Thứ Tư, 17 tháng 10, 2007

Gà ăn xoài, chó ăn mít!

Tạp bút:
GÀ ĂN XOÀI, CHÓ ĂN MÍT!

1. Ba mẹ tôi có khu vườn tạp khá rộng ở Đồng Nai. Gọi là vườn tạp bởi vì được trồng nhiều loại cây, mỗi thứ một ít: chuối, mít, đu đủ, mãng cầu, xoài, cà phê, bưởi, quýt, cam, điều… Ba tôi nhiều lần lý giải: trồng mỗi thứ vài cây để có ăn mà không sợ bị “dội chợ”! Thực ra thì năm nào mà không có hàng bị “dội chợ”, nhưng không sao, vì mất thứ này lại được thứ khác - mất đó là mất mùa hoặc mất giá, cái điệp khúc cũ rích có từ hồi cây trái thành hàng hoá.
Cạnh vườn nhà tôi, chú Hai trồng hơn 2 ha nhãn tiêu. Cách đây ba năm, nhãn được gần 3.000đ/ký, chú thu được hơn chục tấn. Năm sau, nhãn rớt giá chỉ còn ngàn rưỡi, thu xong đủ bù cho chi phí chăm sóc. Năm ngoái, nhãn bị quắn đọt, trái lèo tèo, thu chỉ vài ba tấn, cũng vừa đủ vốn. Vậy là cưa củi. Chú Hai đành đặt ngàn gốc quýt vào vườn nhãn, trong lúc chờ quýt khép tán và cho trái thì đổi bữa bằng bắp cao sản.
2. Cái vườn tạp của nhà tôi khiến ba mẹ tôi không được ngày nào ngơi nghỉ. Tháng giêng (âm lịch) thu điều cho đến đầu tháng ba, kết hợp với hái xoài, sau đó tỉa vài ký bắp giống, xen trong những chỗ tán chưa kịp khép. Bắp trổ cờ thì đến thu mãng cầu, đến tháng bảy thì thu bắp, sau đó tỉa bắp vụ hai. Đến tháng chín thì hái cà phê, sau đó bẻ bắp rồi chuẩn bị quýt bán tết. Cái vòng đó lại tái diễn, xen lẫn là việc xịt thuốc diệt cỏ, bỏ phân cho các thứ cây chuẩn bị lấy trái. Không còn cảnh “ngày làm tháng ăn” mà gần như “tháng làm tháng ăn”, “năm làm năm ăn”.
Mấy năm nay, nhân công cực kỳ hiếm. Thanh niên chán rẫy vườn bỏ ra các đô thị làm công nhân, dù thu nhập không ổn định nhưng vẫn cao hơn nhiều so với việc đổ mồ hôi trên đồng. Các gia đình có rẫy, có vườn thì ai lo người nấy. Việc đổi công là “bó tay”, vì đến lúc nhà này thu hoạch hay xuống giống thì nhà kia cũng làm như vậy – theo thời tiết mà! Anh em chúng tôi có gia đình riêng, đều làm công chức nên chẳng đỡ đần gì được. Ba mẹ đành phải gồng mình. Nhưng sức người có hạn, có nhiều lúc, trái đành để chín rụng ngoài vườn nhưng không có người hái bán. Hoặc có hái được thì không phải lúc nào giá bán cũng bù được công cán và xăng nhớt vận chuyển.
3. Để “cải thiện”, mẹ tôi có thả bầy gà trong vườn. Đó là giống gà ta nhỏ con, khỏe mạnh, thịt chắc. Mỗi lần tôi từ thành phố về thì thế nào cũng có món gà gấp hành, nấu cháo xé phay trộn gỏi bắp chuối, rang muối hay khìa nước dừa… Gà nhà đảm bảo “sạch”. Và “ngon” nữa, không chỉ vì có hương vị quê nhà. Mẹ bảo: gà này ăn toàn chất bổ dưỡng nên ngon chứ sao! Chất bổ dưỡng mà mẹ tôi nói tất nhiên không phải chỉ có bắp hạt, còn có nhiều loại “vitamin” khác, như xoài, đu đủ, mít…
Không đợi nghe mẹ nói, tôi đã hình dung ngay đến những bầy gà lớn có nhỏ cỏ nhởn nhơ mổ… xoài. Chúng thật “khéo” ăn, chỉ chọn những quả già chín (vậy mới ngọt). Mà trái rụng thì đầy gốc, tha hồ “lựa” – không chỉ những rụng do bị sâu đụt hoặc giông gió mà cả nhiều trái già, chín cây nhưng không kịp hái hoặc không có người hái cũng thi nhau làm thức ăn cho gà. Có tiếc, nhặt một vài trái, lựa chỗ ngọt nhất trên đầu cuống, cắn một miếng rồi cũng bỏ, vì ăn sao cho hết. Vậy là một phần hoa lợi đã không được thu hoạch vì không có nhân công, vì giá quá rẻ.
Cọ dưới chân tôi thường là cả một tiểu đội chó. Lãnh nhiệm vụ cao cả là giữ vườn nên bầy chó cũng được “biệt đãi”. Thức ăn của chúng là cơm trộn với đu đủ, mít, chuối và cả rau dền hay rau mồng tơi nấu chung. Đu đủ thì sẵn những trái chín rụng hoặc ở cây đã bạc đầu; chuối thì ở cây gãy buồng, mít thì ở mấy trái chín rụng… Chỉ quanh quẩn mà nhặt, chẳng cần hái để dành. Anh em chúng tôi có nhớ cái thời thèm ăn ngồi rờ mòn gai trái mít thì bất quá cũng ăn vài ba múi, rồi thì để dành… cho chó! Thi thoảng có mấy tay lái mít đến nhà trèo hái rồi trả vài ngàn cho mỗi trái nặng cả chục ký, còn không thì bỏ đó!
4. Nhớ hôm nào ngồi uống trà nhấm nháp miếng chuối khô mà mẹ tôi đã tranh thủ phơi được trong kỳ “hạn bà chằn”, ba tôi nói về “vê đúp tê ô”. Cái radio mở nghe từ bốn giờ rưỡi sáng mỗi ngày cung cấp cho ông nhiều kiến thức nên chuyện nào đều ra chuyện đó. Nhưng mới câu trước ông còn phấn khởi việc Việt Nam gia nhập WTO thì nông sản sẽ dễ xuất khẩu thì câu sau ông đã than: “Nhà mình đâu có gì xuất khẩu được đâu!”.
Tôi lặng người suy nghĩ. Đâu chỉ có mình ba tôi, nông dân Việt Nam có bao nhiêu phần trăm sản xuất hàng hóa mà xuất khẩu được? Chỗ thì làm ăn theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ nên hàng hóa không tập trung, chất lượng có mức độ; chỗ thì chuyên “vác mai đi đào” nên ứ đọng, thừa mứa; chỗ lẽ ra trồng cây này thì nông dân lại trồng cây kia… Không có “ông” khuyến nông nào đến khảo sát và định hướng rằng ở đất này trên trồng cây gì, nuôi con gì; cũng không có “ông” nông nghiệp nào chỉ dẫn kỹ thuật, trợ vốn hay giúp đỡ đầu ra; cũng không “ông” chính quyền nào quan tâm rằng nông dân ở xã “ông” làm ra thức gì, bán cho ai, giá cả làm sao…
Buồn cho ít nhất là phân nửa trong tổng số hơn 70% nông dân của Việt Nam đang phải tự “bơi” trong một hầm tàu đầy nước mà chiếc tàu ấy đang bừng bừng tiến ra biển lớn. Buồn chuyện “gà ăn xoài, chó ăn mít” ở nhà tôi thì ít mà buồn cho cảnh sống của những người nông dân quần quật, đầu tắt mặt tối trên đồng thì nhiều. Bởi dù sao ở chỗ “trời thương” cho cây trái tốt tươi đến độ dư thừa (mà cũng do thị trường nữa) thì vẫn còn có những chỗ “đất cày lên sỏi đá”. Ở đó, bà con quanh năm chan chát, dù mồ hôi vẫn đổ và nước mắt vẫn rơi…
*
Bài toán WTO cho nông dân là một bài toán lớn và cần có lời giải sớm. Việc kết hợp “bốn (hay năm?) nhà” là cần thiết nhưng trên hết là cần có một quan điểm đúng đắn, toàn diện, chân thực về nông dân, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay. Đừng để họ phải tự “bơi” – kiểu như ba tôi, năm nay ông đòi “hưu” vì bệnh tiểu đường hành hạ mà tuổi tác lại chất chồng trong khi cây thì nhiều, trái cũng nhiều nhưng vô vọng đầu ra và thất vọng giá cả!

Không có nhận xét nào: