VƯỜN TRẦU CỦA NGOẠI
Quê ngoại tôi ngày xưa là một làng rất nghèo thuộc huyện Bình Đại (Bến Tre). Trước giải phóng, chưa có kênh đào, xung quanh toàn là ruộng bưng: mùa mưa nước ngập trắng đồng nhưng mùa nắng thì đất khô nẻ. Chờ mưa về, mọi người hối hả làm đồng: cày bừa, ủ giống, gieo mạ, cấy và gặt. Đến ngày có lúa chở về chất đầy sân chờ trâu hay bò đến đạp thì cả mười móng tay và mười móng chân đã nhuộm một màu vàng cháy của phèn. Hết mùa, nắng như đổ lửa làm khô nhanh những thửa ruộng mới hôm nào còn xanh lúa để lại trơ trơ những gốc rạ cùng với màu đất xám xịt buồn thiu. Gió nam khan thổi mạnh vốc những nắm cát trên các giồng cát ném tung tóe khắp nơi.
Và, trong nửa cuộc đời đơn độc còn lại vì vắng người bạn đời, ngoại tôi đã sống trong gió và cát như thế để nuôi năm đứa con, mà sau này, chiến tranh đã cướp đi ba đứa lớn…
***
Lúc sinh thời, ngoại tôi là người nghiện trầu. Đi đâu, bà cũng mang theo túi đựng trầu, cau và cái bình vôi cũ kỹ miệng đã bị mẻ mất một miếng. Tôi nhớ có nhiều lần ba mẹ tôi đón bà đến nhà chơi mà quên mang theo trầu thì thế nào bà cũng đòi về cho bằng được dù sau đó lại nói: “Tao về mà nhớ sắp nhỏ quá”! Bà ghiền trầu như người ta ghiền thuốc lá, không dễ gì có thể bỏ được. Thỉnh thoảng họ hàng đến thăm, người biếu buồng cau, kẻ mang chục trầu cũng cảm thấy ấm áp tình quyến thuộc. Sau này khi lớn lên, tôi còn thấy đó là một nét thật đặc biệt của người Việt Nam truyền thống, một đặc trưng của văn hóa nước nhà. Tôi không chắc lắm là trầu cau luôn quấn quýt nhau như trong chuyện cổ tích hay những con người mộc mạc ở quê nhà luôn gắn bó với nhau, cùng chia bùi sẻ ngọt.
Để có sẳn trầu tươi, ngoại tôi có trồng mười mấy nọc trầu không trong vườn nhà. Ngày ngày, bà gánh nước tưới và tự tay chăm sóc từng dây trầu như nâng niu những đứa cháu của mình. Tôi lúc nhỏ ở nhà ngoại để đi học cho gần nên thường lẽo đẽo theo ngoại đi gánh nước và tưới trầu. Tôi thích nghịch những dòng nước mát lạnh đổ rào rào trên những lá trầu xanh mơn mởn. Thích nghe ngoại mắng yêu: “Tổ cha mày! Phá quá làm sao cho ngoại tưới!”, tôi cũng mon men theo ngoại nhổ cỏ và hái những lá già úa vàng bỏ đi. Thỉnh thoảng một vài con cóc bị động nhảy phóc ra ngoài sột soạt trên những chiếc lá làm tôi giật mình. Ngoại lại cười phô hàm răng nhuộm trầu đỏ thắm (chỉ có hàm dưới thôi, còn hàm trên đã rụng cả rồi!) mà trêu tôi: “Đó, phá ngoại nên bị cậu ông trời rầy đó!” Rồi ngoại kể cho tôi nghe câu chuyện cóc kiện trời và sự tích vì sao gọi cóc là cậu ông trời, hay chuyện vì sao cóc nghiến răng thì trời sắp mưa...
Vườn trầu của ngoại là một chấm xanh nhỏ nhoi trong khu vườn nhỏ của ngoại vào mùa nắng, bên cạnh ba cái chấm to tướng, mà chẳng dịu dàng chút nào, của ca cây vú sữa đã lên hàng lão. Dù lá trầu xanh không thẫm một màu xanh nhưng dường như cái màu hơi vàng của nó hợp với màu của mùa nắng hơn. Mùa mưa, cây cối xum xuê, vườn trầu vẫn nổi bật với cái màu dị thường của nó. Mùa nào nơi đây cũng là nơi ngoại tôi dành những giây phút bận rộn mà đầy tình cảm với công việc tưới táp và chăm sóc nó.
Và, mùa nào nơi đây cũng là vườn và là nhà của lũ cóc tía.
***
Mẹ tôi thường kể đi kể lại một câu chuyện về ngoại có liên quan đến cóc. Năm đó, tôi mới vừa thôi nôi trong cảnh nghèo nàn với một nồi chè khoai nhỏ, vì cả vùng bị mất mùa. Ngay mấy tháng trước đó, trong dịp Tết, ngoại tôi còn tất tả gánh đôi thúng đi ngược đi xuôi và về hớn hở nói: “Có gánh khoai này, ăn tết đỡ rồi!”.
Một lần đi tưới trầu, ngoại bắt được một “nàng” cóc to tướng. Bà mừng rỡ nói: “Chết cóc rồi cóc ơi! Mày mà nấu cháo thì ngọt hơn nấu cá lóc!” Nhưng ngoại không biết đó là một con cóc có chửa mà chỉ nghĩ là một con cóc... mập. Bà liền làm thịt, phi hành tỏi thơm phức để nấu cháo, tất nhiên có cả buồng trứng. Tôi chắc rằng trong lúc làm thịt con cóc xấu số kia, tấm lòng người mẹ, người bà hẳn rất sung sướng vì trong hoàn cảnh đói kém mà có một nồi cháo cóc nóng hôi hổi thơm ngon và bổ dưỡng thì còn gì bằng. (Tôi bỗng nhớ chuyện bà của cu Dần trong Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã hăm hở mang về cho cả nhà những tai nấm to để ăn một bữa no nê mà ai ngờ đó là nấm độc!) Làm xong, ngoại múc một chén rồi bảo mẹ tôi đút cho tôi ăn. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà tôi chỉ ăn một hai muỗng rồi nhất định không ăn nữa, dù mẹ tôi có dụ dỗ, ép buộc thế nào. Có lẽ vì cháo ngon và cũng tiếc công ngoại đã làm cực nhọc, mẹ tôi đã ăn hết chén cháo đó.
Ăn xong được một lúc thì mẹ tôi trúng độc. Ban đầu, ngoại tôi cũng không biết là bị ngộ độc do món cháo cóc nên chỉ lăng xăng cao gió, xức dầu. Chừng nghe mọi người nói ra thì bà mới phát hoảng lên và vội vã nhờ hàng xóm võng mẹ con tôi đi bệnh viện huyện, cách đó khoảng ba bốn cây số. Mẹ tôi bị nặng nên phải nằm viện khá lâu nhưng may mắn là qua được, còn tôi chỉ ít giờ sau thì đã khỏe. Tất cả như một phép màu vì cả mẹ lẫn con đều qua khỏi. Có thể, ngoại tôi tin rằng lòng thành của bà đã động lòng Trời Phật nên mới cho mẹ con tôi thoát nạn, vì lúc đó, trong lúc bối rối, bà đã van vái khắp nơi, miệng lúc nào cũng lẩm bẩm cầu Trời khẩn Phật. Mẹ tôi kể lại rằng lúc đó trông bà ngoại tội nghiệp lắm, vì suýt chút nữa thì bà đã giết chết cả con lẫn cháu rồi.
Khoảng thời gian đó, vào năm mất mùa, ba tôi phải tha hương đến tận Cà Mau để làm thuê. Khi về, nghe kể lại, ba ôm tôi mà ròng ròng hai hàng nước mắt.
***
Tôi vẫn nhớ như in những ngày năm sáu tuổi, khi còn ở nhà ngoại để đi học. Mùa khô, các ruộng bưng đất khô nẻ, lởm chởm những gốc rạ, những vết chân trâu bò. Chiều, gió nồm thổi mạnh. Ánh nắng cuối ngày vàng ươm rải từ những ngọn tre đến mấy bụi trâm bầu. Ngoại thường quảy đôi thúng đi nhặt phân trâu phân bò khô về đốt vỏ ngao để lấy vôi ăn trầu. Tôi cũng lon ton chạy theo ngoại, chỉ chỗ nọ, chỉ chỗ kia, rồi nhặt nhạnh, rồi khoe công với ngoại. Hai chiếc bóng dài ngoằng in loang lổ trên mặt ruộng. Cứ thế, cho đến khi đầy hai chiếc thúng hoặc trời đã chạng vạng, hai bà cháu mới trở về nhà. Bấy giờ, tiếng chuông chùa ngân vang vang trầm ấm, mùi nhang ngào ngạt thoang thoảng trong gió, những ánh đèn dầu le lói, những ngọn khói bếp uốn lượn sau mấy bụi tre đưa mùi của rơm rạ, của bữa cơm chiều nồng nàn.
Về nhà, cơm nước xong, trời đã sụp tối, ngoại đổ gánh phân trâu bò khô ra sân, rồi lấy rơm nhóm lửa để đốt mớ vỏ ngao cho “chín” để lấy vôi. Ngao là loài nhuyễn thể có họ hàng với sò, nghêu nhưng to hơn, thịt rất ngọt. Tôi nhớ, hồi con nhỏ ngao có rất nhiều, mua về luộc hoặc nướng ăn, bao giờ tôi cũng đi nhặt lại những vỏ ngao để dành cho ngoại lấy vôi. Khi lửa đã cháy bập bùng, những tiếng nổ lép bép bắt đầu vang lên, nghe rất vui tai. Tôi, em Diệu (con của cậu Út) và mấy đứa trẻ nữa ngồi xung quanh. Ngoại kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện cổ tích. Cứ vậy, cho đến khi lửa tàn, ngao chín…
***
Năm tôi lên 7 tuổi, ngoại tôi bệnh nặng. Vười trầu không ai chăm sóc nên không còn xanh tốt như trước. Tôi nghĩ trầu cũng nhuốm buồn vì phải sắp chia tay với ngoại. Mà cũng phải, vườn trầu như một đứa cháu nhỏ đã thiếu bàn tay chăm sóc của bà nên xanh xao vàng vọt, ốm yếu. Và, nằm trên giường bệnh, không còn tự tay vun tưới vườn trầu, chắc ngoại cũng buồn vì xa đứa cháu ấy lắm!
Một lần, trước lúc ngoại mất vài tháng, bà ra nằm ngoài bộ ván gõ và gọi tôi đến bóp chân. Lúc đó, chân ngoại sưng phù, một triệu chứng của bệnh gan, và đã khá yếu. Tôi nắn nắn hai chân ngoại bằng bàn tay nhỏ xíu của mình. Ngoại khóc, tôi cũng khóc. Bà kể lể chi đó tôi không nhớ. Nước mắt của ngoại chảy dài ngoằn ngoèo trên khuôn mặt nhăn nheo của một đời lam lũ nhòe đi trong nước mắt tôi. Khi viết lại những dòng này và cả bất cứ khi nào nghĩ đến, tôi đều rưng rưng nước mắt. Nếu trong đời có một phút giây nào xúc động nhất thì chính là lúc đó, khi tôi đang cùng khóc với ngoại. Chưa bao giờ tôi thương ngoại như lúc đó. Tôi nhớ lại những lần ngoại bênh tôi khi bị những đứa trẻ khác ăn hiếp; những lần ngoại cặm cụi gỡ cho tôi ăn từng hạt nếp rang thơm lựng; những đêm ngủ với ngoại thơm nồng nàn mùi trầu cau trong từng nếp áo; những bữa ngoại cùng tôi chăm sóc vườn trầu với những lời mắng yêu; cả những lần bị ngoại đánh đòn vì mải chơi không về tắm... Tôi nhớ dáng ngoài xương xương, lưng hơi còng căm cụi gánh nước tưới trầu; nhớ miệng ngoại móm mém nhai trầu với đôi môi thắm đỏ; nhớ bàn tay gầy guộc đầy những vết đồi mồi vẫn thường vỗ về cho tôi ngủ; nhớ tiếng ngoại vang vang hay “chửi chó mắng mèo” mà lòng thì lúc nào cũng thương con thương cháu…
Đó là lần trò chuyện cuối cùng của tôi với ngoại. Sau đó, tôi thỉnh thoảng vào buồng nắm lấy tay ngoại nhưng chẳng dám ở lâu…
Một ngày kia, ngày 27 tháng 8 âm lịch, ngoại tôi ra đi mãi mãi. Mộ ngoại đắp trên một gò cao dưới tán cây xoan râm mát. Có những ngày hoa xoan nở tím, những cánh hoa li ti rụng đầy trên mộ làm tôi nhớ đến bài hát được phổ từ bài thơ Về quê ngoại của Chim Trắng, một nhà thơ gốc Bến Tre: “Hoa tím rụng đầy trên mộ ngoại, ngoại ơi!”.
***
Rồi gia đình tôi tha phương, ít khi có dịp về thăm quê ngoại. Những lần về quê, tôi lại ra đứng dưới tán xoan nhìn hoa rụng mà bồi hồi nhớ lại những ngày thơ ấu, được sống trong vòng tay yêu thương của ngoại, được vùi trốn trong đám lá xanh của vườn trầu, như một thành trì vững chắc, của những gì thuộc về tình cảm thiêng liêng của gia đình, thuộc về quê hương, và cả thuộc về dĩ vãng.
Ngoại mất. Vườn trầu chẳng để làm gì nên cậu Út phá đi. Bây giờ vườn trầu đã mất dấu vết. Chẳng còn những nọc trầu xanh mơn mởn. Chẳng còn những chú cóc nào làm tôi giật mình nữa.
Chẳng còn ngoại nữa. Ngoại ơi!
Quê ngoại tôi ngày xưa là một làng rất nghèo thuộc huyện Bình Đại (Bến Tre). Trước giải phóng, chưa có kênh đào, xung quanh toàn là ruộng bưng: mùa mưa nước ngập trắng đồng nhưng mùa nắng thì đất khô nẻ. Chờ mưa về, mọi người hối hả làm đồng: cày bừa, ủ giống, gieo mạ, cấy và gặt. Đến ngày có lúa chở về chất đầy sân chờ trâu hay bò đến đạp thì cả mười móng tay và mười móng chân đã nhuộm một màu vàng cháy của phèn. Hết mùa, nắng như đổ lửa làm khô nhanh những thửa ruộng mới hôm nào còn xanh lúa để lại trơ trơ những gốc rạ cùng với màu đất xám xịt buồn thiu. Gió nam khan thổi mạnh vốc những nắm cát trên các giồng cát ném tung tóe khắp nơi.
Và, trong nửa cuộc đời đơn độc còn lại vì vắng người bạn đời, ngoại tôi đã sống trong gió và cát như thế để nuôi năm đứa con, mà sau này, chiến tranh đã cướp đi ba đứa lớn…
***
Lúc sinh thời, ngoại tôi là người nghiện trầu. Đi đâu, bà cũng mang theo túi đựng trầu, cau và cái bình vôi cũ kỹ miệng đã bị mẻ mất một miếng. Tôi nhớ có nhiều lần ba mẹ tôi đón bà đến nhà chơi mà quên mang theo trầu thì thế nào bà cũng đòi về cho bằng được dù sau đó lại nói: “Tao về mà nhớ sắp nhỏ quá”! Bà ghiền trầu như người ta ghiền thuốc lá, không dễ gì có thể bỏ được. Thỉnh thoảng họ hàng đến thăm, người biếu buồng cau, kẻ mang chục trầu cũng cảm thấy ấm áp tình quyến thuộc. Sau này khi lớn lên, tôi còn thấy đó là một nét thật đặc biệt của người Việt Nam truyền thống, một đặc trưng của văn hóa nước nhà. Tôi không chắc lắm là trầu cau luôn quấn quýt nhau như trong chuyện cổ tích hay những con người mộc mạc ở quê nhà luôn gắn bó với nhau, cùng chia bùi sẻ ngọt.
Để có sẳn trầu tươi, ngoại tôi có trồng mười mấy nọc trầu không trong vườn nhà. Ngày ngày, bà gánh nước tưới và tự tay chăm sóc từng dây trầu như nâng niu những đứa cháu của mình. Tôi lúc nhỏ ở nhà ngoại để đi học cho gần nên thường lẽo đẽo theo ngoại đi gánh nước và tưới trầu. Tôi thích nghịch những dòng nước mát lạnh đổ rào rào trên những lá trầu xanh mơn mởn. Thích nghe ngoại mắng yêu: “Tổ cha mày! Phá quá làm sao cho ngoại tưới!”, tôi cũng mon men theo ngoại nhổ cỏ và hái những lá già úa vàng bỏ đi. Thỉnh thoảng một vài con cóc bị động nhảy phóc ra ngoài sột soạt trên những chiếc lá làm tôi giật mình. Ngoại lại cười phô hàm răng nhuộm trầu đỏ thắm (chỉ có hàm dưới thôi, còn hàm trên đã rụng cả rồi!) mà trêu tôi: “Đó, phá ngoại nên bị cậu ông trời rầy đó!” Rồi ngoại kể cho tôi nghe câu chuyện cóc kiện trời và sự tích vì sao gọi cóc là cậu ông trời, hay chuyện vì sao cóc nghiến răng thì trời sắp mưa...
Vườn trầu của ngoại là một chấm xanh nhỏ nhoi trong khu vườn nhỏ của ngoại vào mùa nắng, bên cạnh ba cái chấm to tướng, mà chẳng dịu dàng chút nào, của ca cây vú sữa đã lên hàng lão. Dù lá trầu xanh không thẫm một màu xanh nhưng dường như cái màu hơi vàng của nó hợp với màu của mùa nắng hơn. Mùa mưa, cây cối xum xuê, vườn trầu vẫn nổi bật với cái màu dị thường của nó. Mùa nào nơi đây cũng là nơi ngoại tôi dành những giây phút bận rộn mà đầy tình cảm với công việc tưới táp và chăm sóc nó.
Và, mùa nào nơi đây cũng là vườn và là nhà của lũ cóc tía.
***
Mẹ tôi thường kể đi kể lại một câu chuyện về ngoại có liên quan đến cóc. Năm đó, tôi mới vừa thôi nôi trong cảnh nghèo nàn với một nồi chè khoai nhỏ, vì cả vùng bị mất mùa. Ngay mấy tháng trước đó, trong dịp Tết, ngoại tôi còn tất tả gánh đôi thúng đi ngược đi xuôi và về hớn hở nói: “Có gánh khoai này, ăn tết đỡ rồi!”.
Một lần đi tưới trầu, ngoại bắt được một “nàng” cóc to tướng. Bà mừng rỡ nói: “Chết cóc rồi cóc ơi! Mày mà nấu cháo thì ngọt hơn nấu cá lóc!” Nhưng ngoại không biết đó là một con cóc có chửa mà chỉ nghĩ là một con cóc... mập. Bà liền làm thịt, phi hành tỏi thơm phức để nấu cháo, tất nhiên có cả buồng trứng. Tôi chắc rằng trong lúc làm thịt con cóc xấu số kia, tấm lòng người mẹ, người bà hẳn rất sung sướng vì trong hoàn cảnh đói kém mà có một nồi cháo cóc nóng hôi hổi thơm ngon và bổ dưỡng thì còn gì bằng. (Tôi bỗng nhớ chuyện bà của cu Dần trong Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã hăm hở mang về cho cả nhà những tai nấm to để ăn một bữa no nê mà ai ngờ đó là nấm độc!) Làm xong, ngoại múc một chén rồi bảo mẹ tôi đút cho tôi ăn. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà tôi chỉ ăn một hai muỗng rồi nhất định không ăn nữa, dù mẹ tôi có dụ dỗ, ép buộc thế nào. Có lẽ vì cháo ngon và cũng tiếc công ngoại đã làm cực nhọc, mẹ tôi đã ăn hết chén cháo đó.
Ăn xong được một lúc thì mẹ tôi trúng độc. Ban đầu, ngoại tôi cũng không biết là bị ngộ độc do món cháo cóc nên chỉ lăng xăng cao gió, xức dầu. Chừng nghe mọi người nói ra thì bà mới phát hoảng lên và vội vã nhờ hàng xóm võng mẹ con tôi đi bệnh viện huyện, cách đó khoảng ba bốn cây số. Mẹ tôi bị nặng nên phải nằm viện khá lâu nhưng may mắn là qua được, còn tôi chỉ ít giờ sau thì đã khỏe. Tất cả như một phép màu vì cả mẹ lẫn con đều qua khỏi. Có thể, ngoại tôi tin rằng lòng thành của bà đã động lòng Trời Phật nên mới cho mẹ con tôi thoát nạn, vì lúc đó, trong lúc bối rối, bà đã van vái khắp nơi, miệng lúc nào cũng lẩm bẩm cầu Trời khẩn Phật. Mẹ tôi kể lại rằng lúc đó trông bà ngoại tội nghiệp lắm, vì suýt chút nữa thì bà đã giết chết cả con lẫn cháu rồi.
Khoảng thời gian đó, vào năm mất mùa, ba tôi phải tha hương đến tận Cà Mau để làm thuê. Khi về, nghe kể lại, ba ôm tôi mà ròng ròng hai hàng nước mắt.
***
Tôi vẫn nhớ như in những ngày năm sáu tuổi, khi còn ở nhà ngoại để đi học. Mùa khô, các ruộng bưng đất khô nẻ, lởm chởm những gốc rạ, những vết chân trâu bò. Chiều, gió nồm thổi mạnh. Ánh nắng cuối ngày vàng ươm rải từ những ngọn tre đến mấy bụi trâm bầu. Ngoại thường quảy đôi thúng đi nhặt phân trâu phân bò khô về đốt vỏ ngao để lấy vôi ăn trầu. Tôi cũng lon ton chạy theo ngoại, chỉ chỗ nọ, chỉ chỗ kia, rồi nhặt nhạnh, rồi khoe công với ngoại. Hai chiếc bóng dài ngoằng in loang lổ trên mặt ruộng. Cứ thế, cho đến khi đầy hai chiếc thúng hoặc trời đã chạng vạng, hai bà cháu mới trở về nhà. Bấy giờ, tiếng chuông chùa ngân vang vang trầm ấm, mùi nhang ngào ngạt thoang thoảng trong gió, những ánh đèn dầu le lói, những ngọn khói bếp uốn lượn sau mấy bụi tre đưa mùi của rơm rạ, của bữa cơm chiều nồng nàn.
Về nhà, cơm nước xong, trời đã sụp tối, ngoại đổ gánh phân trâu bò khô ra sân, rồi lấy rơm nhóm lửa để đốt mớ vỏ ngao cho “chín” để lấy vôi. Ngao là loài nhuyễn thể có họ hàng với sò, nghêu nhưng to hơn, thịt rất ngọt. Tôi nhớ, hồi con nhỏ ngao có rất nhiều, mua về luộc hoặc nướng ăn, bao giờ tôi cũng đi nhặt lại những vỏ ngao để dành cho ngoại lấy vôi. Khi lửa đã cháy bập bùng, những tiếng nổ lép bép bắt đầu vang lên, nghe rất vui tai. Tôi, em Diệu (con của cậu Út) và mấy đứa trẻ nữa ngồi xung quanh. Ngoại kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện cổ tích. Cứ vậy, cho đến khi lửa tàn, ngao chín…
***
Năm tôi lên 7 tuổi, ngoại tôi bệnh nặng. Vười trầu không ai chăm sóc nên không còn xanh tốt như trước. Tôi nghĩ trầu cũng nhuốm buồn vì phải sắp chia tay với ngoại. Mà cũng phải, vườn trầu như một đứa cháu nhỏ đã thiếu bàn tay chăm sóc của bà nên xanh xao vàng vọt, ốm yếu. Và, nằm trên giường bệnh, không còn tự tay vun tưới vườn trầu, chắc ngoại cũng buồn vì xa đứa cháu ấy lắm!
Một lần, trước lúc ngoại mất vài tháng, bà ra nằm ngoài bộ ván gõ và gọi tôi đến bóp chân. Lúc đó, chân ngoại sưng phù, một triệu chứng của bệnh gan, và đã khá yếu. Tôi nắn nắn hai chân ngoại bằng bàn tay nhỏ xíu của mình. Ngoại khóc, tôi cũng khóc. Bà kể lể chi đó tôi không nhớ. Nước mắt của ngoại chảy dài ngoằn ngoèo trên khuôn mặt nhăn nheo của một đời lam lũ nhòe đi trong nước mắt tôi. Khi viết lại những dòng này và cả bất cứ khi nào nghĩ đến, tôi đều rưng rưng nước mắt. Nếu trong đời có một phút giây nào xúc động nhất thì chính là lúc đó, khi tôi đang cùng khóc với ngoại. Chưa bao giờ tôi thương ngoại như lúc đó. Tôi nhớ lại những lần ngoại bênh tôi khi bị những đứa trẻ khác ăn hiếp; những lần ngoại cặm cụi gỡ cho tôi ăn từng hạt nếp rang thơm lựng; những đêm ngủ với ngoại thơm nồng nàn mùi trầu cau trong từng nếp áo; những bữa ngoại cùng tôi chăm sóc vườn trầu với những lời mắng yêu; cả những lần bị ngoại đánh đòn vì mải chơi không về tắm... Tôi nhớ dáng ngoài xương xương, lưng hơi còng căm cụi gánh nước tưới trầu; nhớ miệng ngoại móm mém nhai trầu với đôi môi thắm đỏ; nhớ bàn tay gầy guộc đầy những vết đồi mồi vẫn thường vỗ về cho tôi ngủ; nhớ tiếng ngoại vang vang hay “chửi chó mắng mèo” mà lòng thì lúc nào cũng thương con thương cháu…
Đó là lần trò chuyện cuối cùng của tôi với ngoại. Sau đó, tôi thỉnh thoảng vào buồng nắm lấy tay ngoại nhưng chẳng dám ở lâu…
Một ngày kia, ngày 27 tháng 8 âm lịch, ngoại tôi ra đi mãi mãi. Mộ ngoại đắp trên một gò cao dưới tán cây xoan râm mát. Có những ngày hoa xoan nở tím, những cánh hoa li ti rụng đầy trên mộ làm tôi nhớ đến bài hát được phổ từ bài thơ Về quê ngoại của Chim Trắng, một nhà thơ gốc Bến Tre: “Hoa tím rụng đầy trên mộ ngoại, ngoại ơi!”.
***
Rồi gia đình tôi tha phương, ít khi có dịp về thăm quê ngoại. Những lần về quê, tôi lại ra đứng dưới tán xoan nhìn hoa rụng mà bồi hồi nhớ lại những ngày thơ ấu, được sống trong vòng tay yêu thương của ngoại, được vùi trốn trong đám lá xanh của vườn trầu, như một thành trì vững chắc, của những gì thuộc về tình cảm thiêng liêng của gia đình, thuộc về quê hương, và cả thuộc về dĩ vãng.
Ngoại mất. Vườn trầu chẳng để làm gì nên cậu Út phá đi. Bây giờ vườn trầu đã mất dấu vết. Chẳng còn những nọc trầu xanh mơn mởn. Chẳng còn những chú cóc nào làm tôi giật mình nữa.
Chẳng còn ngoại nữa. Ngoại ơi!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét