nhìn thoáng qua, những với “trí nhớ” tuyệt vời của đội phó Bối, ta dễ dàng nhận ra ẩn ý của Tô Hoài thể hiện trong tác phẩm. Đó là một cuốn phim kém về hình thức thể hiện nhưng có nội dung khá đặc biệt, mới chiếu thì chán xem nhưng xem được một đoạn thì lôi cuốn người ta theo dõi đến tận cùng. Và rồi đến cuối phim, nói như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, đã mượn lời trong Cung oán ngâm khúc khi nhận định về Ba người khác: “Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy!”
2. Nhiều người đã nói đến thuật “ve sầu lột xác” khi đề cập việc Tô Hoài để cho nhân vật Bối kể gần suốt câu chuyện, trừ một vài đoạn phục hiện, mà ta biết là cũng do chính Bối kể lại từ lời kể của người khác. Do đó, gần như câu chuyện cứ tuần tự diễn ra như vốn có mà không có sự can thiệp, định hướng của tác giả. Bối mặc nhiên được “múa gậy vườn hoang”, tha hồ thanh minh cho tội lỗi của mình, tha hồ đổ trút tội cho đội trưởng Huỳnh Cự, tha hồ kể lại sự việc sao cho đậm nét nhất cái tính chất “tố điêu” mà ngay từ đầu đã được khẳng định trong bản chất của y ta, từ việc “thành thật” nhắc lại những “thành tích bất hảo”…
Thoạt đầu, ta không biết tác giả có cùng quan điểm với Bối hay không, vì thực tế, “ve sầu” đã hoàn toàn “lột xác” rồi, tức là câu chuyện hoàn toàn là của Bối và Tô Hoài thì hoàn toàn không là Tô Hoài như người ta đã biết, kể cả trong các tự truyện như Chiều chiều hay Cát bụi chân ai. Ta dễ dàng có cảm giác ảm đạm, hãi hùng với những cảnh tượng thương tâm, khủng khiếp dù được kể qua giọng văn bàng quang, thậm chí tưng tửng, lạnh lùng. Nhưng đọc hết câu chuyện, ta thấy rõ cái tính chất điêu ngoa, xảo trá của Bối, đúng là “cà cuống chết rồi đít vẫn còn cay”. Suốt câu chuyện, Bối không ngừng dựng chuyện hoặc để tố cáo, đổ lỗi ai đó hoặc để biện minh cho hành vi của mình. Dường như Bối (và nhiều nhân vật khác) không phải là một con người, hoặc thuần chỉ là con-người-sinh-học vì không có cảm xúc, không thấy rõ sự vui buồn, hờn giận mà chỉ thấy có sợ hãi mà thôi. Thành ra, ta hiểu được rằng, thực chất, có vẻ Tô Hoài tung một “đòn gió” khá mạnh: “nói vậy mà không phải vậy”! Và phảng phất đâu đó, một cách mờ ảo đầy ẩn ý, thể hiện điều mà người đời hay nói “không có lửa làm sao có khói”!
3. Nói gì thì nói, ta không thể phủ định những hiện tượng, sự việc diễn ra trong lịch sử mà bối cảnh câu chuyện đã đề cập. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm 1954 – 1956 đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó quan trọng nhất là đã chia ruộng đất cho dân cày, điều mà suốt hàng ngàn năm qua nhân dân ta luôn mong mỏi và không ngừng đấu tranh để đạt được mục tiêu đó. Nhưng ngay cả ở điều cốt yếu nhất này, trong Ba người khác thông qua sự tố điêu của Bối, đã không được thể hiện rõ nét. Đọc hết chuyện, ta chỉ thấy những người nghèo tranh nhau cắm cọc ở những thửa ruộng của các địa chủ, hay giành giật các thứ gia sản của phú nông… như những kẻ vô tổ chức, vô chính phủ hơn là một lực lượng quan trọng của cách mạng. Ta cũng thấy, gần như tất cả nông dân luôn thể hiện vai trò thụ động mờ nhạt trong suốt cải cách ruộng đất – họ không phải là động lực mà cũng chẳng là lực lượng càng chẳng phải là mục tiêu của quá trình này. Thậm chí có lúc có nơi, nông dân bị lợi dụng, sai khiến để trở thành công cụ cho cán bộ, nhằm chạy theo thành tích, chạy theo chỉ tiêu. Và ở đó, những cán bộ “thổ cải” hoàn toàn không thể hiện được vai trò lãnh đạo của mình, chỉ là những kẻ “hét ra lửa”, nắm quyền sinh sát của rất nhiều người nhưng lại tham lam, dốt nát, hủ bại.
Không cần phải bàn cãi, chính sách cải cách ruộng đất do rập khuôn cách làm của Trung Quốc nên đã có những sai lầm nhất định, thậm chí có lúc có nơi đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Điều đó ngay năm 1956, Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đã có những hình thức sửa sai. Tuy nhiên, những vết thương do sự sai lầm này không dễ gì mất hết dấu vết, dù sự việc đã diễn ra hơn 50 năm. Xét về bản chất, Ba người khác đã tái hiện lại phần nào không khí và cảnh tượng của hoạt động cải cách ruộng đất, cũng như “chân dung” của những nạn nhân và các lực lượng tham gia hoạt động này. Chính điều này đã tạo nên sức hút của tác phẩm, đồng thời thể hiện tính giáo dục lịch sử khá độc đáo. Đó là: không có sự việc nào dễ dàng bị quên lãng cũng như không có sự kiện lịch sử nào không có bài học kinh nghiệm nếu ta nhìn nhận nó với cái nhìn khách quan và cầu thị.
Năm 2006

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2007

Kỷ niệm gia đình: Đêm Cái Vồn

ĐÊM CÁI VỒN

Tôi vẫn nhớ như in những câu chuyện gia đình do ba mẹ tôi kể lại. Mỗi lần nghĩ đến là lòng lại thấy xót xa, thương cho phận nghèo của gia đình và cũng cảm thông cho những mảnh đời cư cực khác.
Năm đó, tết nhưng cả vùng buồn hiu vì nhằm năm mất mùa. Giáp tết rồi, ngoại tôi còn quảy đôi gánh đi khắp xóm và khi về vừa cởi khăn ra vội lấy cái ngoái trầu đã cười bỏm bẻm: “Năm nay có gánh khoai này ăn tết khá!” Ý ngoại lo xa vì lúa còn trong bồ không thể nào ăn đủ đến tháng mười khi đến vụ mới (mỗi năm quê tôi chỉ làm một vụ lúa), cả nhà phải chuẩn bị đối phó với nạn thiếu ăn. Năm đó tôi chưa thôi nôi.
Để chuẩn bị cho một năm khó khăn, mới mồng mười tết, ba tôi đã khăn gói rời quê nhà ở Bến Tre đi Cà Mau để làm thuê. Mẹ tôi ở nhà gửi tôi cho bà ngoại, sáng luôn dậy sớm theo mấy dì mấy chị đi nhổ rau năn, rau đắng về đổi gạo. Bữa cơm bữa cháo thế mà vui vẻ, đầm ấm. Bốn tháng sau ba về, vốn được một ít, đủ chuẩn bị cho mùa mới. Nhưng mùa mới cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tính tới tính lui, lúa không đủ ăn cho cả năm, ba mẹ tôi bàn nhau đi Cà Mau chuyến nữa.
Phen này cả gia đình đi nên ba tôi càng ra sức làm lụng. Mẹ tôi kể lại, cứ sáng sớm ăn vội chén cơm nguội, ba theo mấy chú bác cùng cảnh ngộ đi đào đất cho các gia đình người địa phương. Ba tôi khỏe mạnh, tháo vát nên được người ta quý mến và có việc làm không ngớt. Mẹ tôi ở nhà trông tôi và làm việc lặt vặt cho mấy gia đình có nhu cầu. Còn nửa tháng nữa là đến tết, ba đem bán nửa chỉ vàng cùng với tiền để dành, mua một chiếc ghe, chuẩn bị chèo về Bến Tre. Ba mẹ tôi đi mua vài chục kí gừng, hơn tạ gạo rồi mượn cối xay thành bột phơi khô cho vào các bồng vải để chở về quê (ngày đó nếu chở nhiều gạo sẽ bị khám xét và quy là buôn lậu). Bà con thấy gia đình tôi khó khăn nên ai cũng bán thiếu, hẹn qua năm vào sẽ trả, dù chẳng ai chắc rằng liệu gia đình tôi có từ Bến Tre vào Cà Mau nữa hay không? Mẹ tôi có hai chỉ vàng gồm một đôi bông nửa chỉ của ba tặng hồi đám cưới và một sợi dây chuyền một chỉ rưỡi của bà ngoại tặng khi mẹ còn con gái. Mẹ gói chúng vào một tờ giấy rồi giấu dưới đống gừng, phòng trộm cướp. Xong xuôi, cả nhà trở về.
Cứ theo con nước mà đi, ngày chèo đêm nghỉ, ba chèo lái, mẹ bơi mũi. Một bữa, ghe đến Cái Vồn (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long) thì trời tối. Ba cột ghe vào bờ nghỉ. Đến nửa đêm, khi nước triều rút, chiếc ghe bị nghiêng và bị chìm. Ba tôi chỉ kịp đưa mẹ và tôi, lúc bấy giờ chưa đầy hai mươi tháng, lên bờ, rồi tìm cách tát nước. Mẹ tôi kể lại, suýt chút nữa là nhảy xuống sông để vớt cái mền cưới, nhưng vì mắc bồng tôi nên đành nhìn cái mền từ từ trôi mất. Nghe tiếng tri hô, có hai thanh niên đi tuần đến giúp cứu ghe và vớt đồ. Tới chừng ổn định lại thì mới hay gừng đã bị trôi gần hết, các bồng bột một số bị trôi, số còn lại ngấm nước, mớ gạo để dành cũng ướt sũng. Đau nhất là hai chỉ vàng, cả gia tài đã trôi mất. Mẹ tôi ôm tôi khóc ròng. Ba thì nói như thề: “Mất hai chỉ vàng rồi làm sao về nhà?” Đêm đó cả nhà lên bờ trong lạnh lẽo tuyệt vọng.
Sáng hôm sau, ba mẹ tôi lại lục đục sửa soạn lại ghe, chưa quyết định đi tiếp hay trở lại Cà Mau. Nhìn dưới bãi bồi ở trên sông ở ngay mớn nước, mẹ tôi bỗng reo lên: “Cái gói vàng kìa!”. Thì ra gói vàng nặng nên còn trầm ngay chỗ chiếc ghe bị chìm. Nhặt lên, còn nguyên hai chỉ vàng, ba mẹ tôi mừng muốn khóc, lật đật gói ghém đồ đạc tiếp tục về quê.
Hành trình lại tiếp tục, lựa lúc trời nắng, ba mẹ tôi đem bột và gạo ra phơi, để dành về quê ăn. Nhờ trời, chuyến đi ấy cuối cùng cũng về đến nhà, tuy mất mát một số đồ nhưng cả ba người đều bình an và số tài sản lớn nhất là hai chỉ vàng vẫn còn nguyên vẹn. Năm sau, cả nhà lại chèo ghe vào Cà Mau một chuyến nữa, để trả nợ số hàng mua thiếu năm trước. Nghe kể chuyện chìm ghe suýt nữa chết đuối, bà con cảm động và không ai chịu nhận tiền cả…
***
Thỉnh thoảng ba tôi hay bảo: “Khi nào có dịp cha con mình sắm chiếc ghe đi Cà Mau một chuyến”. Ý ba tôi muốn nói đến những người hàng xóm tốt bụng ở Cà Mau, dù khó khăn nhưng vẫn sẵn lòng giúp đỡ những người khác. Ý ba tôi cũng muốn nhắc nhở anh em chúng tôi không được quên cội nguồn của gia đình, phải nhớ những ngày cơ cực mà luôn phấn đấu. Tôi cũng hi vọng có dịp đi với ba tôi về Cái Vồn, nơi tôi suýt chết đuối để cảm nhận đầy đủ sự nhọc nhằn của ba mẹ trong những ngày tháng gian khó. Nhưng cảnh xưa người cũ, chắc chẳng hi vọng tìm được dấu vết ngày xưa.
Trải qua gần ba mươi năm, đất nước ngày càng phát triển. Gia đình tôi cũng không còn khó khăn như trước. Anh em chúng tôi đã tốt nghiệp đại học và đều có việc làm ổn định. Mỗi khi nghĩ lại những câu chuyện của gia đình, tôi lại bồi hồi hình dung về cái đêm ở Cái Vồn với lòng thương kính ba mẹ vô bờ!

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2007

Tạp bút

VƯỜN TRẦU CỦA NGOẠI

Quê ngoại tôi ngày xưa là một làng rất nghèo thuộc huyện Bình Đại (Bến Tre). Trước giải phóng, chưa có kênh đào, xung quanh toàn là ruộng bưng: mùa mưa nước ngập trắng đồng nhưng mùa nắng thì đất khô nẻ. Chờ mưa về, mọi người hối hả làm đồng: cày bừa, ủ giống, gieo mạ, cấy và gặt. Đến ngày có lúa chở về chất đầy sân chờ trâu hay bò đến đạp thì cả mười móng tay và mười móng chân đã nhuộm một màu vàng cháy của phèn. Hết mùa, nắng như đổ lửa làm khô nhanh những thửa ruộng mới hôm nào còn xanh lúa để lại trơ trơ những gốc rạ cùng với màu đất xám xịt buồn thiu. Gió nam khan thổi mạnh vốc những nắm cát trên các giồng cát ném tung tóe khắp nơi.
Và, trong nửa cuộc đời đơn độc còn lại vì vắng người bạn đời, ngoại tôi đã sống trong gió và cát như thế để nuôi năm đứa con, mà sau này, chiến tranh đã cướp đi ba đứa lớn…
***
Lúc sinh thời, ngoại tôi là người nghiện trầu. Đi đâu, bà cũng mang theo túi đựng trầu, cau và cái bình vôi cũ kỹ miệng đã bị mẻ mất một miếng. Tôi nhớ có nhiều lần ba mẹ tôi đón bà đến nhà chơi mà quên mang theo trầu thì thế nào bà cũng đòi về cho bằng được dù sau đó lại nói: “Tao về mà nhớ sắp nhỏ quá”! Bà ghiền trầu như người ta ghiền thuốc lá, không dễ gì có thể bỏ được. Thỉnh thoảng họ hàng đến thăm, người biếu buồng cau, kẻ mang chục trầu cũng cảm thấy ấm áp tình quyến thuộc. Sau này khi lớn lên, tôi còn thấy đó là một nét thật đặc biệt của người Việt Nam truyền thống, một đặc trưng của văn hóa nước nhà. Tôi không chắc lắm là trầu cau luôn quấn quýt nhau như trong chuyện cổ tích hay những con người mộc mạc ở quê nhà luôn gắn bó với nhau, cùng chia bùi sẻ ngọt.
Để có sẳn trầu tươi, ngoại tôi có trồng mười mấy nọc trầu không trong vườn nhà. Ngày ngày, bà gánh nước tưới và tự tay chăm sóc từng dây trầu như nâng niu những đứa cháu của mình. Tôi lúc nhỏ ở nhà ngoại để đi học cho gần nên thường lẽo đẽo theo ngoại đi gánh nước và tưới trầu. Tôi thích nghịch những dòng nước mát lạnh đổ rào rào trên những lá trầu xanh mơn mởn. Thích nghe ngoại mắng yêu: “Tổ cha mày! Phá quá làm sao cho ngoại tưới!”, tôi cũng mon men theo ngoại nhổ cỏ và hái những lá già úa vàng bỏ đi. Thỉnh thoảng một vài con cóc bị động nhảy phóc ra ngoài sột soạt trên những chiếc lá làm tôi giật mình. Ngoại lại cười phô hàm răng nhuộm trầu đỏ thắm (chỉ có hàm dưới thôi, còn hàm trên đã rụng cả rồi!) mà trêu tôi: “Đó, phá ngoại nên bị cậu ông trời rầy đó!” Rồi ngoại kể cho tôi nghe câu chuyện cóc kiện trời và sự tích vì sao gọi cóc là cậu ông trời, hay chuyện vì sao cóc nghiến răng thì trời sắp mưa...
Vườn trầu của ngoại là một chấm xanh nhỏ nhoi trong khu vườn nhỏ của ngoại vào mùa nắng, bên cạnh ba cái chấm to tướng, mà chẳng dịu dàng chút nào, của ca cây vú sữa đã lên hàng lão. Dù lá trầu xanh không thẫm một màu xanh nhưng dường như cái màu hơi vàng của nó hợp với màu của mùa nắng hơn. Mùa mưa, cây cối xum xuê, vườn trầu vẫn nổi bật với cái màu dị thường của nó. Mùa nào nơi đây cũng là nơi ngoại tôi dành những giây phút bận rộn mà đầy tình cảm với công việc tưới táp và chăm sóc nó.
Và, mùa nào nơi đây cũng là vườn và là nhà của lũ cóc tía.
***
Mẹ tôi thường kể đi kể lại một câu chuyện về ngoại có liên quan đến cóc. Năm đó, tôi mới vừa thôi nôi trong cảnh nghèo nàn với một nồi chè khoai nhỏ, vì cả vùng bị mất mùa. Ngay mấy tháng trước đó, trong dịp Tết, ngoại tôi còn tất tả gánh đôi thúng đi ngược đi xuôi và về hớn hở nói: “Có gánh khoai này, ăn tết đỡ rồi!”.
Một lần đi tưới trầu, ngoại bắt được một “nàng” cóc to tướng. Bà mừng rỡ nói: “Chết cóc rồi cóc ơi! Mày mà nấu cháo thì ngọt hơn nấu cá lóc!” Nhưng ngoại không biết đó là một con cóc có chửa mà chỉ nghĩ là một con cóc... mập. Bà liền làm thịt, phi hành tỏi thơm phức để nấu cháo, tất nhiên có cả buồng trứng. Tôi chắc rằng trong lúc làm thịt con cóc xấu số kia, tấm lòng người mẹ, người bà hẳn rất sung sướng vì trong hoàn cảnh đói kém mà có một nồi cháo cóc nóng hôi hổi thơm ngon và bổ dưỡng thì còn gì bằng. (Tôi bỗng nhớ chuyện bà của cu Dần trong Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã hăm hở mang về cho cả nhà những tai nấm to để ăn một bữa no nê mà ai ngờ đó là nấm độc!) Làm xong, ngoại múc một chén rồi bảo mẹ tôi đút cho tôi ăn. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà tôi chỉ ăn một hai muỗng rồi nhất định không ăn nữa, dù mẹ tôi có dụ dỗ, ép buộc thế nào. Có lẽ vì cháo ngon và cũng tiếc công ngoại đã làm cực nhọc, mẹ tôi đã ăn hết chén cháo đó.
Ăn xong được một lúc thì mẹ tôi trúng độc. Ban đầu, ngoại tôi cũng không biết là bị ngộ độc do món cháo cóc nên chỉ lăng xăng cao gió, xức dầu. Chừng nghe mọi người nói ra thì bà mới phát hoảng lên và vội vã nhờ hàng xóm võng mẹ con tôi đi bệnh viện huyện, cách đó khoảng ba bốn cây số. Mẹ tôi bị nặng nên phải nằm viện khá lâu nhưng may mắn là qua được, còn tôi chỉ ít giờ sau thì đã khỏe. Tất cả như một phép màu vì cả mẹ lẫn con đều qua khỏi. Có thể, ngoại tôi tin rằng lòng thành của bà đã động lòng Trời Phật nên mới cho mẹ con tôi thoát nạn, vì lúc đó, trong lúc bối rối, bà đã van vái khắp nơi, miệng lúc nào cũng lẩm bẩm cầu Trời khẩn Phật. Mẹ tôi kể lại rằng lúc đó trông bà ngoại tội nghiệp lắm, vì suýt chút nữa thì bà đã giết chết cả con lẫn cháu rồi.
Khoảng thời gian đó, vào năm mất mùa, ba tôi phải tha hương đến tận Cà Mau để làm thuê. Khi về, nghe kể lại, ba ôm tôi mà ròng ròng hai hàng nước mắt.
***
Tôi vẫn nhớ như in những ngày năm sáu tuổi, khi còn ở nhà ngoại để đi học. Mùa khô, các ruộng bưng đất khô nẻ, lởm chởm những gốc rạ, những vết chân trâu bò. Chiều, gió nồm thổi mạnh. Ánh nắng cuối ngày vàng ươm rải từ những ngọn tre đến mấy bụi trâm bầu. Ngoại thường quảy đôi thúng đi nhặt phân trâu phân bò khô về đốt vỏ ngao để lấy vôi ăn trầu. Tôi cũng lon ton chạy theo ngoại, chỉ chỗ nọ, chỉ chỗ kia, rồi nhặt nhạnh, rồi khoe công với ngoại. Hai chiếc bóng dài ngoằng in loang lổ trên mặt ruộng. Cứ thế, cho đến khi đầy hai chiếc thúng hoặc trời đã chạng vạng, hai bà cháu mới trở về nhà. Bấy giờ, tiếng chuông chùa ngân vang vang trầm ấm, mùi nhang ngào ngạt thoang thoảng trong gió, những ánh đèn dầu le lói, những ngọn khói bếp uốn lượn sau mấy bụi tre đưa mùi của rơm rạ, của bữa cơm chiều nồng nàn.
Về nhà, cơm nước xong, trời đã sụp tối, ngoại đổ gánh phân trâu bò khô ra sân, rồi lấy rơm nhóm lửa để đốt mớ vỏ ngao cho “chín” để lấy vôi. Ngao là loài nhuyễn thể có họ hàng với sò, nghêu nhưng to hơn, thịt rất ngọt. Tôi nhớ, hồi con nhỏ ngao có rất nhiều, mua về luộc hoặc nướng ăn, bao giờ tôi cũng đi nhặt lại những vỏ ngao để dành cho ngoại lấy vôi. Khi lửa đã cháy bập bùng, những tiếng nổ lép bép bắt đầu vang lên, nghe rất vui tai. Tôi, em Diệu (con của cậu Út) và mấy đứa trẻ nữa ngồi xung quanh. Ngoại kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện cổ tích. Cứ vậy, cho đến khi lửa tàn, ngao chín…
***
Năm tôi lên 7 tuổi, ngoại tôi bệnh nặng. Vười trầu không ai chăm sóc nên không còn xanh tốt như trước. Tôi nghĩ trầu cũng nhuốm buồn vì phải sắp chia tay với ngoại. Mà cũng phải, vườn trầu như một đứa cháu nhỏ đã thiếu bàn tay chăm sóc của bà nên xanh xao vàng vọt, ốm yếu. Và, nằm trên giường bệnh, không còn tự tay vun tưới vườn trầu, chắc ngoại cũng buồn vì xa đứa cháu ấy lắm!
Một lần, trước lúc ngoại mất vài tháng, bà ra nằm ngoài bộ ván gõ và gọi tôi đến bóp chân. Lúc đó, chân ngoại sưng phù, một triệu chứng của bệnh gan, và đã khá yếu. Tôi nắn nắn hai chân ngoại bằng bàn tay nhỏ xíu của mình. Ngoại khóc, tôi cũng khóc. Bà kể lể chi đó tôi không nhớ. Nước mắt của ngoại chảy dài ngoằn ngoèo trên khuôn mặt nhăn nheo của một đời lam lũ nhòe đi trong nước mắt tôi. Khi viết lại những dòng này và cả bất cứ khi nào nghĩ đến, tôi đều rưng rưng nước mắt. Nếu trong đời có một phút giây nào xúc động nhất thì chính là lúc đó, khi tôi đang cùng khóc với ngoại. Chưa bao giờ tôi thương ngoại như lúc đó. Tôi nhớ lại những lần ngoại bênh tôi khi bị những đứa trẻ khác ăn hiếp; những lần ngoại cặm cụi gỡ cho tôi ăn từng hạt nếp rang thơm lựng; những đêm ngủ với ngoại thơm nồng nàn mùi trầu cau trong từng nếp áo; những bữa ngoại cùng tôi chăm sóc vườn trầu với những lời mắng yêu; cả những lần bị ngoại đánh đòn vì mải chơi không về tắm... Tôi nhớ dáng ngoài xương xương, lưng hơi còng căm cụi gánh nước tưới trầu; nhớ miệng ngoại móm mém nhai trầu với đôi môi thắm đỏ; nhớ bàn tay gầy guộc đầy những vết đồi mồi vẫn thường vỗ về cho tôi ngủ; nhớ tiếng ngoại vang vang hay “chửi chó mắng mèo” mà lòng thì lúc nào cũng thương con thương cháu…
Đó là lần trò chuyện cuối cùng của tôi với ngoại. Sau đó, tôi thỉnh thoảng vào buồng nắm lấy tay ngoại nhưng chẳng dám ở lâu…
Một ngày kia, ngày 27 tháng 8 âm lịch, ngoại tôi ra đi mãi mãi. Mộ ngoại đắp trên một gò cao dưới tán cây xoan râm mát. Có những ngày hoa xoan nở tím, những cánh hoa li ti rụng đầy trên mộ làm tôi nhớ đến bài hát được phổ từ bài thơ Về quê ngoại của Chim Trắng, một nhà thơ gốc Bến Tre: “Hoa tím rụng đầy trên mộ ngoại, ngoại ơi!”.
***
Rồi gia đình tôi tha phương, ít khi có dịp về thăm quê ngoại. Những lần về quê, tôi lại ra đứng dưới tán xoan nhìn hoa rụng mà bồi hồi nhớ lại những ngày thơ ấu, được sống trong vòng tay yêu thương của ngoại, được vùi trốn trong đám lá xanh của vườn trầu, như một thành trì vững chắc, của những gì thuộc về tình cảm thiêng liêng của gia đình, thuộc về quê hương, và cả thuộc về dĩ vãng.
Ngoại mất. Vườn trầu chẳng để làm gì nên cậu Út phá đi. Bây giờ vườn trầu đã mất dấu vết. Chẳng còn những nọc trầu xanh mơn mởn. Chẳng còn những chú cóc nào làm tôi giật mình nữa.
Chẳng còn ngoại nữa. Ngoại ơi!

Bài viết sau cơn bão Durian (12-2006)

ƯỚC GÌ CÓ VẠN NGÔI NHÀ LỚN

1। Bão Durian đã gây thiệt hại nặng nề cho 12 tỉnh thành khu vực Nam bộ. Trong đó, huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre quê tôi là địa phương bị nặng nhất.
Từ Rạch Miễu về Bình Đại, đi trên tỉnh lộ ĐT 883, đoạn từ Châu Thành về An Hóa đã có những dấu hiệu cho thấy bão từng đi qua. Sang bên kia cầu An Hóa, thuộc cù lao An Hóa thì cảnh tượng bắt đầu khác nhiều. Nhiều ngôi nhà nằm ven bờ sông bị tốc mái, nằm trơ sườn. Những hàng nghiêng ngả chẳng khác gì dáng đứng Bến Tre sau cơn bão lịch sử. Từ An Hóa về thị trấn Bình Đại khoảng 30km, càng đi càng có nhiều hình ảnh xơ xác, tiêu điều. Qua Châu Hưng, Phú Thuận, Phú Vang, Vang Quới…, nhiều cánh đồng lúa vừa chín tới bị gió xô ngã nằm rạp dưới ruộng, những mái nhà tre lá bị tốc mái hoặc bị kéo sập nắm ngổn ngang. Từ Thới Lai đến Định Trung, Bình Thới, rồi đến thị trấn Bình Đại, hoang cảnh thật tiêu điều. Những cây dừa bị gió xô đẩy giờ trở nên rũ rượi, cành lá gần như bị dồn về một phía theo chiều từ đông sang tây (chiều của bão). Những hàng chuối nghiêng ngả, số còn đứng được thì lá đã rách bươm như thể người ta xé để làm… phất trần vậy. Những bụi tre dẻo dai gan lì là vậy nhưng cũng xiêu vẹo, lá bị gió làm dập và gãy khô luôn trên cành nom như bị hơ lửa. Nhiều loại cây vốn rất dẻo và có rễ ăn sâu như duối, me, xoan… thì bị bật gốc, gãy ngọn. Dừa nước vốn được trông cậy để có lá lợp nhà thì cũng te tua, chỉ còn lại cọng lá.
Từ thị trấn về Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị, Thạnh Phước…, đâu đâu cũng thấy cảnh đổ nát. Những nhà ven đường, mười phần thì sập đến ba bốn, ba bốn phần khác bị tốc mái, bung cửa. Tôn ximăng dày và nặng thế nhưng bị dỡ lên từng tấm rồi được gió cuốn xa hàng chục mét, rơi xuống bể ngấu như bánh tráng; tôn kẽm thì bị xé rách ngọt như người ta xé giấy. Ngay sau bão, mọi tuyến đường trong khu vực bão đi qua đều bị tắc do cây đổ, nhà sập, trụ điện gãy, tôn ngói bể nằm đầy đường.
2। Có lẽ quá bất ngờ và chưa có kinh nghiệm xử lý, bản thân gia đình các cán bộ địa phương cũng chịu nhiều thiệt hại trong bão, nên nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống chưa được chính quyền địa phương giải quyết kịp thời và có hiệu quả. Đó là việc chậm trễ ghi nhận tình trạng thiệt hại nhà cửa và tài sản của người dân. Đó là việc chậm hỗ trợ lương thực thực phẩm cho nhân dân khi hầu hết gạo dự trữ của từng gia đình đều bị ướt. Đó là việc để tình trạng đầu cơ một số nhu yếu phẩm và nâng giá cao gấp nhiều lần so với trước… Một việc đi thăm hỏi người dân cũng không thực hiện tốt.
Bên cạnh đó, sự thiếu hợp lý trong phân phối các hàng và tiền cứu trợ cũng đã gây ra nhiều phản ứng. Vì khó khăn, ai cũng muốn được giúp trước nhưng hàng cứu trợ thì có hạn, chỉ một số người được giúp; người được giúp trước có khi nhận được hàng hóa ít giá trị hơn người được giúp sau (do các đơn vị cứu trợ khác nhau) làm nhân dân rất bức xúc. Đặc biệt, một số cán bộ địa phương đã không công tâm, minh bạch trong việc phân phối hàng cứu trợ cũng làm bà con thêm ta thán.
Bên cạnh đó, ngay hôm sau ngãy bão, một cơn mưa lớn đã đổ xuống vùng bão, khiến nhiều gia đình không có chỗ trú thân, đồ đạc bị hư hỏng thêm. Trong vài ngày sau bão lại có thêm thông tin về bão số 10 (bão Utor) sẽ đổ bộ vào miền Nam cũng làm người dân hoang mang. Có sống cùng cảnh màn trời chiếu đất với bà con trong cảnh những ngày cuối năm lạnh lẽo mới thấu được cảnh vất vả của bà con vùng bão. Lòng càng thương bà con mình ở miền Trung mỗi năm chịu vài ba cơn bão nhưng vẫn lạc quan, bởi sự chịu đựng thật kiên cường!
3। Nhà thơ Đỗ Phủ (712 – 770), một trong những người góp phần làm phát triển rực rỡ nền thi ca ở nhà Đường (Trung Quốc) từng có tâm sự buồn bã về cảnh nhà bị giông bão làm tốc mái, qua bài Mao ốc vi thu phong sở phá ca (Mái tranh bị gió thu thổi vỡ). Bài thơ không miêu tả quang cảnh một vùng đất nào cụ thể bị giông bão mà chỉ nêu tâm sự của riêng mình khi mái nhà tranh bị hư hại.
Tháng tám mùa thu gió thổi lồng
Tranh mái nhà ta bốc sạch không
Tranh bay rải rác ven sông ấy
Cái mắc cành cao, cái giữa dòng…
Chăn vải lâu năm lạnh như sắt
Con thơ nằm hỗn đạp rách toang
Nhà dột đầu giường đều ướt sũng…
Từ ngày loạn lạc sinh ít ngủ
Mưa đêm dày hạt mãi chưa tan…
Hẳn đó cũng là tâm sự của nhiều người khác cùng cảnh ngộ. Buồn hơn, trong cảnh tượng đó, còn có sự thiếu gắn bó, chia sẻ của cộng đồng:
Xóm nam lũ trẻ khinh già yếu
Nỡ cướp liền tay trước mặt ta
Ôm tranh chúng chạy vội về nhà
Khản tiếng rát hầu đành chịu mất
Quay về vịn gậy thở than hoài…
Nhưng nhà thơ không chỉ thở than hay lo lắng cho riêng hoàn cảnh của mình. Cuối bài thơ, nhà thơ đã nêu lên một mơ ước:
Ước gì có vạn ngôi nhà lớn
Để khắp nhân gian khỏi lạnh lùng.
Từ nỗi niềm riêng tư, nhà thơ đã nghĩ đến hoàn cảnh của muôn vạn người khác. Chỉ mấy câu này thôi, tư tưởng nhân văn và giá trị của bài thơ đã được tôn lên một tầm cao mới.
4। Tôi cũng học người xưa. Ước gì có ngàn ngôi nhà lớn hay vạn ngôi nhà nhỏ nhưng vững chãi để những bà con ở vùng bão, không chỉ ở quê tôi, mà ở khắp đất nước, có được nơi trú chân trong những ngày bão giông lạnh lẽo.
Nhưng có lẽ, cùng với “ngôi nhà mơ ước” ấy, bà con chịu thiên tai còn rất cần những tấm lòng sẻ chia, giúp đỡ của đồng bào trong cả nước và của chính quyền các cấp. Có vậy, sự lạnh lẽo của gió giông sẽ vơi đi bởi sự ấm ấp của tình người!
Tháng 12-2006, sau cơn bão Durian ở một số tỉnh miền Nam

Trúc Giang - con gái tôi


Một kỷ niệm

NHỚ MỘT "ĐÊM HIẾN MÁU"

Mười giờ một đêm cuối năm 2002। Tôi chuẩn bị đi ngủ thì có điện thoại. Bệnh viện Chợ Rẫy đang có mấy ca mổ, cần máu gấp, mời các thành viên của Đội Hiến máu dự bị có cùng nhóm máu đến ngay Trung tâm Hiến máu nhân đạo thành phố để tiếp máu. Tôi vội vã phóng xe đến, lòng hồi hộp không biết mình có đến trễ không... Người nhận máu thì có thể không được phép chờ đợi...
Tôi đến Trung tâm, đèn mở sáng choang. Ngoài cổng cũng có mấy người hối hả dắt xe vào. Tôi nhận ra ngay họ cũng như tôi, là những người đến hiến máu đột xuất.
Khám xong, uống vội ly trà đường, tôi nằm vào giường để cho máu. Đã nhiều lần hiến máu, nhưng đây là lần thứ hai tôi cảm thấy rất vui khi nằm vào chiếc giường trải drap trắng có cô y tá ngồi bên cạnh cầm chiếc kim thật to để rút máu. Lần trước cách đó vài năm, khi tôi hiến máu lần đầu, lúc tôi còn là sinh viên, nhằm đúng vào sinh nhật của người bạn thân nhất của tôi. Ngay buổi trưa hôm đó, tôi viết thư cho bạn tôi ngay để kể lại câu chuyện lần đầu hiến máu và không quên nói rằng: "Tao hiến máu là để chào mừng sinh nhật mày đó!". Vừa viết tôi vừa nghĩ ngay đến nụ cười của thằng bạn khi đọc những dòng thư này. Tôi cảm thấy mình đã làm việc có ý nghĩa lần đầu tiên trong đời!
Đã có "kinh nghiệm", nên tôi cảm thấy rất tự nhiên. Nhìn xung quanh, mấy người khác cũng cười cười nói nói vui vẻ. Tôi để ý thấy một người đàn ông vóc người trung bình, khuôn mặt cương nghị đi lại như con thoi để nhắc người này, động viên người kia. Tôi thầm đoán, chắc là "sếp", chí ít cũng là người trực chính đêm nay, một đêm bình thường của Trung tâm nhưng lại rất quan trọng đến nhiều số phận con người. Một lúc sau, tôi khẽ hỏi cô y tá. Cô nở nụ cười rất tươi bảo: "Bác Mẫm đó!". Tôi "à" lên một tiếng, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, Giám đốc Trung tâm Hiến máu nhân đạo, một con người "khét tiếng" mà tôi từng ngưỡng mộ đây mà! Lòng tôi chợt lại hồi hộp lạ thường.
Lấy máu xong, tôi ấn ngón cái vào vết thương đi đi lại lại rồi sà vào câu chuyện của "bác Mẫm" với mấy người nữa. Tôi nghe đến đoạn một người đàn ông - một kiến trúc sư, nhà ở Gò Vấp - tự nhận mình cũng từng tham gia phong trào học sinh sinh viên ở Sài Gòn những năm trước 1975. Tôi nghe chăm chú. Họ đang ôn lại câu chuyện về một thời tuổi trẻ hào hùng và oanh liệt. Tôi buột miệng hỏi: "Chú Mẫm tham gia vậy chứ có lần nào bị bắt không?" "Có chứ!" Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm trả lời rất nhanh, rồi ông cũng tự giải thích: "Tôi bị bắt 11 lần, có năm bị bắt mấy lần. Tôi bị giam đủ nơi hết, Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bình Tuy, Vũng Tàu, Gò Công, Tân An... Tất nhiên là cũng nếm đủ mùi tra tấn hết. Mà nhằm nhò gì, vì bây giờ tôi vẫn còn mạnh đùng đây!" Mười một lần bị bắt. Đã từng nghe những thủ đoạn tra tấn rất tàn bạo của các nhà tù chế độ cũ, tôi không khỏi rùng mình khi biết đến một người từng mười một lần bị bắt, tất nhiên mười một lần bị tra tấn. Đi tàu bay, lộn mề gà, chích điện, trấn nước... hay đánh bằng chày vồ, ma trắc, dùng kim chích trên mười đầu ngón tay... là những cách dã man nhất mà con người có thể nghĩ ra để hành hạ đồng loại mình. Mà nạn nhân của những trò dã man đó là ai? Là những thanh niên nhiệt tình, hừng hực lửa đấu tranh, dạt dào tình yêu nước, là những sinh viên, học sinh của các trường học ngay tại Sài Gòn. Họ đã làm gì? Thì có phải đâu làm những việc bình thường, họ biểu tình chống chế độ, đốt xe Mỹ, xé cờ Mỹ... Chế độ ấy thì, ôm chân quan thầy Mỹ để duy trì quyền lực trên máu của đồng bào. Còn người Mỹ là những kẻ xâm lược từ bên kia đại dương mang bom đạn giết hại đồng bào ta. Là người có lòng yêu nước, có lương tri hầu như ai cũng đứng lên chống Mỹ và chế độ đó. Huỳnh Tấn Mẫm cũng vậy. Dù biết rằng phải đối mặt với bắt bớ, tù đày, giết chóc...
Tôi nhớ lại một dòng tư liệu. Ngày 10-2-1972, Nguyễn Thái Bình, người thanh niên yêu nước được Mỹ cấp học bổng du học tại xứ cờ hoa, cùng 9 sinh viên khác đã chiếm Văn phòng Tòa Lãnh sự chính quyền Sài Gòn tại thành phố New York, phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn bán nước. Bản tuyên bố gồm 3 nội dung chính, trong đó có nội dung: "Trả tự do tức khắc cho những tù nhân Việt Nam như bà Ngô Bá Thành, ông Huỳnh Tấn Mẫm, ông Lê Văn Nuôi, Linh mục Chân Tín, ông Nguyễn Xuân Lập, ông Vũ Sĩ Hùng và hơn 100.000 tù chính trị khác". Đọc các tư liệu khác, tôi được biết Huỳnh Tấn Mẫm được các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước nói đến rất nhiều về những hành động quả cảm của mình. Con người đó không chỉ là nhà tranh đấu mà còn là bác sĩ, là phó tiến sĩ triết học ở Liên Xô... Con người đó tôi may mắn có dịp trò chuyện trong một đêm hiến máu thật đáng nhớ.
Trước đây tôi cũng từng "bị rủ rê" đi hiến máu. Vài lần tôi đã từ chối. Tôi ngại đau, ngại cây kim to, ngại... mất máu. Giá như có dịp gặp và trò chuyện về những ngày tù đày của Huỳnh Tấn Mẫm sớm hơn, thì tôi đã trở thành người hiến máu sớm hơn rồi. Nghĩ lại thật xấu hổ, có những con người dũng cảm tranh đấu không hề sợ bắt bớ, tra tấn, tù đày, thậm chí cái chết. Còn tôi, tôi lại sợ… cây kim rút máu! Nhưng tôi tự an ủi mình, dù sao, lần hiến máu thứ 10 trong đêm đó đối với tôi thật có ý nghĩa. Tôi ra về mà lòng rộn niềm vui, không chỉ vì tôi đạt được "huy chương bạc", vì tôi đã làm một việc có ích mà còn tôi được gặp bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm! Đó là "đêm hiến máu"!

Ngẫu hứng



Nhân đọc Những người khốn khổ:
NHỮNG BÚP BÊ KHÔNG CHỈ CHO NGÀY 1-6

Những người khốn khổ là tác phẩm lớn nhất và có giá trị nhất trong sự nghiệp văn chương của Victor Hugo. Tác phẩm ca ngợi đạo đức cao cả của nhân dân lao động, ca ngợi tự do dân chủ, chống cường quyền, áp bức, bóc lột. Qua đó, tác giả bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với những con người bị xã hội chà đạp, lòng tin vào tâm hồn cao thượng của họ.
Như chúng ta đã biết, Phăngtin vì lỡ lầm và túng bấn phải gởi con để về quê kiếm việc làm. Nhưng giao đứa con gái yêu quý cho vợ chồng Tênacdiê chẳng khác nào “giao trứng cho ác”. Vợ chồng tên lưu manh này đã dùng mọi thủ đoạn bòn rút nàng đến kiệt sức. Số tiền nàng phải làm lụng vất vả, thậm chí phải bán răng, bán tóc để gởi về nuôi con đều rơi vào túi tham không đáy của tên mất cả tính người này. Lúc đem đi gởi, con nàng “đẹp tựa tiên đồng”, hồng hào khỏe mạnh, ai nhìn cũng thích. Sau một thời gian ở với vợ chồng Tênácdiê, con nàng lâm vào cảnh đọa đầy, khốn khổ. Áo quần đẹp của Côdét bị đem cầm bán hết, nó chỉ được mặc mảnh giẻ rách tả tơi, ăn cơm thừa canh cặn; chưa đầy năm tuổi đã phải làm đầy tớ cho cả nhà. Quanh năm nó bị phạt, bị mắng, bị hành hạ đánh đập tàn nhẫn…
Trong khi đó, cũng ở tuổi thơ như nhau mà hai đứa con bà chủ thì rực rỡ “như tỏa ánh sáng”, chúng vui đùa ầm ĩ như “bà chúa trong nhà”, còn Côdét thì âu sầu, lấm lét, chui rúc dưới gầm bàn. Một bên vui chơi thoải mái, một bên làm việc đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đến khi trời tối, không còn việc gì để sai nữa, chủ cũng không cho nó ở không, bắt phải đan tất cho con bà. Khi chơi thì con của chủ có búp bê xinh đẹp, Côdét chỉ có thanh kiếm quấn giẻ rách. Khi ngủ thì hai đứa kia nằm giường nệm trắng tinh, Côdét nằm trên ổ rơm hôi mốc…
Bé Côdét giờ đây đã lên tám. Một lần, đường xa, đêm lạnh, dù sợ hãi nhưng nó phải một mình vào rừng lấy nước về cho ngựa của khách uống. Vì tất cả ma quái của đêm tối và rừng rậm cũng không sao sánh bằng “con quỉ Tênácdiê” ở nhà! Trong cơn mệt nhọc, khiếp đảm, đứa bé đang hì hục xách thùng nước to tướng bỗng được một ông khách lạ đến tiếp tay. Qua vài câu thăm hỏi, biết được tên tuổi và hoàn cảnh cô bé, ông khách quyết định theo em về quán trọ. Dưới mắt nhìn chăm chú của ông khách, Côdét “gầy và xanh, mắt to, sâu lõm vào, nó khóc lắm nên mắt dại hẳn đi. Hai bên mép có nếp nhăn, dấu hiệu của sự khủng khiếp thường xuyên, hai bàn tay thì nứt nẻ, thân hình gầy guộc”; quần áo thì rách mướp, “hở cả da thịt từng quãng, trông rõ cả những vệt đen, vệt tím do những trận đòn của mụ Tênácdiê để lại”.
Khổ sở là thế, nhưng đêm nay, đêm Giáng sinh, ông khách lạ xuất hiện và đem đến cho cô bé bao điều kì diệu. Đầu tiên là ông đặt tay xách giúp nó thùng nước. Lúc ấy, nó cảm thấy như ông đã đỡ giùm nó một gánh nặng, không phải chỉ gánh nặng ở thùng nước mà cả cái gánh khiếp đảm, sợ hãi trong lòng. Ngay phút đầu gặp gỡ, ông đã là vị ân nhân của nó. “Nó cảm thấy có cái gì giống như niềm hy vọng và nỗi sung sướng được hướng về thượng đế dù chưa ai dạy nó ngước lên nhìn Chúa và cầu nguyện Chúa bao giờ”. Dẫn ông khách lạ về nhà, Côdét tiếp tục hưởng những điều tốt lành mà vị ân nhân ban cho. Ông đã bỏ ra hai mươi xu để đánh đổi lấy trận đòn sắp bổ xuống đầu con bé chỉ vì nó quên mua bánh. Tiếp đó, ông bỏ ra năm franc để mua đôi tất cô bé đang đan, hay nói đúng hơn là mua trận đòn, đổi lấy cuộc chơi cho cô bé.
“Chơi” là một nhu cầu tự nhiên và bình thường của tuổi nhỏ, vậy mà Côdét, một đứa trẻ tám tuổi được cho chơi thì ngạc nhiên đến thảng thốt hỏi bà chủ: “Thưa bà có thật không? Con chơi có được không ạ?”. Thật là một hiện thực chua xót và thương tâm! Câu hỏi như một lời lên án những ai không tạo điều kiện cho trẻ em được vui đùa, giải trí. Chỉ có hiểu và yêu trẻ con sâu sắc mới có thể quan tâm và tạo điều kiện cho con bé được có thời giờ chơi như hành động của ông khách. Nhưng con bé được có thì giờ chơi thì sẽ chơi cái gì? Con bà chủ thì có búp bê thật. “Nó chỉ có búp bê giả”. Đó là thanh gươm nhỏ xíu quấn giẻ rách! Vậy mà con bé cũng bế, cũng nựng nịu, tưng tiu, cũng hát ru với tất cả tâm hồn của mình. Nhưng búp bê giả “đâu bằng búp bê thật”. Thừa dịp không ai để ý, nó cả gan, lén mượn tạm con búp bê thật, trốn xuống gầm bàn mà chơi. Mười lăm phút được nâng niu búp bê thật trên tay là khoảng thời gian hạnh phúc thần tiên đối với cô bé. Tác giả đã tỏ ra am tường tâm lý trẻ thơ khi viết: “Búp bê là một đòi hỏi bức bách của các em bé gái và đó là biểu hiện đáng yêu của nữ tính ở tuổi các em... Một đứa bé gái thiếu búp bê thì cũng khổ sở gần như người đàn bà không con và cũng là chuyện vô lý”.
Nhưng phút giây sung sướng không ở lâu với Côdét, vì thân phận của nó thì không có quyền được hưởng: “Con ăn mày mà dám sờ vào búp bê của trẻ tôi”. Trong xã hội cũ, sự phân chia giai cấp quá rạch ròi, ngay cả trong vấn đề giải trí của trẻ con. Trước cơn phẫn nộ của bà chủ, Côdét không quăng con búp bê ra ngoài, mà hành động như người chị sắp phải xa em. Nó “cầm búp bê khẽ đặt xuống đất, vừa nâng niu quí trọng, vừa ngao ngán trong lòng. Mắt nó vẫn nhìn búp bê, hai tay nó chắp lại, rồi nó vặn tay trông mới thảm chứ! …Qua bao cơn sợ hãi ngày hôm đó, nào là lặn lội trong rừng, nào là xách thùng nước nặng, nào là đánh mất tiền, nào là cái roi da, nào là những lời độc địa của mụ Tanacdiê nói lúc nảy, mà cũng chẳng hề gì, thế mà lúc này nó khóc. Nó khóc nức nở!”.
Tiếng khóc làm tuôn trào những tình cảm ấm ức, những tủi nhục dồn nén bấy lâu. Cuộc sống nó quá thiếu thốn tình cảm, không ai thương yêu, không ai bè bạn. Nó cần có cái gì để chơi hòng bù đắp khoảng trống tình cảm này. Nhưng nhu cầu ấy không được thỏa mãn. Trước có con chó thì con chó đã chết! Nay có thanh gươm nhưng thanh gươm nào có ra gì! Vớ phải con búp bê nâng niu tạm trong ít phút mà bị coi như phạm một tội lỗi ghê gớm, bị tru tréo, chửi mắng, bị bà chủ “thò chân vô gầm bàn mà đạp”. Ôi đau xót quá!
Tiếng khóc của Côdét làm se lòng chúng ta. Bác Hồ từng nói: Trẻ em như búp trên cành; Biết ăn học, biết học hành là ngoan. Vậy mà, trong thực tế có biết bao đứa trẻ như Côdét phải sống một cuộc sống khốn cùng, bất hạnh như vậy?
Chính vì hiểu tâm trạng của con bé mà ông khách đã bỏ tiền ra để Côdét được rảnh rỗi ngồi chơi. Và giờ đây, trước nỗi khốn khổ của con bé, ông đã tìm cách xoa dịu và bù đắp bằng một điều kì diệu khác. Ông đã đem về con búp bê đẹp nhất làng trao cho nó. Cô bé không tưởng tượng nỗi đó là sự thật. Nhiều lần nhìn búp bê qua tủ kính với ánh mắt thèm thuồng, nó đã “lấy cái trí thông minh thơ ngây nhưng đáng buồn của nó để ước lượng cái hố sâu thăm thẳm phân cách nó với con búp bê này”. Nó cho rằng “phải là một bà hoàng hậu hay một nàng công chúa mới mua được cái của ấy”. Giờ đây thì nó có cảm tưởng như có người đột nhiên bảo nó : “Cô bé, cô là hoàng hậu nước Pháp”. “Mặt nó còn ròng ròng nước mắt nhưng hai con mắt đã ngời lên những tia sáng lạ lùng vì sung sướng”. Ông khách nhìn con bé như muốn ứa nước mắt. “Khách cảm động quá không nói vì sợ tiếng nói sẽ bật thành tiếng khóc”. Ông khách đó chính là Giăng Van Giăng.
Tác giả muốn nói: Cho và nhận trong hoàn cảnh này đều được hạnh phúc. Hạnh phúc quý báu này chỉ những người khốn khổ mới cảm nhận một cách đầy đủ hơn ai hết.
Chỉ nói tóm trong đoạn truyện này thôi, ta thấy tác giả đã nêu bật chủ đề của tác phẩm: lòng yêu thương chan chứa những con người bất hạnh trong xã hội, đặc biệt là trẻ thơ. Ngòi bút ấy đã thể hiện nhu cầu hạnh phúc của trẻ, từ thấp đến cao, từ nhu cầu bình thường của tuổi thơ được đáp ứng, đến ước mơ thoát khỏi cuộc sống đọa đầy được thực hiện.
Trong hoàn cảnh ngày nay cũng còn nhiều em bé như Côdét, những em bé thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, đang rất cần có những tấm lòng như ông Giăng Van Giăng, cần có những hoạt động mang tính nhân ái. Chương trình “Nhà Búp bê” là một việc làm có ý nghĩa của ngành giáo dục thành phố cần được hưởng ứng và nhân rộng, không chỉ nhân dịp ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6. Trong đó, việc vận động các thiếu nhi nhường bớt những con búp bê của mình để chia sẻ với những bạn nghèo cũng là một việc làm rất có ý nghĩa. Nó không chỉ có thêm búp bê cho những em bất hạnh, mà còn gợi cho các em hiến tặng suy nghĩ, ấn tượng và cả trách nhiệm về lòng nhân ái, sự chia sẻ, cảm thông đối với những người khác kém may mắn hơn mình.
BÌNH AN

Đây là bài viết của chị tôi, một bà chị làm nghề giáo và hết lòng yêu trẻ. Xin phép chị cho em post bài viết này của chị!
Nguoixudua

Bài thơ ngẫu hứng

NGÀY MỚI
Gửi Moon

Tôi bắt đầu một ngày mới
Khi nghe chuông đồng hồ báo thức
Hối hả dậy
Đánh răng rửa mặt
Cất tiếng gọi “con ơi”
Xốc cô công chúa còn ưa ngủ nướng
Nghe bản tin đầu ngày
Trong lúc thay quần áo cho con
Không kịp hiểu điều gì bên ngoài
Hối hả dắt xe
Đi làm
Không sợ trễ giờ, chỉ sợ kẹt xe!

Nàng bắt đầu một ngày mới
Mở Yahoo! Messenger
Coi có thư ai trong lúc offline
Gửi lời chào vài người bạn
Trong lúc đánh răng rửa mặt
Trong lúc chải đầu, make-up
Tranh thủ lướt web
Đọc vài dòng thời sự
Ghé lại mấy món thời trang
Đi ăn sáng
Không sợ trễ giờ
Chỉ lo có người phải đợi.

Ngày nào tôi cũng vậy
Nàng ngày nào cũng thế
Lúc tôi online thì nàng vừa thức dậy
Gửi nhau câu chào.

Không có gì hấp dẫn
Không có gì sôi động
Thế giới bên ngoài vẫn ồn ào
Người ta vẫn không ngừng mơ mộng.

Tôi ước chi đường xe không ùn tắc
Đi muộn thêm vài phút
Xem kịp bản tin thể thao
Con gái xem kịp đoạn hoạt hình
Vợ tôi kịp nấu gói mì ăn sáng
(nhưng không thể dậy sớm
Đêm qua ngủ muộn lắm rồi
Bài vở viết chưa xong
Thêm những tập phim hấp dẫn)
Ước chi chẳng còn cảnh kẹt xe.

Tôi ước chi có thời giờ mơ mộng
Đi đường thảnh thơi nhìn ngắm
Những tà áo hồng xanh
Không phải chạy xe bạt mạng
Không phải lo va quẹt dọc đường
Không phải nhịn đói đến cơ quan
Còn kịp gửi thư cho nàng lúc offline
Vẫn một câu: “Chàng buổi sáo!”

Ôi, mơ mộng, tôi vẫn mơ mộng
Dù đôi lúc tôi không biết mình đang mơ mộng!
7g30 ngày 24-10-2007

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2007

Truyện ngắn: MÓN QUÀ NỘI TRỢ

MÓN QUÀ NỘI TRỢ
Truyện ngắn

Anh chị cùng làm nhà nước. Nhà xa, sáng đi, chiều mới về. Các con gửi cùng trường bán trú, chiều tự về bằng xe buýt. Ở cơ quan, có việc cần lắm mới điện, nhắn nhe ít câu rồi thôi, không một lời âu yếm, đến đỗi mỗi khi nghe anh nói chuyện điện thoại thì đám đồng nghiệp trẻ của anh hỏi: "Lão phu nhân hả anh?". Lần đầu anh ngạc nhiên vì làm sao bọn họ biết, anh bèn hỏi, thế là cả đám cười, làm anh đâm ngượng. Đến khi anh em chỉ cho anh nghe lóm cuộc nói chuyện của một đồng nghiệp thì anh vỡ lẽ ngay. Hóa ra, đàn ông ai cũng như ai, nói chuyện với phụ nữ (trừ vợ), nhất là các chị em chưa chồng thì ngọt xơn xớt, còn với vợ thì cứ cộc lốc, khô khốc, meo mốc! Anh nghiệm lại thì quả vợ anh cũng thế. Chị nói với anh cũng vậy thôi. Mà các bà xã khác cũng vậy. Dường như ai cũng cảm thấy mắc cỡ nếu nghe hoặc nói những lời âu yếm, ngọt ngào mà nhiều người cho rằng "đó là việc của bọn trẻ"!
Tất nhiên chẳng phải anh chị đã cạn tình cảm. Ngược lại là đằng khác. Hai người yêu nhau suốt sáu năm trời mới làm đám cưới. Họ trải qua thời gian trăng mật kéo dài suốt nhiều năm và kết quả là hai đứa trẻ một trai một gái khôi ngô đẹp đẽ lần lượt chào đời. Đó là lúc hai người còn làm chung, tuy hơi khó khăn như họ sống đầm ấm, hạnh phúc. Chiều chiều, anh đèo chị trên chiếc xe đạp cũ cọc cạch mang theo suốt thời đi học đi dạo quanh các phố, thỉnh thoảng ghé lại các quán chè ở lề đường để ôn lại thời còn yêu nhau. Rồi anh chuyển chỗ làm, cuộc sống kinh tế có khá hơn nhưng thời gian gặp nhau ít dần đi, tỉ lệ nghịch với cường độ làm việc và cả với tuổi tác. Công việc bận bịu làm anh hơi cáu gắt. Lúc đầu chị còn ngọt ngào nhưng chẳng ăn thua gì. Hình như về khoản này đàn ông hơi vô lý, công việc thì ai cũng bận nhưng làm đàn ông thì trút giận vào vợ, liệu có mấy người vợ nào dám làm thế với chồng mình? Cuối cùng thì chị im lặng luôn để anh mặc nói gì thì nói, nhằn gì thì nhằn. Riết chán, họ chẳng thèm cãi với nhau nữa. Tuy chưa phải đến độ "chiến tranh lạnh" nhưng những lời dịu dàng âu yếm dành cho nhau ngày một hiếm hoi. Những từ "cưng ơi", "em này", "ông xã ơi"… dần dần được thay bằng "ba nó", "má nó". Thậm chí "anh", "em" cũng nhường chỗ cho "ông", "bà", "tui"… cứ như là ông bà nội của sắp trẻ… Tuy vậy, có những đêm, anh vì lo nghĩ công việc mà không ngủ được, chị thức giấc nhỏ nhẹ kể những chuyện vui ở cơ quan để anh tạm quên sự căng thẳng. Bàn tay chị vẫn còn "ấm" lắm!
Anh thì lâu lâu mới có một bữa ăn tối với vợ con. Bữa sáng và bữa trưa thì mạnh ai nấy ăn, vơ vất đâu đó. Tụi trẻ thì ăn ở trường. Tối về cũng không phải dành cho nhau hoàn toàn. Bữa cơm tối có khi chỉ có anh hoặc có chị với các con, khi thì người này tăng ca, khi thì người kia bận họp. Sau bữa ăn, những hôm có chương trình bóng đá, anh lên lầu xem với thằng con trai; chị ở dưới nhà xem phim hoặc ca nhạc với con gái. Ngày nghỉ, mấy đứa trẻ hết đi học thêm rồi theo bạn đi chơi, còn anh chị thì cũng người nào việc ấy, ít khi cả gia đình đoàn tụ đầy đủ vui vẻ.
Hôm nay, anh nhớ là kỷ niệm ngày hai người quen nhau, đã gần hai chục năm rồi. Anh về sớm một chút, thôi không ra quán la cà với bè bạn. Trong đầu anh đấy ắp những lời khuyên về cách "làm ấm" lại gia đình trong trang nghệ thuật sống của một tạp chí mà anh tình cờ đọc ban sáng. Anh tự nghĩ, đã đến lúc cần tạo lại không khí đầm ấm trong nhà, thay gì cứ lạnh nhạt với nhau mãi. Vì vậy, anh muốn tự tay làm một bữa tối sum họp gia đình, như là một món quà mừng ngày anh chị bắt gặp "tiếng sét". Anh nhớ lắm cái ngày ấy, cái ngày mà kẹt xe, hai người gặp nhau ở một ngã tư.
Tình cờ gặp giữa ngã tư
Vì kẹt xe, nên bây giờ nhớ nhau!
Tiếng sét nổ ra từ đó. Anh chị học khác trường nhưng hay về chung một đường. Khi quen nhau rồi, họ mới phát hiện là phòng trọ của hai người chỉ cách mấy dãy nhà thôi. Chỗ anh trọ nhìn ra một bãi rau muống xanh tốt ven bờ kinh. Dạo ấy nước kênh còn chưa đen và nhà cửa thì cũng chưa nhiều lắm nên mới có một bãi rau xanh tốt gần trung tâm thành phố mà chẳng ai buồn hái bán. Chiều chiều, anh hay xung phong leo rào sang đó hái mớ rau về nấu canh, luộc, xào hoặc bóp gỏi. Thế nào anh cũng dành cho chị chỗ tươi ngon nhất. Thậm chí có hôm anh còn tự tay làm bếp cho chị nữa. Còn ở nhà, các bạn cùng phòng nhất loạt bầu anh làm "anh nuôi" rồi!
Kể ra thì anh cũng biết làm bếp, dù chưa là đầu bếp. Lần này vừa chuẩn bị, anh vừa mỉm cười. Cũng tạp dề, cũng dao thớt, cũng hành tỏi, bắt chước chàng đầu bếp Martin Yan trong chương trình "Yan can cook", anh "ôn lại" những "thao tác" nấu nướng" thời sinh viên làm vài món thật đặc biệt. Thật ra thì hồi ấy làm gì có món này món nọ, bữa nào cũng canh rau muống hoặc canh cà với món mặn là cá nục kho, trứng chiên hoặc thịt ba rọi ram mặn. Nghĩ đến đó, anh lại cười thầm, thấy đời đã thay đổi nhiều quá. Giờ thì thịt cá rau cải anh đã chuẩn bị sẵn, từ hôm qua anh đã "nghía" qua, món nào còn trong tủ lạnh thì thôi, thiếu thì anh đã mua lúc đi làm về. Anh xắt xắt, bằm bằm, xào xào, nướng nướng. Mồ hôi dầm dề, giờ anh mới thấy cái cực của người làm bếp, nhưng anh cảm thấy thật vui vì đinh ninh rằng một lát nữa đây, vợ và các con về sẽ ngạc nhiên ra trò về tài nấu bếp của chồng và ba. Một viễn cảnh gia đình quây quần bên bữa ăn cùng chuyện trò vui vẻ, vợ chồng nói với nhau những câu bông đùa, các con tíu tít kể những chuyện ở trường học của chúng… và anh không còn cảm thấy mệt mỏi mà thực sự hạnh phúc.
Rồi chị cũng về tới. Anh liền phụ một tay dắt xe, nở nụ cười rất tươi: "Hôm nay em khỏi phải làm bếp, anh đã làm sẵn bữa tối rồi, chờ các con về chúng ta cùng thưởng thức". Chị gieo người xuống ghế vẻ hoài nghi: "Anh mà làm bếp à? Chắc hôm nay trời bão lụt mất! Chứ không phải mọi khi anh ngồi coi ti vi, đọc báo để em vừa nấu vừa giặt đồ đó sao?" Anh hơi nóng mặt nhưng nghĩ cũng đúng vì hình từ hồi cưới nhau anh hầu như quên bén chuyện làm bếp, bởi vậy anh cố nén: "Thì anh bận nên mệt quá. Lần này anh làm thiệt chứ bộ. Em quên hồi thời sinh viên anh là một đầu bếp có tiếng à? Chứ không phải hồi đó có người năn nỉ người ta nấu ăn hoài đó sao?" Chị không nói gì, hình như hơi thẹn thuồng một chút, nhưng rồi lặng lẽ xuống bếp nhòm nhòm, hít hít rồi đi trở lên, lại vẫn không nói gì rồi bỏ đi thay quần áo. Anh chờ đợi một câu nói động viên của chị. Nhưng không, anh mười phần hăm hở ban đầu giờ đã thất vọng bảy tám. Anh tự hỏi tại sao lòng người lại nguội lạnh như thế?
Nửa tiếng sau, hai đứa trẻ về. Chúng vào nhà lặng lẽ như lúc ra đi vậy, sau mấy tiếng thưa lí nhí. Anh cố gắng hâm nóng bầu không khí bằng một câu bông đùa: "Hôm nay các con sẽ được thưởng thức tài nghề của Martin Yan tại nhà này!" Đứa con gái nhìn anh không chớp mắt: "Ba cũng biết nấu ăn nữa hả ba?" Thằng con trai thì thậm chí còn ngạc nhiên hơn: "Ba nấu hay ba ra quán mua về?" Anh trả lời hơn lúng túng: "Con không nghe Yan nói "Yan có thể nấu ăn, các bạn cũng có thể nấu ăn" à? Nói cho các con biết, ba là một đầu bếp có tên tuổi thời sinh viên mà mẹ con mê lắm đó". Tụi trẻ nghe đến đó dường như rất lạ vì lâu nay anh có bao giờ làm bếp đâu, thậm chí anh cũng chẳng vào bếp phụ với chị tí nào cả, rồi chúng bỏ đi không nói gì nữa làm anh cụt hứng. Anh chợt nghĩ, biết đâu chúng đang nghĩ rằng anh đang chơi trò nói dối trong ngày Cá, dù bây giờ mới tháng ba thôi. Anh bèn gọi với theo: "Các con nhanh lên ăn cơm nhé! Ba sắp dọn ra đây!"
Sáu giờ rưỡi, anh tháo tạp dề cùng mọi người ngồi vào bàn ăn. Chị gắp đũa đầu tiên đã nhăn mặt: "Hơi mặn. Mà anh để lửa lớn quá làm thịt chín áp không ngon". Anh chống chế: "Thì khỏi phải chấm". "Còn canh sao anh không dùng hạt nêm?" Anh giật mình, thì ra anh có biết đâu! Tới phiên đứa con gái: "Món này cay quá ba ơi!" Anh giờ thì hơi đỏ mặt như chính anh đang bị cay vậy: "Ừ, ba xin lỗi đã lỡ tay bỏ nhiều ớt". Thằng con trai cũng tham gia góp ý kiến: "Ba bỏ hành nhiều quá, con là con chúa ghét hành…" Nó lầu bầu cứ như thể là đang mắng mỏ anh vậy. Anh cố dịu dàng: "Hành đâu, để ba ăn hết cho!" Tự nhiên anh thấy nghèn nghẹn trong cổ. Một nỗi buồn tràn ngập trong lòng sắp đông kết lại thành hai giọt nước mắt. Chị bỗng lên tiếng: "Ba tụi bây lâu lâu nấu một bữa mà bay khen chê nhiều quá, ổng tự ái hổng thèm làm mai mốt lại đổ lên đầu tao nữa!". Câu nói này làm anh như quỵ hẳn, nhưng anh vẫn cố gắng ngồi ăn như không có điều gì nghiêm trọng lắm. Anh vừa bới chén thứ hai thì chị bỏ đũa xuống, nói trỏng: "Hôm nay không đói!". Nửa phút sau, đứa con trai theo mẹ nó rời khỏi bàn. Đứa con gái cũng theo anh nó. Bao hăm hở ban đầu giờ tan biến cả. Anh còn trơ lại một mình, bất giác cũng bỏ chén đũa đánh rổn xuống sàn nhà, lặng lẽ mặc vội chiếc quần dài, dắt xe bước ra khỏi nhà đi mất.
Phố lên đèn tấp nập. Nhìn nhìn cặp uyên ương đèo nhau đi chơi, anh bất giác mỉm cười: "Rồi vài năm nữa biết đâu chúng nó lại giống mình!" Anh muốn ghé quán làm vài chai bia nhưng lại thôi. Anh ít khi mượn cớ giận mà hành động thiếu suy nghĩ. Giờ ngồi giữa công viên, nhìn phố xá xuôi ngược, anh chợt nhớ câu chuyện chú bé chăn cừu nói dối để sói chén mất cừu nhà. "Thì ra chắc mọi người nghĩ mình như thế. Cũng tại mình cả thôi".
Anh lẩm bẩm một mình rồi quay xe về। Anh chợt thấy lòng vui hẳn lên, nhất là khi mua xong mấy thức ăn nhanh. Về đến nhà, vừa dắt xe vào, anh đã nghe hai đứa nhỏ đang nhè nhè mẹ nó: "Kiếm cái gì ăn đi mẹ, con đói quá!" Anh liền giơ túi thức ăn lên khoe: "Ăn cái này được hôn?" Lũ trẻ tròn mắt nhìn. Vợ anh cũng vậy. Nhưng hình như mắt chị ươn ướt.
Năm 2001

Truyện ngắn: Tên bán mèo

TÊN BÁN MÈO

Sáng, hắn ngồi ngã lưng trên ghế vừa lim dim nghe giọng não nuột của chàng ca sĩ hải ngoại Jimmy Nguyễn đang rên rĩ vừa nghĩ đến cách nào xoay để có tiền xài. Hình như hắn đã hăm lăm hăm sáu tuổi rồi nhưng cũng hình như việc làm luôn chê hắn. Bởi vì đối với hắn, thời gian đã trở nên vô nghĩa. Tuổi tác cũng chẳng làm hắn bận tâm. Đã mấy bận có người quen giới thiệu việc này việc nọ nhưng hắn cảm thấy công việc thật chán: cái thì phải tốn công tốn sức, cái thì phải tỉ mà tỉ mỉ, cái thì cứ lặp đi lặp lại khiến hắn như một cái máy, cái thì bắt hắn cứ chạy như con choi choi... Thế là tại công việc không hợp và không dung hắn chứ không phải hắn lười nhác đấy nhé! Vậy là hắn ngày ngày ở nhà. Làm gì cũng được. Chơi gì cũng được. Chẳng làm gì cũng được. Cơm ngày ba bữa thì chẳng phải lo. Quần áo thì chẳng có gì phải cầu kì, mặc gì cũng được. Nhưng còn tiền thuốc lá, cà phê và thỉnh thoảng ra tiệm "chát"..., lấy ở đâu? Hắn vốn chẳng chơi bời gì nhiều, chỉ bấy nhiêu thôi, chứ chẳng bao giờ nhậu nhẹt, gái gú hay “hàng trắng” gì. Nói rằng hắn rất ngoan cũng không ngoa. Thanh niên gương mẫu bây giờ cũng vậy thôi chứ đứa nào hơn nữa. Hắn vừa nghĩ vừa cười nhạt. Mà chẳng lẽ ngửa tay xin "bà già" hoài cũng kỳ. Mà tiền hồi tết ông cậu ở Mỹ về cho trăm đô nay xài sắp hết. Phải nhín thôi. Còn hơn vé (vé nhỏ thôi), phải dùng đó làm vốn chứ!
Hắn đã có kế hoạch. Phải gạ mấy thằng nhóc trong xóm chơi bài mới được. Bài gì cũng chơi. Xì dzách, tiến lên, xập xám... ngón gì hắn cũng thạo. Còn bài cào thì hắn là một cây sắp bài. Mười cây thì có hết sáu cây tám nút, hai cây chín nút, còn hai cây ra gì cũng được để khỏi ai nghi. Chẳng cần chơi nhiều, mỗi ván năm trăm, một ngàn cũng được. Tích tiểu thành đại. Xóm này con nít nhiều, chắc kiếm ăn được. Hắn nghĩ đến đó thì mỉm cười một mình đắc ý. Mình chẳng nghĩ thì thôi chứ đã nghĩ thì chuyện gì chẳng ra! Bởi vậy cái gã nhà báo hàng xóm chơi cờ tướng cũng cứng mà thiếu thông minh nên mình muốn ăn mấy ván thì ăn... À, nhắc đến cờ tướng thì khu này hắn vô địch thật, hắn đã từng đoạt giải khuyến khích cấp quận nhưng hắn nghĩ theo nghiệp này thì nhức đầu quá, nên dù có một kiện tướng quốc gia định giúp đỡ, rèn luyện cho, hắn vẫn từ chối. Tự do là số một.
Chợt có cái gì đó nhồn nhột dưới chân cắt ngang dòng suy nghĩ của hắn. Đang nghe bài cô gái mắt nai, hắn ngỡ như có một con nai nhỏ đang cọ vào cái chân gầy khẳng khiu của hắn. Hắn lại mỉm cười (hắn vốn rất hay cười mà!) nhìn xuống. Thì ra một con mèo, mèo tam thể hẳn hoi. Đẹp tuyệt vời, ba màu lông trắng đen vàng óng mượt như gội dầu Sunsilk colour mà không lấp được cái mũi hồng hồng. Hắn vốn không thích mèo nhưng bất chợt cũng thấy ưa ưa nên cúi xuống luồn tay vào cái bụng mềm dịu của con mèo nhỏ rồi bồng nó đặt lên đùi. Con mèo oằn mình sung sướng, tưởng như lâu lắm rồi nó chưa được ai nựng nịu vuốt ve, hoặc đã đến giờ được nâng niu vậy. Nó gừ... gừ... sung sướng khiến hắn cũng cảm thấy vui vui. Một cái gì đó lâng lâng trong người hắn, một cảm giác, một nhu cầu được yêu thương và ban phát tình thương bỗng dâng lên trong lòng hắn. Hắn vuốt nhè nhẹ trên sống lưng con mèo lạ và tận hưởng những khoảnh khắc khoan thai, sung sướng. Thì ra nuôi mèo để âu yếm, vuốt ve nó cũng thích thật. Hèn nào có lắm người nuôi mèo. Nghe đâu nuôi mèo còn là một liệu pháp tâm lý trị bệnh trầm uất và chống stress rất hiệu quả. Hắn chợt nhớ đến "chợ mèo" trên cầu Kiệu. Không biết ngày xưa có ai hay dùng kiệu đi qua lại vùng này hoặc nơi này có nhiều kiệu lắm mà có tên như thế. Nhưng bây giờ cầu Kiệu là nơi nổi tiếng bán nhiều chó và mèo, đủ các loại, lớn nhỏ, đẹp xấu, mập ốm... kể cả muốn mua về nuôi hay làm thịt cũng được. Mỗi lần đi ngang cầu Kiệu, hắn thấy người ta dừng xe ngay trên lòng cầu để lựa lựa chọn chọn, xăm soi từng con mèo chú cún được nhốt trong các lồng nhỏ hoặc cột dây thẳng vào thành cầu. Coi bộ đắt lắm.
Có người mua, kẻ bán hẳn phải có nguồn "hàng" chứ. Óc hắn bỗng sáng ra. Tự nhiên có con mèo vô duyên ở đâu dẫn xác đến đây, vậy cứ mang bán thử xem sao, may mà làm ăn được đấy chứ chẳng chơi. Hắn lại cười. Nghĩ là làm, hắn đặt con mèo xuống chân rồi kêu tính tiền. Cô gái phục vụ mặc chiếc áo pull ngắn trễ ngực mỡ màng hơi cúi thấp người như mời gọi, tươi cười nói với hắn:
-Anh hôm nay sao về sớm vậy? Mới chín giờ hơn mà?
Hắn nhìn nụ cười ỡm ờ của cô gái rồi nhìn nhanh xuống đôi bồng đảo nói bâng quơ:
-Thì ngồi đây riết cũng chán. Kiếm cái gì đó khác hơn chơi chứ?
-Vậy em có giúp gì được không?
-Thôi để bữa khác, nếu cần anh... ôkê liền. Bái bai...
Nói rồi nhưng hắn không đứng lên ngay. Hắn chờ cô gái liếc mắt đưa tình xong rồi bỏ đi mới lẳng lặng ôm con mèo giấu trong vạt áo cố làm ra vẻ tự nhiên ra khỏi quán. Hắn luôn cẩn thận mà, lỡ đây là con mèo của chủ quán thì mất công lắm, cứ thế này cho chắc ăn. Đánh bài cũng vậy, hắn ít khi liều ăn lớn mà có thể bị phản đòn, thà ăn ít mà chắc. Hắn vẫn tự hào về cái sự tính toán chi li có trước có sau của mình.
Ra khỏi quán một lúc, hắn mới đưa con mèo ra ngoài và bế nó trên tay như thể người ta đang đi dạo vậy, dù lúc này nắng đã lên cao, choi chói, găn gắt. Chẳng hề gì, hắn vẫn đi lang thang như thế để kiếm độ đánh bài, đánh cờ, hay chơi cá ngựa mà chẳng ngại gì nắng noi cả. Cũng chẳng cần đội nón. Hắn đi rong rong dọc theo bờ kè của kinh Nhiêu Lộc. Nước vừa ròng. Gió còn mát rượi. Thật khoan khoái. Hắn hít thật sâu vào cái lồng ngực lép kẹp trơ bao nhiêu cái xương sườn để nạp một luồng không khí trong lành cho bõ cái ngột ngạt trong khu lao động chật chội, đông đúc lúc nào cũng ồn ào.
Đến nơi rồi. Hắn đưa con mèo cho một mụ béo đang ngồi ngồm nhoàm nhai gỏi cuốn. Mép mụ còn dính tương chấm. Mụ ta chắc ngồi nhiều nên người nung núc thịt, so với hắn cứ như là gã Goliath với chàng David vậy và chắc mụ ngồi suốt ngày ngoài nắng nên da đen bóng. Mụ ta bỏ cuốn gỏi đang ăn dở vồ lấy con mèo lật ngửa lên soi mói rồi bóp lấy bóp để, làm con mèo nhỏ tội nghiệp kêu "ngoao ngoao" thảm thiết, đoạn phán:
-Năm đồng.
Hắn giật mình: rẻ vậy sao? Hắn gãi đầu. Rõ ràng là hắn không biết giá. Mụ mua mèo thoáng nhìn là có thể biết ngay đây là cái gã ăn cắp mèo, không của nhà thì cũng của hàng xóm. Làm nghề này, hẳn nhiên mụ rất cáo. Mụ không đợi hắn trả lời, tỏ vẻ bất cần:
-Được hôn? Không thì kiếm chỗ khác cao giá hơn mà bán. Ai ép giá mà bày đặt.
Nói rồi mụ trả con mèo lại. Hắn đỡ lấy con mèo cất một bước về phía một ả ngồi bán bên cạnh. Nhưng hắn đứng lại ngay. Bán cho con gái còn dễ bị ép giá hơn. Thôi kệ. Hắn lùi lại, cười méo xệch:
-Thôi được. Chơi luôn.
Mụ mua mèo thấy hắn cất bước đi mới cầm khúc gỏi cuốn vừa ăn dở ban nãy lên ăn tiếp thì nghe hắn nói đành bỏ khúc gỏi xuống lại. Mụ đỡ con mèo rồi mở cái lồng bỏ con vật tội nghiệp vào đó. Đoạn, mụ ta lấy chén cơm cho mèo ăn nhón ngón trỏ ngoái ngoái trộn cơm lên để mời "vị khách" mới. Con mèo chẳng còn lòng dạ nào là ăn nữa, nó cứ kêu "meo meo" thật cảm động. Mụ lôi trong cái quần rộng thùng thình ra một cái túi vải và lấy tờ mười ngàn đưa cho hắn. Gã bán mèo lắc đầu. Mụ mua mèo cất giọng gọi:
-Gái, mày đổi cho mẹ mười ngàn coi!
Một đứa con gái chừng mười sáu tuổi cũng đen như mẹ nó đang lăng xăng với mấy con chó đang rên rỉ vội cầm tiền chạy về phía chiếc xe bán gỏi cuốn đang dựng dưới lòng cầu. Nửa phút sau, nó cầm hai tờ năm ngàn lại đưa cho mẹ. Mụ ta đưa cho hắn một tờ, tờ còn lại mụ nhét vội vào cái túi giấu trong quần. Hắn cầm lấy tiền, còn tần ngần đứng xem mấy người vừa dừng xe lại định mua. Hắn nghe nói con nào cũng có giá hai chục ngàn trở lên. Hắn ức lắm. Nhưng thôi kệ. Năm ngàn cũng được hai ly cà phê. Có còn hơn không. Hắn quay lưng đi. Chẳng hiểu sao hắn còn quay lại nhìn. Mụ mua mèo vừa ngốn nửa khúc gỏi vừa bắt con mèo tam thể vừa mua đưa cho một cô gái đi xe Spacy xem. Hắn quay mặt đi thẳng. Và lại cười.
Từ hôm đó hắn có một nghề kiếm tiền mới: bán mèo. Đừng nói hắn ăn trộm. Hắn chỉ lén lén bắt mèo... hoang thôi! Mỗi khi đi chơi các nhà trong xóm, hắn luôn để ý xem nhà có mèo không. Nếu có, hắn luôn lân la "làm quen" với con mèo đó, rồi dò xem con mèo này thích ăn món gì để khi có cơ hội mà dùng món ấy dụ bắt. Dẫu sao thì bán mèo cũng không phải là cách kiếm tiền chính. Vì suốt một tháng sau đó, hắn chỉ bán được có sáu con thôi, bán được chưa tới năm chục bạc. Có lúc ngẫm lại, hắn chậc:
-Kệ, có hơn không, “chát” cũng được mười mấy tiếng.
Hôm đó, hắn phát hiện một con mèo lông trắng muốt, chỉ có chút đen trên đầu mà thôi. Con mèo đẹp cực kỳ. Chủ nhân nó là một đứa con gái mười lăm tuổi, học lớp mười, vẫn thường nhờ hắn chỉ mấy bài đại số. Con bé quý hắn lắm. Với trình độ tú tài ưu cộng với trí thông minh thiên bẩm tuyệt vời thì mấy bài toán lớp mười chẳng ăn thua gì hắn. Có lúc hắn gật gù: chỉ số IQ của mình nếu có đo chắc cũng phải trăm ba trăm tư, ăn đứt cái thằng cha Bụi cây Bush hiếu chiến chỉ có chín mươi mấy!
Sau khi tìm được cơ hội thích hợp, hắn ra tay. Nhưng rủi cho hắn, con mèo này dữ quá. Vừa bị thộp cổ, nó đã tợp cho hắn mấy vết răng vào ngón tay trỏ và giương vuốt cào mấy dấu trên mu bàn tay. Cũng bởi hắn bất cẩn. Cũng bởi sự tự phụ thông minh hại hắn. Nếu nắm đằng gáy con mèo thì đâu đến nỗi. Hắn đinh ninh con mèo này không dữ như thế vì mọi khi hắn vẫn vuốt ve nó mà. Con mèo tự vệ quyết liệt và giằng ra chạy mất. Tay hắn nhiều chỗ rướm máu. Cũng may cho hắn là chẳng có ai trông thấy, nếu không thì lộ tẩy cả rồi. Mà không, phải nói là rủi cho hắn. Nếu có ai thấy thì thế nào hắn cũng kiếm cớ đòi tiền đi chích ngừa được. Còn đằng này, chẳng ai biết, chẳng lẽ đi nói, thế thì chẳng khác nào "lạy ông tôi ở bụi này". Vì vậy, hắn đành câm lặng. Đến chiều thấy bàn tay và cả ngón tay sưng sưng, hắn hoảng quá mới vội đi Viện Pasteur chích ngừa phòng bệnh dại.
Vào khám và chích rất nhanh. Khi ra bãi giữ xe, hắn cầm hóa đơn tần ngần tính. Chích sáu mũi, tám ngàn một mũi, khám ba ngàn nữa. Sáu lần gửi xe là mười hai ngàn. Tổng cộng sáu mươi ba ngàn. Tính hết thảy, lỗ mười mấy ngàn. Hắn lầu bầu:
-Mẹ nó, bắt không được mà phải tốn tiền đi chích. Chơi món này lỗ sặc gạch. Phải tìm ngón khác thôi.
Hắn ra về, mấy bận nhìn thấy mèo chạy qua chạy lại trước mặt। Mấy lần hắn suýt đâm vào xe người khác. Toan chửi thì đã nghe người ta mắng té tát. Hắn lặng im và chỉ nhếch mép cười.
(*) Truyện ngắn này đã đăng trên Báo Giáo dục TP.HCM tháng 3-2004.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2007

Dã quỳ

Dã quỳ
Phân loại khoa học
Giới (regnum):
Plantae
Ngành (divisio):
Magnoliophyta
Lớp (class):
Magnoliopsida
Bộ (ordo):
Asterales
Họ (familia):
Asteraceae
Chi (genus):
Tithonia
Loài (species):
T. diversifolia
Tên hai phần
Tithonia diversifolia(Hemsl.) A. Gray

Dã quỳ, sơn quỳ, quỳ dại, hướng dương dại, hướng dương Mexico, cúc Nitobe (danh pháp khoa học: Tithonia diversifolia) là một loài thực vật trong họ Cúc (Asteraceae), hiện nay phân bổ rộng khắp trong các khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới, chẳng hạn như Trung Mỹ, Đông Nam Áchâu Phi. Phụ thuộc vào khu vực, nó có thể là cây một năm hay cây lâu năm, dạng cây bụi cao tới 2-3 m với thân cây mọc thẳng và đôi khi hóa gỗ. Hoa màu vàng cam. Nói chung người ta công nhận rằng nó ở một giai đoạn nào đó là cây bản địa của khu vực Trung Mỹ hoặc Mexico, vì thế mà có tên gọi hướng dương Mexico.
Biểu tượng và sử dụng
· Tại
Nhật Bản, vào cuối thời kỳ Minh Trị, loài cây này được nhập khẩu như là cây cảnh mặc dù nó đã từng được trồng tại đây, dù rất ít. Có vị đắng đặc trưng, nó được sử dụng để gây sốt nhằm chống lại ngộ độc, mặc dù không được sử dụng cho các mục đích y học trực tiếp. Người ta cho rằng loài này được Nitobe Inazo đưa vào NHật Bản, vì thế mà có tên gọi trong tiếng Nhật là cúc Nitobe (Nitobegiku).
· Tại Mexico, nó được sử dụng để chữa
bong gân, gãy xương, các vết thâm tím và các vết giập.
· Tại miền nam
Trung Quốc nó được sử dụng để chữa trị một số bệnh đường da (như bệnh nấm bàn chân), ra mồ hôi trộm ban đêm, cũng như trong vai trò của thuốc lợi tiểu, thuốc nhuận gan, thuốc chữa bệnh vàng daviêm bàng quang.
· Dã quỳ được bán tại thị trường thuốc thảo mộc ở
Đài Loan như một loại trà để cải thiện chức năng gan.
· Nó là biểu tượng của
tỉnh Mae Hong Son, Thái Lan.
· Tại
Việt Nam, dã quỳ đã được người Pháp đưa vào các đồn điềnLâm Đồng. Nó được trồng khi đó để làm phân xanh cho các vườn cà phê, cao su. Thân dã quỳ chứa nhiều chất P, Ca, Mg nên làm phân hữu cơ khá tốt. Nhờ hạt dễ phát tán, cây dễ trồng nhờ giâm cành nên loài cây này dần dà chiếm lĩnh các nơi hoang dại từ Bảo Lộc đến Đà Lạt. Tên dã quỳ xuất hiện trên văn chương từ thập niên 1970, trước đó người ta gọi nó là sơn quỳ. Dã quỳ cũng đã được sử dụng làm biểu tượng chính cho lễ hội hoa Đà Lạt tháng 12 năm 2005.
Theo wikipedia

Con chó phản chủ

CON CHÓ PHẢN CHỦ
Truyện ngắn

1.
Bữa đó, ba tôi đang long dưới dòng kinh trước nhà để lùa bầy vịt đẻ. Đám vịt này trở chứng, đang ăn trên ruộng bỗng dưng rủ nhau xuống kinh, đòi qua bên kia bờ. Nước đang ròng nên chảy khá xiết. Ba tôi là một tay bơi rất giỏi, nhưng lần này là một tai nạn. Đang lội giữa kinh, đôi tay ông bỗng bị vọp bẻ, đó là một căn bịnh mà chữa nhiều tháng rồi chưa khỏi, nhất là khi dầm mình lâu dưới nước lạnh. Lúc mới bị, ông đã gọi tôi, nhưng bầy vịt ồn ào dưới kinh đã át tiếng kêu của ông. Bởi vậy, ông vừa kêu vừa tự xoay sở. Phía dưới một chút là họng đáy của nhà chăng giữa dòng kinh, sẵn sàng nuốt chửng vật gì trôi vào đó.
May thay, trên bờ lúc đó có con Phèn. Nó là con chó tơ mới chưa đầy hai năm tuổi. Thấy chủ bị nguy khốn, nó sủa gào lên. Tôi đang ở trong nhà nghe tiếng kêu thảm thiết của nó liền chạy ra. Theo một phản xạ có điều kiện, tôi quay ngược vô nhà chụp cái can nhựa hai chục lít để sẵn. Tôi quăng cái can xuống nước, ba tôi dùng hết sức ở các cơ vai để đu được cái can nhựa. Tôi nhảy ùm xuống nước lôi dần cái can vào bờ, khi chỉ cách họng đáy chừng vài thước. Dưới kinh, bầy vịt chạy loạn xị, kêu ầm ĩ cả lên. Trên bờ, con Phèn mừng rối rít, nó kêu lên những tiếng kêu kì lạ.
Sau lần đó, Phèn trở thành “anh hùng” trong gia đình. Nó mặc nhiên vượt qua những con chó già khác để được ưu tiên ăn những thức ăn thừa tốt nhất, được ưu tiên nựng nịu, đùa giỡn. Bởi vậy, nó lớn nhanh như thổi. Bộ lông vàng của nó cứ luôn óng mượt. Tấm thân của nó cứ tròn lẳn, chắc nịch. Hai đôi chân thì nhanh nhẹn phải biết. Tiếng sủa thì ngày càng khỏe, càng vang...
2.
Sau tai nạn đó, ba tôi biết đã qua rồi cái thời vẫy vùng trên sông nước. Ông không thể lặn sâu dưới nước để tìm bắt cho được những con cua kình mu bám đầy rêu xanh. Ông cũng không thể ăn dầm với họng đáy mỗi năm vào mùa nước rong đổ tôm cá cho đôi gánh của mẹ tôi trĩu nặng. Ông cũng không thể tiếp tục làm một tay kiện tướng nhổ mạ, gặt lúa. Căn bệnh quái ác đã sắp biến ba tôi thành một con người khác.
Ông ra vào buồn rười rượi. Tôi an ủi: "Ráng chữa chắc cũng hết mà ba!". Tôi nói vậy chứ cũng không chắc lắm. Tôi nhớ có lần nghe người ta bày lấy thân cây dứa dại về sắc nước uống, đảm bảo hết. Một lần, cả nhà dậy sớm, ba mẹ và tôi chèo xuồng ra tận sông Tiền để tìm dứa dại. Ba người hăm hở đốn rồi chất đầy cả xuồng. Về nhà phơi khô, ba tôi cũng tích cực uống. Nhưng ngoài cái lợi tiểu ra, nó chẳng thay đổi được gì.
Năm đó, ba tôi quyết định bán toàn bộ sự sản để đi miền Đông lập nghiệp. Nhà có ba con chó, ba tôi làm thịt một con để đãi họ hàng trong bữa chia tay. Còn con Mực già rất khôn, thì ba gửi lại cậu Bảy nuôi. Chúng tôi chỉ mang theo con Phèn. Vì nó con tơ, lại khôn, và chính là nó đã cứu mạng ba tôi. Chúng tôi không bao giờ là kẻ vong ơn.

3.
Ở miền Đông, cuộc sống mới có phần vất vả hơn vì mọi thứ đều phải bắt đầu. Con Phèn không chỉ làm nhiệm vụ giữ nhà mà còn làm bạn với anh em chúng tôi trong những ngày ở xa quê. Nó vẫn chăm chỉ, siêng năng và ngoan ngoãn. Nó hay đi săn thỏ, bắt sóc và đôi khi chộp được cả chồn nữa. Hầu như tháng nào chúng tôi cũng có món thịt rừng. Giữa cảnh thiếu thốn, thịt rừng trở thành món ngon cực kỳ. Tất nhiên, con Phèn bao giờ cũng được dự phần với những mẩu xương ngon lành.
Từ những chuyến săn mồi này, Phèn đã được nếm cái mùi vị máu tươi. Bản năng trỗi dậy. Tôi không biết có lần nào nó "diếm" con mồi để thưởng thức một mình không nữa!
Để cải thiện, mẹ tôi nuôi bầy gà. Chỉ trong hai năm, nhà tôi có bầy gà đông đúc, cho thịt trứng đủ đầy và còn có cái để mẹ tôi đi chợ. Những ngày khó khăn dần đi qua.
Gia đình khá lên thì con Phèn cũng có phần khác. Thức ăn như những ngày đầu có chẳng thèm ăn nữa. Hồi đó, mới lên, con Phèn, sau lần hồi là một bầy chó, phải ăn đu đủ xanh, nấu xơ mít, ray dền… cùng chút ít cơm cặn. Hồi đầu chúng ăn rất khỏe. Nhưng con Phèn lại trở tính kén ăn. Nó đòi phải có tí nước cá; hoặc phải có miếng vảy, mới lòng cá tanh tanh nấu chung, nó mới chịu ăn. Có hôm thằng em tôi ăn dư đổ cả chén mì, con Phèn dửng dưng để đám chó ăn, còn nó đứng nhìn, vì… sợ cay!
Con Phèn nhà tôi ngày càng già đi và không còn siêng năng như trước. Lâu lắm rồi nó chẳng săn được con thỏ, con sóc nào cả. Nhưng Phèn bắt đầu săn được gà. Lúc đầu nó chỉ đuổi vật gà cho vui. Rồi có lẽ máu tươi càng làm kích thích cái giống hoang dã của nó đã khiến nó xơi tái luôn con gà. Ban đầu là gà con, lần hồi là gà lớn. Kể cả gà trống to xác cũng không phải là đối thủ của nó.
Ba tôi giận lắm. Ông phạt nó đủ cách. Lúc đầu thì đánh đòn. Rồi bỏ đói. Chẳng ăn thua gì nó. Ông bèn buộc nó lại, rồi đem lông gà đến. Hễ nó ngửi đến là đánh. Suốt mấy ngày, rồi nó cũng không dám đụng lên cái lông nào. Ba tôi cho là nó đã biết "phục thiện", ông thả nó. Nhưng chỉ mấy ngày sau, cái lòng tham và cái máu hoang dã của nó lại trỗi dậy. Nó lại đuổi bắt và ăn thịt gà.
Trong nhà ai cũng giận mà thương Phèn. Giận vì nó đã hư hỏng, mất nết. Thương vì sự trung thành của nó ngày nào, vì ơn cứu mạng của nó. Ba tôi không nỡ giết thịt nó. Bởi vì lần nào, ông hăm sẽ làm thịt nó, y như rằng nó nghe được là buồn rười rượi. Thấy ba tôi ở đâu, nó cũng lấm lét nhìn, vừa thăm dò, vừa sợ sệt. Ba tôi kêu, nó rón rén lại, phủ phục dưới chân ông, nhũn người ra, chờ đợi cái vuốt ve, vỗ về của ông chủ. Thế là ba tôi lại bỏ qua ý định đó.
Nhưng chỉ ít lâu là nó lại tái phạm. Ba tôi định bụng sẽ đổi con chó nặng mười lăm ký này lấy mười lăm lít dầu hôi. Cốt là để “giải quyết” nó, ở đâu đó mà cả nhà không nhìn thấy. Mấy lần, ông đổi chó đi qua, ba tôi kêu lại. Ngã giá xong, ba tôi gọi Phèn vào. Tôi cũng đi tìm nó rồi dẫn nó lại chỗ ba tôi. Nó lại phủ phục. Không biết vì sợ ba tôi hay sợ ông đổi dầu. Thế là ba tôi mượn cớ giá rẻ quá, ba tôi không chịu đổi.
Lần cuối cùng, vẫn với tội ăn gà, ba tôi cột vào cổ nó một khúc gỗ. Thế là con Phèn phải làm “con trâu mang ách kéo cày”. Khúc cây làm con chó đi lại nặng nề, nên không thể đuổi theo gà được nữa. Cách này làm con chó bị "mang gông khổ sai". Rất lâu sau đó, con Phèn không thể đuổi gà được nữa.
4.
Một buổi trưa, ba tôi đang nằm võng ngủ trước hiên nhà. Con Phèn thấy một con gà bị tật ở chân, liền vồ lấy. Con gà cứ cà nhắc chạy, con Phèn thì đuổi theo sau. Sau hơn nửa năm mang gông, con Phèn trở nên thích nghi một cách đáng ngạc nhiên. Nó chạy khá nhanh. Nhưng con gà khôn ngoan. Nó lòn vào cái kẹt giữa một khúc cây to dựng sát vách. Con Phèn chạy theo vào cái khe đó. Khúc cây đổ nhào. Tôi nghe tiếng gà kêu liền chạy ra xem, nhằm đúng vào lúc cái khúc cây ngã. Tôi đỡ nhưng không kịp, nó rơi vào chân tôi. Chỉ suýt chút nữa thôi, có thể nó đã ngã ngay chỗ ba tôi đang nằm.
Tôi nhăn mặt ngồi xuống. Khúc cây nặng nên làm dập chân, bật máu. Ba tôi choàng và hiểu ngay mọi chuyện, khi con Phèn vẫn tiếp tục đuổi theo con gà. Ông vớ ngay một cục đá và chọi thí. Cục đá đi chính xác như một viên đạn. Con chó ngã lăn quay ra. Tôi cố đứng dậy, tiến đến chỗ con chó đang giãy giụa. Máu từ vết thương chí mạng ngay trên đầu nó tuôn ra. Tôi ngồi xuống, ôm lấy nó. Con chó nhìn người chủ của nó bằng cặp mắt ươn ướt. Nó rên ư ử, bốn chân run rẩy. Nó nhìn tôi, rồi nhìn ba tôi. Rồi mẹ tôi cũng tới. Bà nhìn con chó rồi bỗng dưng òa khóc. Tôi cũng thấy cay cay ở mắt. Còn ba tôi tránh mặt đi. Em gái tôi cũng khóc. Thằng em út là bảo đi lấy bông và ôxy già để rửa vết thương cho con vật.
Cảnh tượng đó làm bao nhiêu hình ảnh oanh liệt, đang thương và đáng giận của con Phèn cứ ùa về trong tâm trí tôi. Rồi sự giãy giụa của nó cũng yếu dần đi. Thằng út lấy bông và ôxy già ra nhưng cũng ngồi đó, nhìn con Phèn tuyệt vọng. Nó tuyệt vọng và chúng tôi cũng tuyệt vọng. Bỗng nhiên, con vật trung thành đem hết sức bình sinh rướn người lên liếm vào tay tôi. Thấy vậy, mọi người đều đưa tay vào để cho nó liếm lần cuối. Em gái tôi bảo: "Mày đừng chết nghen Phèn!". Khi nó liếm đủ năm bàn tay thì bỗng nó vật người ra. Đôi mắt không còn động đậy và từ từ khép lại. Bốn chân cũng từ từ thôi cử động. Nó đã chết.
Chúng tôi chôn con Phèn trên đồi cao để mùa mưa nước không ngập mộ nó. Ai cũng buồn bã. Bỗng nhiên ba tôi nói: "Đồ con chó phản chủ". Tiếng ông như tiếng nấc. Đúng là nó đã phản bội lòng tin của chủ, lòng tin về sự trung thành, sự ngoan ngoãn của nó. Nó đã không chịu sửa đổi, dù đã có nhiều cơ hội cho nó. Cái máu hoang dã của nó đã trỗi lên mạnh mẽ mà không thứ thuốc nào có thể hãm lại được. Và nó đã bị trừng trị vì cái tội phản bội của nó. Ba tôi chỉ là người thi hành bản án đó thôi....
Tháng 12 năm 2005

Gà ăn xoài, chó ăn mít!

Tạp bút:
GÀ ĂN XOÀI, CHÓ ĂN MÍT!

1. Ba mẹ tôi có khu vườn tạp khá rộng ở Đồng Nai. Gọi là vườn tạp bởi vì được trồng nhiều loại cây, mỗi thứ một ít: chuối, mít, đu đủ, mãng cầu, xoài, cà phê, bưởi, quýt, cam, điều… Ba tôi nhiều lần lý giải: trồng mỗi thứ vài cây để có ăn mà không sợ bị “dội chợ”! Thực ra thì năm nào mà không có hàng bị “dội chợ”, nhưng không sao, vì mất thứ này lại được thứ khác - mất đó là mất mùa hoặc mất giá, cái điệp khúc cũ rích có từ hồi cây trái thành hàng hoá.
Cạnh vườn nhà tôi, chú Hai trồng hơn 2 ha nhãn tiêu. Cách đây ba năm, nhãn được gần 3.000đ/ký, chú thu được hơn chục tấn. Năm sau, nhãn rớt giá chỉ còn ngàn rưỡi, thu xong đủ bù cho chi phí chăm sóc. Năm ngoái, nhãn bị quắn đọt, trái lèo tèo, thu chỉ vài ba tấn, cũng vừa đủ vốn. Vậy là cưa củi. Chú Hai đành đặt ngàn gốc quýt vào vườn nhãn, trong lúc chờ quýt khép tán và cho trái thì đổi bữa bằng bắp cao sản.
2. Cái vườn tạp của nhà tôi khiến ba mẹ tôi không được ngày nào ngơi nghỉ. Tháng giêng (âm lịch) thu điều cho đến đầu tháng ba, kết hợp với hái xoài, sau đó tỉa vài ký bắp giống, xen trong những chỗ tán chưa kịp khép. Bắp trổ cờ thì đến thu mãng cầu, đến tháng bảy thì thu bắp, sau đó tỉa bắp vụ hai. Đến tháng chín thì hái cà phê, sau đó bẻ bắp rồi chuẩn bị quýt bán tết. Cái vòng đó lại tái diễn, xen lẫn là việc xịt thuốc diệt cỏ, bỏ phân cho các thứ cây chuẩn bị lấy trái. Không còn cảnh “ngày làm tháng ăn” mà gần như “tháng làm tháng ăn”, “năm làm năm ăn”.
Mấy năm nay, nhân công cực kỳ hiếm. Thanh niên chán rẫy vườn bỏ ra các đô thị làm công nhân, dù thu nhập không ổn định nhưng vẫn cao hơn nhiều so với việc đổ mồ hôi trên đồng. Các gia đình có rẫy, có vườn thì ai lo người nấy. Việc đổi công là “bó tay”, vì đến lúc nhà này thu hoạch hay xuống giống thì nhà kia cũng làm như vậy – theo thời tiết mà! Anh em chúng tôi có gia đình riêng, đều làm công chức nên chẳng đỡ đần gì được. Ba mẹ đành phải gồng mình. Nhưng sức người có hạn, có nhiều lúc, trái đành để chín rụng ngoài vườn nhưng không có người hái bán. Hoặc có hái được thì không phải lúc nào giá bán cũng bù được công cán và xăng nhớt vận chuyển.
3. Để “cải thiện”, mẹ tôi có thả bầy gà trong vườn. Đó là giống gà ta nhỏ con, khỏe mạnh, thịt chắc. Mỗi lần tôi từ thành phố về thì thế nào cũng có món gà gấp hành, nấu cháo xé phay trộn gỏi bắp chuối, rang muối hay khìa nước dừa… Gà nhà đảm bảo “sạch”. Và “ngon” nữa, không chỉ vì có hương vị quê nhà. Mẹ bảo: gà này ăn toàn chất bổ dưỡng nên ngon chứ sao! Chất bổ dưỡng mà mẹ tôi nói tất nhiên không phải chỉ có bắp hạt, còn có nhiều loại “vitamin” khác, như xoài, đu đủ, mít…
Không đợi nghe mẹ nói, tôi đã hình dung ngay đến những bầy gà lớn có nhỏ cỏ nhởn nhơ mổ… xoài. Chúng thật “khéo” ăn, chỉ chọn những quả già chín (vậy mới ngọt). Mà trái rụng thì đầy gốc, tha hồ “lựa” – không chỉ những rụng do bị sâu đụt hoặc giông gió mà cả nhiều trái già, chín cây nhưng không kịp hái hoặc không có người hái cũng thi nhau làm thức ăn cho gà. Có tiếc, nhặt một vài trái, lựa chỗ ngọt nhất trên đầu cuống, cắn một miếng rồi cũng bỏ, vì ăn sao cho hết. Vậy là một phần hoa lợi đã không được thu hoạch vì không có nhân công, vì giá quá rẻ.
Cọ dưới chân tôi thường là cả một tiểu đội chó. Lãnh nhiệm vụ cao cả là giữ vườn nên bầy chó cũng được “biệt đãi”. Thức ăn của chúng là cơm trộn với đu đủ, mít, chuối và cả rau dền hay rau mồng tơi nấu chung. Đu đủ thì sẵn những trái chín rụng hoặc ở cây đã bạc đầu; chuối thì ở cây gãy buồng, mít thì ở mấy trái chín rụng… Chỉ quanh quẩn mà nhặt, chẳng cần hái để dành. Anh em chúng tôi có nhớ cái thời thèm ăn ngồi rờ mòn gai trái mít thì bất quá cũng ăn vài ba múi, rồi thì để dành… cho chó! Thi thoảng có mấy tay lái mít đến nhà trèo hái rồi trả vài ngàn cho mỗi trái nặng cả chục ký, còn không thì bỏ đó!
4. Nhớ hôm nào ngồi uống trà nhấm nháp miếng chuối khô mà mẹ tôi đã tranh thủ phơi được trong kỳ “hạn bà chằn”, ba tôi nói về “vê đúp tê ô”. Cái radio mở nghe từ bốn giờ rưỡi sáng mỗi ngày cung cấp cho ông nhiều kiến thức nên chuyện nào đều ra chuyện đó. Nhưng mới câu trước ông còn phấn khởi việc Việt Nam gia nhập WTO thì nông sản sẽ dễ xuất khẩu thì câu sau ông đã than: “Nhà mình đâu có gì xuất khẩu được đâu!”.
Tôi lặng người suy nghĩ. Đâu chỉ có mình ba tôi, nông dân Việt Nam có bao nhiêu phần trăm sản xuất hàng hóa mà xuất khẩu được? Chỗ thì làm ăn theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ nên hàng hóa không tập trung, chất lượng có mức độ; chỗ thì chuyên “vác mai đi đào” nên ứ đọng, thừa mứa; chỗ lẽ ra trồng cây này thì nông dân lại trồng cây kia… Không có “ông” khuyến nông nào đến khảo sát và định hướng rằng ở đất này trên trồng cây gì, nuôi con gì; cũng không có “ông” nông nghiệp nào chỉ dẫn kỹ thuật, trợ vốn hay giúp đỡ đầu ra; cũng không “ông” chính quyền nào quan tâm rằng nông dân ở xã “ông” làm ra thức gì, bán cho ai, giá cả làm sao…
Buồn cho ít nhất là phân nửa trong tổng số hơn 70% nông dân của Việt Nam đang phải tự “bơi” trong một hầm tàu đầy nước mà chiếc tàu ấy đang bừng bừng tiến ra biển lớn. Buồn chuyện “gà ăn xoài, chó ăn mít” ở nhà tôi thì ít mà buồn cho cảnh sống của những người nông dân quần quật, đầu tắt mặt tối trên đồng thì nhiều. Bởi dù sao ở chỗ “trời thương” cho cây trái tốt tươi đến độ dư thừa (mà cũng do thị trường nữa) thì vẫn còn có những chỗ “đất cày lên sỏi đá”. Ở đó, bà con quanh năm chan chát, dù mồ hôi vẫn đổ và nước mắt vẫn rơi…
*
Bài toán WTO cho nông dân là một bài toán lớn và cần có lời giải sớm. Việc kết hợp “bốn (hay năm?) nhà” là cần thiết nhưng trên hết là cần có một quan điểm đúng đắn, toàn diện, chân thực về nông dân, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay. Đừng để họ phải tự “bơi” – kiểu như ba tôi, năm nay ông đòi “hưu” vì bệnh tiểu đường hành hạ mà tuổi tác lại chất chồng trong khi cây thì nhiều, trái cũng nhiều nhưng vô vọng đầu ra và thất vọng giá cả!

Vụ án cậu ông trời

VỤ ÁN CẬU ÔNG TRỜI
Truyện ngắn

Lan hết ngồi lại nằm. Nàng thậm chí không biết mình đang ngồi hay đang nằm nữa, vì nó cứ lặp đi lặp lại, không biết bao nhiêu lần. Hôm nay, bỗng nhiên nàng chỉ đọc mỗi quyển Cổ tích Việt Nam và đọc đi đọc lại câu chuyện Cóc kiện trời. Chẳng có lý do gì cả. Nàng chẳng bao giờ đặt ra những lý do để rồi bắt mình phải tự trả lời cả. Có tiếng gọi dưới nhà:
- Lan ơi, xuống ăn cơm.
Nàng không buồn trả lời. Hết nằm, rồi ngồi, rồi ăn cơm, rồi đi tắm, rồi đi ngủ và đọc vùi trong đống sách... bao nhiêu đó việc ngày nào cũng thế. Mẹ nàng trông nàng như đứa trẻ mới lên năm. Người ta quên nàng đã mười tám tuổi rồi.
- Trời ơi! Có xuống ăn cơm không thì bảo. Hay là lại lên cơn nữa rồi?
Lên cơn, đó là tiếng nàng nghe nhiều lần nhất. Lan nhớ mang máng thì hình như năm nàng lên tám tuổi, đang học lớp ba thì có một lần bị té từ trên gác xuống. Sau đó ba mẹ bắt nàng nghỉ học và nói nàng bị “khùng”. Lan không biết mình có bị “khùng” thiệt hay không nhưng lâu lâu lại nghe nói nàng lên cơn rồi quậy phá, đập đồ đạc, xé quần áo khi lên cơn. Nàng không biết lên cơn thì nó như thế nào, nhưng nàng cũng nhận ra rằng nhiều khi nàng cảm thấy mệt nhừ như vừa trải qua một cuộc chiến đấu hay vật lộn gì đó rất quyết liệt.
Nàng uể oải bước xuống nhà. Mâm cơm đã dọn sẵn. Ba, mẹ và Quý, đứa em trai duy nhất, đã ngồi vào bàn và bắt đầu ăn. Nàng ngồi vào chỗ của mình, đối diện với thằng em nghịch ngợm và đôi khi lại rất hỗn. Lan cầm chén cơm lên, bất ngờ nhìn ba, hỏi:
- Ba ơi, thực sự thì con cóc có phải cậu ông trời hôn ba?
Ba nàng bỗng tròn mắt nhìn nàng, đáp:
- Thôi ăn cơm đi, giờ đâu phải lúc nói chuyện vớ vẩn đó!
Thằng em tiếp lời:
- Chị Hai đúng là khùng thiệt rồi. Cóc là cóc, còn trời là người ta tưởng tượng ra chứ làm sao có thiệt được mà chị nói là có bà con?
- Nhưng chị thấy trong sách người ta nói vậy... – Nàng cố thuyết phục.
- Truyện cổ tích mà chị cũng tin. Nó để dụ con nít với mấy người... khùng thôi!
Nó nói rồi cười khúc khích. Mười ba tuổi, nó không còn nhỏ mà cũng không phải là lớn, nàng nhớ mình đã đọc ở đâu đó nói về điều ấy. Mẹ lườm:
- Thôi ăn cơm đi!
Ba cũng nói:
- Ăn cơm mà nói chuyện gì đâu không!
Nói vậy rồi chứ ba cũng nói chuyện. Ba làm công chức nhà nước, không biết làm chức gì nhưng thường có nhiều khách đến nhà lắm, nhất là vào dịp tết và các buổi tối. Không chừng tối nay cũng vậy. Nàng nhớ nhiều người tới nhà, trước đây có người dúi phong bì vào tay Lan, mà mẹ chẳng bao giờ bắt Lan phải thưa gì cả. Họ còn xoa đầu Lan như một đứa bé. Khách về, mẹ vội lấy ngay cái phong bì đó, nên Lan chẳng biết trong đó có gì. Nàng nghĩ chắc ba hiểu biết nhiều lắm, nhưng bao giờ hỏi gì ba cũng chẳng giải thích cả. Cái câu: “ăn xong, ba nói cho nghe”, chỉ là lời hứa suông thôi.
Bữa cơm xong, mẹ tự tay dọn dẹp. Nàng thấy mẹ cực quá nhiều lần định giúp nhưng mẹ không cho, mà còn mắng nữa. Bởi vì nàng nhớ có vài lần nàng rửa chén mà làm đổ bể cả chồng chén dĩa, đã thế còn làm đứt chân nữa. Lần đó mẹ vừa dọn dẹp, vừa mắng nàng sa sả. Thế là nàng không được rửa chén nữa. Mà nàng cũng không phải giặt đồ, vì đã có máy giặt. Nàng cũng chẳng phải đi chợ – ba mẹ không dám cho nàng ra khỏi nhà vì sợ đi lạc. Nàng chẳng phải làm gì cả. Nàng chẳng phải đi đâu cả, kể cả đi học, từ cái ngày mà nàng bị ngã. Và nàng hầu như chẳng gặp ai cả ngoài những người trong nhà.
Nàng lò dò lên gác, lại lục trong đống sách, tìm một cuốn gì đó để đọc. Chẳng có cuốn nào mới cả. Phần lớn nàng đã đọc ít nhất một lần rồi, kể cả những cuốn nàng chẳng hiểu gì cả, như Bút ký triết học của Lênin, bộ Tư bản của Mác, Chuyện trong vườn lý của Nguyễn Văn Trấn hay mấy cuốn sách về di truyền học... Đó là những cuốn sách chính trị của ba nàng sưu tầm từ hồi còn đi học bằng cách nhịn tiền ăn sáng và tiết kiệm tiền học bổng, cùng những cuốn giáo trình của chú Út. Chú Út ngày xưa học ngành sinh học, bây giờ làm ở một viện nghiên cứu. Ở nhà từ ngày ông bà nội mất chắc chú Út là người thương Lan nhất. Nhưng chú ở xa quá, có khi cả năm mới ghé thăm, mà lần nào ghé thăm, chú với ba cũng hay lớn tiếng với nhau, chỉ vì Lan. Nàng buồn lắm, vì nàng mà anh em ba bất hòa...
Vớ đại cuốn Những mẩu chuyện vui tiếng Anh, nàng nằm xuống định đọc thì có tiếng gọi:
- Lan ơi, đi tắm!
Nàng nghe tiếng gọi của mẹ là biết nước đã sôi, không thể trì hoãn được. Nàng lại nhè nhẹ xuống nhà đi tắm. Thằng Quý đang xem tivi, lại phim đánh nhau, hình như nói về vua Càn Long, ông vua giỏi nhất nhà Thanh đây mà. Nghĩ đến đó, tự nhiên nàng cười một mình, ông vua giỏi này bị Quang Trung đánh thất điên bát đảo, phải chịu cầu hòa và còn tặng nhân sâm nữa. Nàng nhớ lại những quyển sách mình đã đọc nói về chuyện này, trong đó có bộ Hoàng Lê nhất thống chí. Thằng Quý bỗng ngó lên rồi hỏi:
- Bộ chị lên cơn rồi hay sao mà cười một mình vậy?
Nàng chẳng lạ gì cậu em quý tử này nữa. Lúc nào nó cũng bảo mình khùng, kể cả khi nó có bạn tới chơi. Nàng không trả lời, đi thẳng xuống nhà tắm.
Tối. Mọi người tập trung dưới phòng khách xem tivi. Nàng lò dò đi xuống, rón rén ngồi xuống một góc ghế. Truyền hình đang chiếu cảnh động đất và sóng thần ở châu Á. Nàng xem mà khẽ rùng mình, trong khi mọi người cứ xuýt xoa. Chợt nàng nghĩ đến một xã hội mà mọi người sống rất thanh bình với nhau, nàng ao ước được sống trong xã hội ấy. Nghĩ một lúc nàng hỏi:
- Ba ơi, ba có nghĩ là ở Utopi, người ta sống rất hạnh phúc không?
Ba nàng tròn mắt nhìn con gái. Ông có vẻ quá bất ngờ trước câu hỏi “vĩ mô” của con. Ông suy nghĩ một lát. Nếu như bình thường thì hoặc ông bảo “đừng có hỏi mấy chuyện vớ vẩn đó” hoặc “lát nữa ba nói cho nghe” thì hôm nay ông đang suy nghĩ. Vài phút sau, ông lên gác, hình như lục tìm các tài liệu về Utopi. Vẫn không thấy ông trả lời gì. Ông mở mạng internet tra cứu, rồi lục lấy tự điển tiếng Anh để dò. Nhưng Lan nhìn thấy ba cứ liên tục lắc đầu. Mẹ Lan nhìn thấy sốt ruột nói:
- Thôi anh, con nó hỏi vu vơ thế mà cũng mất công đi tìm à?
Ba Lan mở cặp kính ra nhìn mẹ đáp:
- Cái này hồi trước anh rành lắm chứ! Bây giờ lâu quá rồi không đụng tới thành ra quên. Tiếng Anh cũng quên sạch, thiệt tệ.
Ba tắt máy tính, lại gần Lan nói nhỏ nhẹ:
- Ba xin lỗi. Ba không giải thích cho con về Utopi được. Khi nào tìm được tài liệu, ba sẽ nói cho con nghe.
Lan nghe ba trả lời, không chút thất vọng mà trái lại, nàng thấy thật sung sướng. Chưa bao giờ ba nói với nàng dịu dàng thân mật như vậy. Chưa bao giờ ba nàng xin lỗi với nàng cả. Nếu có, nàng lờ mờ nhớ cách đây lâu lắm, khi nàng chưa bị tai nạn...
- Ba ơi! Ba nghĩ là có sự sống bên ngoài trái đất không?
Nàng đã đọc cuốn sách của nhà khoa học Nguyễn Ngọc Giao về sự sống ngoài trất đất, nhưng nàng vẫn không hiểu.
Ba nàng lại suy nghĩ một lúc. Thằng Quý “hớt”:
- Chị hỏi toàn là chuyện vô duyên không hà, đúng là khùng. Sao chị không hỏi ba khu đất nhà ở quận mình có quy hoạch hay nhà ở đường nào cao giá nhất?
Mẹ lườm Quý:
- Con nít, không được bàn chuyện người lớn!
- Nhưng chị Hai cũng đâu phải người lớn... – Nó cố chống chế. Nàng chợt nghĩ không biết mình là người lớn hay con nít. Mới hôm kia, mẹ nàng còn nói: “Con nay lớn rồi, không được gần đàn ông, con trai lạ, nếu không sẽ bị bụng bự đó!”. Nàng chẳng hiểu gì cả. Bụng bự thì sao, có gì xấu không? Thím Út cũng từng bụng bự rồi sinh ra em bé đó. Còn bụng ba cũng bự vậy, nhưng chẳng bao giờ thấy ba sinh em bé... Nhiều câu hỏi quá, nàng muốn biết nhưng hỏi ba thì ba không nói, hỏi mẹ thì mẹ nạt ngang. Nàng chỉ còn biết những trang sách, nhưng sách không biết nói...
Chợt điện thoại reo. Ba nghe xong bảo, phải đi ngay, có hẹn. Chắc lại nhậu nhẹt hay tiệc tùng gì đó. Ba dắt xe ra, chẳng hứa hẹn gì về câu hỏi của Lan nữa. Chợt có tiếng la của ba:
- Chết rồi! Quý ra dọn dùm ba coi!
Thằng Quý lật đật chạy ra. Lan cũng chạy ra: một con cóc chết, nó vừa bị xe của ba cán phải. Con cóc này Lan quen lắm. Nó sống trong kẹt mấy chậu kiểng trước nhà đây mà. Hàng ngày nó vẫn nhảy ra nhảy vào đây mà. Lan biết cóc là loài vật có ích, vì nó ăn sâu bọ, muỗi mòng. Mỗi khi cóc nghiến răng là trời đổ mưa. Vì cóc là cậu ông trời, cóc nghiến răng là báo hiệu cho trời biết trần gian đang nắng hạn. Cổ tích nói thế, sự thật cũng thế, chẳng sai chút nào.
Vậy mà chú cóc này đã bị xe ba cán chết. Lan thương nó quá! Quý nói:
- Để em vứt cho!
- Đừng, để chị đem chôn nó.
Quý trợn mắt:
- Thôi đi bà chị khùng, ai lại đi chôn cóc?
- Sao lại không? Cóc là cậu ông trời mà!
Quý “xì” một tiếng rồi bỏ vô nhà. Lan ngồi nhìn con cóc đang giãy chết. Con cóc này có tội gì đâu mà chết. Nó sống có ích, hiền lành lại là cậu ông trời mà còn bị chết. Nàng buồn thật buồn, chẳng hiểu vì sao cả. Nàng bật khóc. Nàng sắp ngã gục xuống sân. Tiếng thằng Quý cất lên làm nàng bừng tỉnh:
- Chị Hai lại lên cơn nữa rồi!
Tiếng mẹ nàng léo xéo. Nàng bỗng thấy mờ mắt, đầu choáng váng, quay vào đến nhà thì ngã lăn xuống sàn nhà. Chừng tỉnh lại nàng thấy đang nằm trong phòng, chắc thằng Quý và mẹ đưa nàng lên đây. Khẽ nhìn đồng hồ, đã hơn nửa đêm rồi. Nghĩ lại những chuyện ban tối, nàng thấy lòng đau nhói. Một con cóc chết. Trời ơi, sao nó lại chết? Trời ơi, cậu của ông trời đã chết rồi!
Nghĩ chán, nàng lặng lẽ ngồi dậy, bật đèn lên. Nàng giở quyển sổ ghi của nàng, đây là quyển sổ ghi nhật ký, thơ và đủ các chuyện mà chưa ai từng đọc. Nàng định viết lại câu chuyện về con cóc chết. Sao con cóc kia giống thân phận nàng quá. Con cóc sống lặng lẽ nhảy ra nhảy vào kẹt tường, cũng như nàng đi ra đi vào cái phòng nhỏ này. Nhưng con cóc còn có ích... Nếu một ngày nàng cũng chết... Nàng suy nghĩ thật lâu, rồi đặt bút bắt đầu viết: “Vụ án cậu ông trời...”.