THÊM MỘT GÓC NHÌN VỀ TIỂU THUYẾT BA NGƯỜI KHÁC
Tiểu thuyết Ba người khác nếu không nói là của Tô Hoài thì có lẽ rất khó để nhận ra đó là “đứa em cùng cha” của Dế mèn phiêu lưu ký. Không chỉ nội dung, hình thức thể hiện cũng tạo nên sự mới mẻ của Ba người khác.
1. Trong Ba người khác, dường như ta không thấy dấu vết của giọng văn miêu tả mà Tô Hoài là một bậc thầy. Nhà văn đã để cái nhìn của nhân vật, một đội phó Bối “giữ vững lập trường” tố điêu đến khi thân bại danh liệt, phải sống vất vưởng bên lề cuộc đời, thể hiện xuyên suốt mọi vấn đề, mọi sự vật, hiện tượng. Ngay trong những đoạn mà bắt buộc phải miêu tả (chính xác chỉ là “tả”) thì nhà văn cũng chỉ để nhân vật nhìn lướt qua, ghi nhận lại như một cái máy ảnh chụp bằng ống kính normal (50mm). Đó là sự ghi nhận chỉ bằng con-mắt-sinh-học, con mắt thường của con người, chứ không phải con mắt có tình cảm hay lý trí. Ta không thấy nhân vật sử dụng cái nhìn của ánh mắt của ống kính góc rộng (wide, nhỏ hơn 50mm), tất nhiên càng không thấy ánh nhìn cận cảnh (zoom in, lớn hơn 50mm). Cái nhìn đó gần như chỉ để phân biệt cái này với cái khác chứ không phải để phân tích, đánh giá, nhận định, càng không thể có cái nhìn “cắt lớp” với sự xẻ ngang xẻ dọc.
Ngay ở đoạn đầu, khi Bối và đoàn cải cách về xã để nhận công tác, đã “trông vào cái chợ mùa đói, nháo nhào không biết đâu người ăn mày hay người mua bán”. Thì ra, người này cũng như người kia, không hẳn người ăn mày cũng “tàn tạ”, “lếch thếch” như người mua bán, mà chính là cái ống kính của nhân vật chỉ chụp được bề mặt. Thậm chí chỉ bằng phim đen trắng trong điều kiện ánh sáng không bình thường, quá thiếu sáng hoặc quá dư sáng nên những mảng tối hoặc mảng sáng thì khi lên hình cứ như nhau, kém hẳn sự tương phản để làm nên một bức ảnh rõ nét. Những đoạn nói các cuộc họp, nói về cách trồng lúa “thần kỳ”, những cuộc “quần thảo” giữa cán bộ “thổ cải” và các nữ dân quân… đều được nói đến bằng giọng văn như thế. Ngay cả những cái chết – tự tử vì phản kháng sự tàn khốc của cuộc cải cách – cũng được thể hiện nhẹ như không.
Dù không bình luận mà chỉ để nhân vật nhìn thoáng qua, những với “trí nhớ” tuyệt vời của đội phó Bối, ta dễ dàng nhận ra ẩn ý của Tô Hoài thể hiện trong tác phẩm. Đó là một cuốn phim kém về hình thức thể hiện nhưng có nội dung khá đặc biệt, mới chiếu thì chán xem nhưng xem được một đoạn thì lôi cuốn người ta theo dõi đến tận cùng. Và rồi đến cuối phim, nói như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, đã mượn lời trong Cung oán ngâm khúc khi nhận định về Ba người khác: “Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy!”
2. Nhiều người đã nói đến thuật “ve sầu lột xác” khi đề cập việc Tô Hoài để cho nhân vật Bối kể gần suốt câu chuyện, trừ một vài đoạn phục hiện, mà ta biết là cũng do chính Bối kể lại từ lời kể của người khác. Do đó, gần như câu chuyện cứ tuần tự diễn ra như vốn có mà không có sự can thiệp, định hướng của tác giả. Bối mặc nhiên được “múa gậy vườn hoang”, tha hồ thanh minh cho tội lỗi của mình, tha hồ đổ trút tội cho đội trưởng Huỳnh Cự, tha hồ kể lại sự việc sao cho đậm nét nhất cái tính chất “tố điêu” mà ngay từ đầu đã được khẳng định trong bản chất của y ta, từ việc “thành thật” nhắc lại những “thành tích bất hảo”…
Thoạt đầu, ta không biết tác giả có cùng quan điểm với Bối hay không, vì thực tế, “ve sầu” đã hoàn toàn “lột xác” rồi, tức là câu chuyện hoàn toàn là của Bối và Tô Hoài thì hoàn toàn không là Tô Hoài như người ta đã biết, kể cả trong các tự truyện như Chiều chiều hay Cát bụi chân ai. Ta dễ dàng có cảm giác ảm đạm, hãi hùng với những cảnh tượng thương tâm, khủng khiếp dù được kể qua giọng văn bàng quang, thậm chí tưng tửng, lạnh lùng. Nhưng đọc hết câu chuyện, ta thấy rõ cái tính chất điêu ngoa, xảo trá của Bối, đúng là “cà cuống chết rồi đít vẫn còn cay”. Suốt câu chuyện, Bối không ngừng dựng chuyện hoặc để tố cáo, đổ lỗi ai đó hoặc để biện minh cho hành vi của mình. Dường như Bối (và nhiều nhân vật khác) không phải là một con người, hoặc thuần chỉ là con-người-sinh-học vì không có cảm xúc, không thấy rõ sự vui buồn, hờn giận mà chỉ thấy có sợ hãi mà thôi. Thành ra, ta hiểu được rằng, thực chất, có vẻ Tô Hoài tung một “đòn gió” khá mạnh: “nói vậy mà không phải vậy”! Và phảng phất đâu đó, một cách mờ ảo đầy ẩn ý, thể hiện điều mà người đời hay nói “không có lửa làm sao có khói”!
3. Nói gì thì nói, ta không thể phủ định những hiện tượng, sự việc diễn ra trong lịch sử mà bối cảnh câu chuyện đã đề cập. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm 1954 – 1956 đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó quan trọng nhất là đã chia ruộng đất cho dân cày, điều mà suốt hàng ngàn năm qua nhân dân ta luôn mong mỏi và không ngừng đấu tranh để đạt được mục tiêu đó. Nhưng ngay cả ở điều cốt yếu nhất này, trong Ba người khác thông qua sự tố điêu của Bối, đã không được thể hiện rõ nét. Đọc hết chuyện, ta chỉ thấy những người nghèo tranh nhau cắm cọc ở những thửa ruộng của các địa chủ, hay giành giật các thứ gia sản của phú nông… như những kẻ vô tổ chức, vô chính phủ hơn là một lực lượng quan trọng của cách mạng. Ta cũng thấy, gần như tất cả nông dân luôn thể hiện vai trò thụ động mờ nhạt trong suốt cải cách ruộng đất – họ không phải là động lực mà cũng chẳng là lực lượng càng chẳng phải là mục tiêu của quá trình này. Thậm chí có lúc có nơi, nông dân bị lợi dụng, sai khiến để trở thành công cụ cho cán bộ, nhằm chạy theo thành tích, chạy theo chỉ tiêu. Và ở đó, những cán bộ “thổ cải” hoàn toàn không thể hiện được vai trò lãnh đạo của mình, chỉ là những kẻ “hét ra lửa”, nắm quyền sinh sát của rất nhiều người nhưng lại tham lam, dốt nát, hủ bại.
Không cần phải bàn cãi, chính sách cải cách ruộng đất do rập khuôn cách làm của Trung Quốc nên đã có những sai lầm nhất định, thậm chí có lúc có nơi đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Điều đó ngay năm 1956, Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đã có những hình thức sửa sai. Tuy nhiên, những vết thương do sự sai lầm này không dễ gì mất hết dấu vết, dù sự việc đã diễn ra hơn 50 năm. Xét về bản chất, Ba người khác đã tái hiện lại phần nào không khí và cảnh tượng của hoạt động cải cách ruộng đất, cũng như “chân dung” của những nạn nhân và các lực lượng tham gia hoạt động này. Chính điều này đã tạo nên sức hút của tác phẩm, đồng thời thể hiện tính giáo dục lịch sử khá độc đáo. Đó là: không có sự việc nào dễ dàng bị quên lãng cũng như không có sự kiện lịch sử nào không có bài học kinh nghiệm nếu ta nhìn nhận nó với cái nhìn khách quan và cầu thị.
Tiểu thuyết Ba người khác nếu không nói là của Tô Hoài thì có lẽ rất khó để nhận ra đó là “đứa em cùng cha” của Dế mèn phiêu lưu ký. Không chỉ nội dung, hình thức thể hiện cũng tạo nên sự mới mẻ của Ba người khác.
1. Trong Ba người khác, dường như ta không thấy dấu vết của giọng văn miêu tả mà Tô Hoài là một bậc thầy. Nhà văn đã để cái nhìn của nhân vật, một đội phó Bối “giữ vững lập trường” tố điêu đến khi thân bại danh liệt, phải sống vất vưởng bên lề cuộc đời, thể hiện xuyên suốt mọi vấn đề, mọi sự vật, hiện tượng. Ngay trong những đoạn mà bắt buộc phải miêu tả (chính xác chỉ là “tả”) thì nhà văn cũng chỉ để nhân vật nhìn lướt qua, ghi nhận lại như một cái máy ảnh chụp bằng ống kính normal (50mm). Đó là sự ghi nhận chỉ bằng con-mắt-sinh-học, con mắt thường của con người, chứ không phải con mắt có tình cảm hay lý trí. Ta không thấy nhân vật sử dụng cái nhìn của ánh mắt của ống kính góc rộng (wide, nhỏ hơn 50mm), tất nhiên càng không thấy ánh nhìn cận cảnh (zoom in, lớn hơn 50mm). Cái nhìn đó gần như chỉ để phân biệt cái này với cái khác chứ không phải để phân tích, đánh giá, nhận định, càng không thể có cái nhìn “cắt lớp” với sự xẻ ngang xẻ dọc.
Ngay ở đoạn đầu, khi Bối và đoàn cải cách về xã để nhận công tác, đã “trông vào cái chợ mùa đói, nháo nhào không biết đâu người ăn mày hay người mua bán”. Thì ra, người này cũng như người kia, không hẳn người ăn mày cũng “tàn tạ”, “lếch thếch” như người mua bán, mà chính là cái ống kính của nhân vật chỉ chụp được bề mặt. Thậm chí chỉ bằng phim đen trắng trong điều kiện ánh sáng không bình thường, quá thiếu sáng hoặc quá dư sáng nên những mảng tối hoặc mảng sáng thì khi lên hình cứ như nhau, kém hẳn sự tương phản để làm nên một bức ảnh rõ nét. Những đoạn nói các cuộc họp, nói về cách trồng lúa “thần kỳ”, những cuộc “quần thảo” giữa cán bộ “thổ cải” và các nữ dân quân… đều được nói đến bằng giọng văn như thế. Ngay cả những cái chết – tự tử vì phản kháng sự tàn khốc của cuộc cải cách – cũng được thể hiện nhẹ như không.
Dù không bình luận mà chỉ để nhân vật nhìn thoáng qua, những với “trí nhớ” tuyệt vời của đội phó Bối, ta dễ dàng nhận ra ẩn ý của Tô Hoài thể hiện trong tác phẩm. Đó là một cuốn phim kém về hình thức thể hiện nhưng có nội dung khá đặc biệt, mới chiếu thì chán xem nhưng xem được một đoạn thì lôi cuốn người ta theo dõi đến tận cùng. Và rồi đến cuối phim, nói như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, đã mượn lời trong Cung oán ngâm khúc khi nhận định về Ba người khác: “Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy!”
2. Nhiều người đã nói đến thuật “ve sầu lột xác” khi đề cập việc Tô Hoài để cho nhân vật Bối kể gần suốt câu chuyện, trừ một vài đoạn phục hiện, mà ta biết là cũng do chính Bối kể lại từ lời kể của người khác. Do đó, gần như câu chuyện cứ tuần tự diễn ra như vốn có mà không có sự can thiệp, định hướng của tác giả. Bối mặc nhiên được “múa gậy vườn hoang”, tha hồ thanh minh cho tội lỗi của mình, tha hồ đổ trút tội cho đội trưởng Huỳnh Cự, tha hồ kể lại sự việc sao cho đậm nét nhất cái tính chất “tố điêu” mà ngay từ đầu đã được khẳng định trong bản chất của y ta, từ việc “thành thật” nhắc lại những “thành tích bất hảo”…
Thoạt đầu, ta không biết tác giả có cùng quan điểm với Bối hay không, vì thực tế, “ve sầu” đã hoàn toàn “lột xác” rồi, tức là câu chuyện hoàn toàn là của Bối và Tô Hoài thì hoàn toàn không là Tô Hoài như người ta đã biết, kể cả trong các tự truyện như Chiều chiều hay Cát bụi chân ai. Ta dễ dàng có cảm giác ảm đạm, hãi hùng với những cảnh tượng thương tâm, khủng khiếp dù được kể qua giọng văn bàng quang, thậm chí tưng tửng, lạnh lùng. Nhưng đọc hết câu chuyện, ta thấy rõ cái tính chất điêu ngoa, xảo trá của Bối, đúng là “cà cuống chết rồi đít vẫn còn cay”. Suốt câu chuyện, Bối không ngừng dựng chuyện hoặc để tố cáo, đổ lỗi ai đó hoặc để biện minh cho hành vi của mình. Dường như Bối (và nhiều nhân vật khác) không phải là một con người, hoặc thuần chỉ là con-người-sinh-học vì không có cảm xúc, không thấy rõ sự vui buồn, hờn giận mà chỉ thấy có sợ hãi mà thôi. Thành ra, ta hiểu được rằng, thực chất, có vẻ Tô Hoài tung một “đòn gió” khá mạnh: “nói vậy mà không phải vậy”! Và phảng phất đâu đó, một cách mờ ảo đầy ẩn ý, thể hiện điều mà người đời hay nói “không có lửa làm sao có khói”!
3. Nói gì thì nói, ta không thể phủ định những hiện tượng, sự việc diễn ra trong lịch sử mà bối cảnh câu chuyện đã đề cập. Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm 1954 – 1956 đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó quan trọng nhất là đã chia ruộng đất cho dân cày, điều mà suốt hàng ngàn năm qua nhân dân ta luôn mong mỏi và không ngừng đấu tranh để đạt được mục tiêu đó. Nhưng ngay cả ở điều cốt yếu nhất này, trong Ba người khác thông qua sự tố điêu của Bối, đã không được thể hiện rõ nét. Đọc hết chuyện, ta chỉ thấy những người nghèo tranh nhau cắm cọc ở những thửa ruộng của các địa chủ, hay giành giật các thứ gia sản của phú nông… như những kẻ vô tổ chức, vô chính phủ hơn là một lực lượng quan trọng của cách mạng. Ta cũng thấy, gần như tất cả nông dân luôn thể hiện vai trò thụ động mờ nhạt trong suốt cải cách ruộng đất – họ không phải là động lực mà cũng chẳng là lực lượng càng chẳng phải là mục tiêu của quá trình này. Thậm chí có lúc có nơi, nông dân bị lợi dụng, sai khiến để trở thành công cụ cho cán bộ, nhằm chạy theo thành tích, chạy theo chỉ tiêu. Và ở đó, những cán bộ “thổ cải” hoàn toàn không thể hiện được vai trò lãnh đạo của mình, chỉ là những kẻ “hét ra lửa”, nắm quyền sinh sát của rất nhiều người nhưng lại tham lam, dốt nát, hủ bại.
Không cần phải bàn cãi, chính sách cải cách ruộng đất do rập khuôn cách làm của Trung Quốc nên đã có những sai lầm nhất định, thậm chí có lúc có nơi đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Điều đó ngay năm 1956, Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đã có những hình thức sửa sai. Tuy nhiên, những vết thương do sự sai lầm này không dễ gì mất hết dấu vết, dù sự việc đã diễn ra hơn 50 năm. Xét về bản chất, Ba người khác đã tái hiện lại phần nào không khí và cảnh tượng của hoạt động cải cách ruộng đất, cũng như “chân dung” của những nạn nhân và các lực lượng tham gia hoạt động này. Chính điều này đã tạo nên sức hút của tác phẩm, đồng thời thể hiện tính giáo dục lịch sử khá độc đáo. Đó là: không có sự việc nào dễ dàng bị quên lãng cũng như không có sự kiện lịch sử nào không có bài học kinh nghiệm nếu ta nhìn nhận nó với cái nhìn khách quan và cầu thị.
Năm 2006

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét