Thứ Tư, 21 tháng 11, 2007

Trường cũ

Trường THPT Tân Phú (Đồng Nai)
Chuyện “cổ tích” của một ngôi trường

Nhắc đến Trường THPT Tân Phú (huyện Định Quán – Đồng Nai), nhiều người hay nói, đây là một mái trường “từ không đến có”. Quá trình 30 năm thành lập và phát triển của trường như là một chuyện cổ tích.Từ “không”
Thành lập từ tháng 8-1976, Trường THPT Tân Phú từ chỗ phải mượn tạm Trường THCS Phú Lâm để học, thầy và trò của trường lần lượt phải di dời qua nhiều địa điểm, cho đến năm 1980 mới ổn định ở xã Gia Canh. Năm 2000, trường dời về ấp Hiệp Quyết (thị trấn Định Quán) với quy mô 1 trệt 3 lầu gồm 36 phòng học, 9 phòng chức năng, trong khuôn viên rộng gần 2 ha. Ngôi trường này cũng đã “thay hình đổi dạng” nhiều lần, từ những lán nhà tạm làm bằng tranh, tre (1976 – 1980) rồi mái tôn – vách gỗ (1981 – 1985) đến mái ngói – tường xây (1986 – 1999).Anh Lê Mậu Hiệp, học khóa 1978 – 1981 kể: “Tôi được tuyển vào trường năm 1978, năm này trường vừa chuyển từ xã Phú Điền về xã Gia Canh. Cơ sở vật chất là một vùng ao ruộng mênh mông. Chúng tôi cùng các thầy cô và anh chị vào rừng chặt cây, cắt tranh về tự cất nhà để học, để làm văn phòng và nhà trọ cho giáo viên và học sinh. Thầy Nguyễn Đăng Tình, Hiệu trưởng nhà trường, là giáo viên mới ra trường năm 1977, kể: “Kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi về mái trường này là ngày đầu tiên đi nhận trường. Tôi phải đi cả ngày trời, vừa đi bộ, vừa đi nhờ xe than, phải hỏi rất nhiều người mới tìm được đến trường”. Về đời sống của giáo viên và học sinh, thầy Nguyễn Tiến Minh, nguyên giáo viên môn sử của trường từ năm 1980 nhớ lại: “Hồi đó, ngoài giờ lên lớp, tôi phải đi làm rất nhiều nghề, từ việc đi rừng lấy củi, làm thợ mộc đến cả đi làm thuê cho bà con trong vùng”. Khó khăn là thế, nên thầy thì vừa dạy vừa làm, trò thì vừa làm vừa học. Làm, tức là phải kiếm sống, bằng đủ việc, đáng kể nhất là tăng gia sản xuất ngay trong khuôn viên trường: trồng lúa, rau đậu, khoai bắp hay nuôi heo gà để có thêm thức ăn và thu nhập. Chị Phạm Thị Ly, học khóa 1979 – 1982, hiện là tiến sĩ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu văn hóa giáo dục thuộc Đại học Sư phạm TP.HCM, nhớ lại: “Chúng tôi đã sống bằng cây rau dền gai mọc dại ở lề đường, bằng những hạt bắp xay mà ngày nay chỉ dùng để nuôi gia súc mà bạn bè chia sớt. Có lúc khó khăn quá tôi muốn nghỉ học. Thầy giáo dạy văn và là chủ nhiệm lớp tôi năm đó là thầy Đỗ Văn Ban đã nói rằng thầy không muốn nghe tôi trình bày bất cứ lý do gì và tôi phải tiếp tục học”. Đến “có”
Sinh hoạt ngoại khóa của học sinh Trường THPT Tân PhúVậy đó, vượt qua mọi khó khăn, thầy và trò đã từng bước đưa hoạt động dạy và học đi vào nền nếp. Từ chỗ chỉ có 53 học sinh của 2 lớp 10 và 11 ở năm học 1976 – 1977, trường đã đạt được “thành tựu” đầu tiên vào năm 1978 khi 18/19 học sinh đỗ tốt nghiệp lớp 12 và đạt danh hiệu tiên tiến cấp tỉnh. Thầy Đỗ Văn Ban, nhà giáo ưu tú, nguyên Hiệu trưởng nhà trường giai đoạn 1982 – 2003, người thầy của chị Phạm Thị Ly, bồi hồi nói: “Đó là một ngôi trường văn hóa, chính từ một tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, thân thương. Ở đó những thầy cô đi trước trở thành những tấm gương và sẵn sàng giúp đỡ lớp đàn em tiến bộ, thể hiện nét tinh thần trách nhiệm với nghề, yêu thương, tận tâm giáo dục học trò. Ở đó tập thể học sinh đa phần biết mình nghèo, cha mẹ mình khổ nên gắng sức học tập, lớp trước làm gương cho lớp sau, lớp sau phấn đấu theo các anh chị, hễ là học sinh Tân Phú thì cưu mang, giúp đỡ nhau”. Trong 30 năm qua, Trường THPT Tân Phú liên tục đạt được những thành tích cao trong dạy và học, nhiều năm liền là lá cờ đầu trong ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Năm 2000, trường được tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Suốt từ năm 1998 - 2005, trường đều có học sinh đạt giải cấp quốc gia. Năm 2005, trường được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn quốc gia. Liên tục nhiều năm qua, trường luôn có giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh.Từ năm học 2005 – 2006, trường đã thực hiện hiệu quả ứng dụng tin học hóa và các phương tiện hiện đại trong giảng dạy và quản lý. 100% giáo viên và 40% số tiết đã ứng dụng công nghệ thông tin; nhiều môn học như sinh học, vật lý, hóa học, kỹ thuật… trước đây phần nhiều phải “dạy chay, học chay” thì hiện đều có tiết thực hành, học sinh được làm thí nghiệm và nghiên cứu qua băng hình. Hiện trường có 3 phòng sử dụng công nghệ thông tin, gồm 2 phòng máy với 50 máy dành cho học sinh (học ngoại ngữ và một số môn khác) và 1 phòng máy dành cho giáo viên soạn giáo án và truy cập internet.Một đặc điểm không thể không nhắc đến ở Tân Phú chính là sự kế thừa trong đội ngũ giáo viên. Hiện trường có gần 30 giáo viên (chiếm trên 30%) xuất thân từ học sinh của trường. Thậm chí, có lúc tỉ lệ này đạt gần 50%. Hiện nay, THPT Tân Phú không đơn thuần là một trường anh hùng mà đã là một “thương hiệu”. Hàng năm, tỉ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học – cao đẳng chiếm từ 30 – 35%.
Bài đăng báo Giáo dục TP.HCM, ngày 5-1-2007
BA TÔI VỚI NHỮNG LỜI TRỐI CỦA LƯU BỊ

Ba tôi thông thuộc khá nhiều truyện Tàu. Ông có thể kể hàng giờ từ chuyện "Phong Thần" qua "Đông Chu", đến "Hán Sở tranh hùng", "Tam quốc", "Tùy Đường", rồi "Ngũ hổ bình Tây", "Tây du ký"... Tôi cũng có thể nghe hàng giờ mà không biết chán. Giọng ông ồm ồm nhưng ấm áp lạ thường. Có đoạn nào không hiểu, tôi thường ngắt ngang lời ông để hỏi mà chưa bao giờ bị rầy rà. Thì khi giải đáp xong, ông hay hỏi "đến chỗ nào rồi" rồi lại tiếp tục câu chuyện của mình như là cái mạch cảm hứng không hề bị gián đoạn. Đọc sách, nhất là văn học cổ điển Trung Quốc, là một phần rất quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, hiểu biết của ông nói chung và về kiến thức văn học, lịch sử nói riêng vì trong thời loạn lại sinh ra trong gia đình nghèo, ông chỉ học chưa hết lớp ba trường làng và vẫn lắm khi nói rằng mình... không biết chữ.
Học được cái thú đọc truyện Tàu của ba, tôi khi vừa biết chữ cũng đã lò mò đánh vần từng chữ nhỏ xíu, từng câu sệt chữ trong quyển "Tam quốc chí" (bản cũ). Cộng với những câu chuyện kể của ba, tôi đã phần nào hiểu được nội dung chính của tác phẩm này trước khi đọc toàn bộ vào những năm học trung học. Tôi cũng học được sự yêu ghét của ba tôi đối với các nhân vật trong Tam Quốc. Ba tôi nói, Lưu Bị là kẻ giả nhân giả nghĩa (tôi được biết là có nhà phê bình cũng có ý kiến tương tự), còn Tào Tháo tuy tàn ác nhưng là một trong những nhân vật có tài nhất của bộ truyện. Tuy vậy, cái mà ba tôi học (và qua đó tôi cũng được học) được nhiều nhất lại là của Lưu Bị.
Truyện viết rằng, sau khi không nghe lời khuyên của Khổng Minh mà nhất quyết đi báo thù cho Quan - Trương, Lưu Bị đại bại trước hỏa công của Lục Tốn ở Hào Đình và phải lui về Bạch Đế Thành để trốn sự truy đuổi của quân Ngô. Tại đây, Lưu đã viết di chiếu trối cho con trưởng là Lưu Thiện (có sách viết là Lưu Thiền). Chiếu có đoạn viết: "Các con! Phải cố gắng lên mới được! Chớ thấy điều ác nhỏ mà cứ làm, chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm! Có hiền có đức mới phục được lòng người. Đức của cha con mỏng manh, chớ nên bắt chước! Các con cùng làm việc với thừa tướng, phải đối đãi như cha, chớ có lười, chớ có quên! Anh em các con phải làm thế nào cho có tiếng khen mới được! Gắn nhớ mấy lời, nhớ lấy! Nhớ lấy!"
Chiếu đọc nghe thật xúc động và cuối câu đều kết thúc bằng dấu chấm cảm (theo bản dịch). Đó là một chuỗi các câu cầu khiến, một chuỗi những lời yêu cầu, khuyên răn tha thiết của người cha trước phút lâm chung.
Ba tôi thường chỉ nhắc lại câu "Chớ thấy điều ác nhỏ mà cứ làm, chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm!" như là một lời khẳng định quan niệm sống bất di bất dịch của người. Thỉnh thoảng trong những buổi chuyện trò, ba tôi lại nhắc câu ấy như là lời nhắn nhủ, dặn dò chân thành mà tôi không bao giờ được quên. Lưu Bị ngày xưa (qua sách) chỉ dạy con vào lúc cuối đời của mình (để đến nỗi đánh mất cơ đồ), còn ngày nay, tôi được ba tôi uốn nắn, kềm cặp từ thuở nhỏ và mỗi bước chân của tôi trên đường đời, tôi lại nhận được những lời nhắc nhở, khuyên nhủ chân thành.
Lớn lên, đi học, rồi khi ra trường nhận công tác tôi đều xa nhà, và không còn có nhiều dịp gần gũi với ba nữa. Những khoảng thời gian ngắn ngủi gặp nhau, sau khi bàn luận đủ thứ chuyện trên đời, ba tôi lại trầm ngâm với những lời "thiện, ác" của Lưu Bị. Bằng kinh nghiệm của mình, ba tôi hay nói: "Con chớ nên chăm bẳm việc lo làm giàu. Vì so với ba, con được học hành đến nơi đến chốn, chắc thế nào cũng không phải chịu cảnh chạy ăn từng bữa, nên con cũng không cần phải lo "vinh thân phì gia" rồi thành ra người phạm pháp. Khi có con, con cũng phải lấy việc dạy con làm trọng, không được để đến khi sắp chết rồi mới trối như Lưu Bị thì dở quá!". Hầu như câu chuyện bao giờ cũng vậy, cũng kết thúc bằng những lời "giáo huấn" khá nặng nề như thế! Ban đầu tôi hơi phật ý nhưng dần dần cũng hiểu ra rằng chính vì ba tôi lo xa cho tôi. Với nhiều người cha khác, việc làm giàu bằng mọi giá của con cái luôn được khuyến khích nhưng với ba tôi thì khác. Ông chưa bao giờ nói với tôi là phải cố làm giàu. Tôi xem đó là một "rào cản" hữu hiệu để tôi khỏi rơi xuống vực thẳm của sự mù quáng vì tiền tài và danh vọng. Dần dần, tôi càng cảm thấy ba tôi thật có lý và khi nào ông "quên" những lời nhắc lại đó, tôi lại cảm thấy thật băn khoăn.
Với tôi, ba chính là người thầy lớn nhất của cuộc đời tôi. Ba đã cho tôi tất cả, từ những điều nhỏ nhặt nhất đến những khái niệm lớn lao của cuộc sống và xã hội, dĩ nhiên là bằng những cách giản dị và bình dân, mà cũng rất gần gũi và cụ thể, như cuộc đời của ông vậy.
Tôi nhớ câu chuyện về Tử Lộ, một học trò của Đức Khổng Tử, thuở hàn vi đi kiếm củi đổi gạo về nuôi mẹ già, sau làm quan thỉnh thoảng lại khóc vì không còn mẹ để phụng dưỡng. Tôi tự nghĩ, còn có cha mẹ để nghe những lời dặn dò, nhắn gửi, còn được hầu hạ sớm hôm thì chẳng phải hạnh phúc hơn nhiều sống trong giàu sang mà lúc nào cũng nơm nớp với những tai họa bất ngờ?

Kỷ niệm gia đình

NGÀY XƯA ĐI COI HÁT

Tôi nhớ những lần đi coi cải lương ở quê hai mươi năm trước. Quê tôi nằm trên một cù lao nên trở thành cách trở. Còn chỗ tôi ở lại càng cách trở bởi nằm mông quạnh giữa một vùng quê hẻo lánh. Năm thuở mười thì mới một đoàn văn công về diễn. Nhà tôi nằm giữa đồng, mỗi bận có đoàn hát về diễn thì âm thanh theo gió vọng qua mấy bờ kênh nghe vang vang, cứ như tiếng của diễn viên ở ngay dưới lòng kênh. Tôi mê lắm. Cái tuổi thơ nhiều màu sắc và nhiều sự tưởng tượng làm sao! Nhưng tôi vẫn chưa lần nào đi coi hát thì vẫn không thể hình dung người ta hát ra làm sao, sân khấu nó như thế nào. Sự tưởng tượng qua những lần nghe hát trên đài thì mơ hồ lắm.
Lần đó ba tôi đã đưa cả nhà đi xem vở cải lương lịch sử Gánh cỏ sông Hàn, một tuồng tích nổi tiếng về cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Đêm đầu năm không trăng, nước mặn biến thành muôn vì sao lấp lánh cu sa vào nhịp dầm bơi của ba tôi. Con kênh từ nhà đến "giồng" - nơi có đông dân sinh sống, cũng là nơi dựng rạp, thường ngày gần sao đêm ấy đi lâu thế! Từ xa đã nghe tiếng trống, tiếng nhạc xập xình của sân khấu, gợi cho tôi một sự nôn nao khó tả. Tôi giục ba bơi xuồng nhanh tay để lần đầu được thấy cái là sân khấu, để xem những người gọi là nghệ sĩ cải lương, mà lâu nay tôi chỉ được nghe qua sóng radio hoặc từ loa phóng thanh thuận gió vọng xuống dòng kênh ngay trước nhà. Rồi thì cũng đến rạp. Gọi là rạp cho nó đúng tên mà cũng để cách điệu hóa, chứ nếu giở tự điển ra mà tra chắc lạ lắm. Rạp vốn là nhà máy đường của xã, với sân khấu là một khoảng sân được rào lại để bán vé, có mấy người đang canh người ta vào coi "cọp". Đó đây còn nồng nồng mùi bã mía, vang vang tiếng nói cười lẫn trong những tràng âm thanh gần như hết công suất của một đám nhạc cụ, lấn át cả tiếng máy nổ phát điện cũng chạy phành phạch không chịu thua kém.
Lần đầu tiên đến một nơi gọi là rạp hát, tôi thấy cái gì cũng lạ, dù nhà máy đường với tôi thì chẳng lạ gì. Tôi vẫn nhớ như in mấy đứa trẻ toan bẻ rào chui vào bên trong liền bị nhung người gác tóm cổ, đứa bị xách tai, đứa bị đá đít, bóng rọi to trên vách, khiến tôi hết hồn.
Đến nơi, ba mua vé rồi cả nhà dắt nhau vào bên trong chờ sân khấu mở màn. Bên ngoài, người ta cũng lũ lượt vào, không phải chỉ vì giá vé bình dân mà còn vì sự yêu thích bộ môn cải lương và nhất là đã lâu lắm mới có một đoàn hát từ trên tỉnh về đây diễn. Trong lúc chờ đợi, mẹ đi mua mấy bịch đậu phụng rang, anh em chúng tôi vừa nhấm nháp hương vị thơm lừng của đậu vừa nghe ngóng và quan sát khắp nơi. Tôi thấy cái gì cũng lạ, cái gì cũng ngộ, và ngộ nhất là cái lò đường ngày nào chạy phun khói đen kịn giờ có thể trở thành một rạp hát nho nhỏ với cái chỗ từng là nơi để đường làm sân khấu còn chỗ chất mía lại là khán đài. Người ta hầu như ngồi bệt xuống đất, họ cười cười nói nói, vừa bàn tán những chuyện bên lề của đoàn hát, vừa nói chuyện đồng án. Ba tôi ngồi ngay phía sau mẹ con chúng tôi, cũng đang nói chuyện với mấy người đàn ông bên cạnh vừa có ý canh chừng anh em chúng tôi có thể vì tò mò mà chạy lạc đi mất.
Rồi sân khấu cũng mở màn. Những nghệ sĩ môi đỏ má hồng vừa hát vừa múa may trông thật vui mắt. Tôi thích nhất là đoạn anh hề Minh Tàng được mời uống rượu, người mời (tôi đã quên mất nhân vật này) cứ liên tục mời nhưng chỉ toàn uống một mình rồi lại hỏi: "Ngon hôn Minh Tàng?" Minh Tàng trả lời: "Ngon cái lỗ mũi". Người ta cười rần rần. Tôi cũng cười ngặt nghẽo. Lâu lâu đến một đoạn xúc động, mẹ tôi lại sụt sịt, nhưng đến đoạn hài hước mẹ lại cười. Tôi thấy lạ nhưng nhìn quanh hầu như cô nào, dì nào cũng thế!
Rồi tuồng cũng vãn. Tôi coi nhưng chẳng hiểu nó nói cái gì. Trên đường về ba giải thích cho tôi nghe. Tôi cũng hiểu sơ sơ và cái ý thức của một đứa trẻ đã hình thành một chút tình cảm về cải lương và đã là cải lương thì nói về chống giặc! Lên xuồng, trong lúc ba ngồi lái mẹ ngồi mũi cùng ra sức bơi ngược nước thì mấy anh em chúng tôi chơi trò "mời rượu". Tôi hỏi: "Ngon hôn Minh Tàng?", hai đứa em thi nhau trả lời: "Ngon cái lỗ mũi!" Cả năm người cùng cười, tiếng cười vọng dưới dòng kênh nghe vang vang.
Đến nhà, chúng tôi lên giường ngủ. Đêm không còn tiếng nhạc, tiếng trống ồn ào nữa mà chỉ còn tiếng lá dừa ngoài sân xào xạc, lâu lâu lại vang một tiếng chim trời lạc đàn kêu xao xác. Chúng tôi chìm vào giấc ngủ rất nhanh, trong chiêm bao, tôi còn thấy mình làm tướng quân với tay kiếm múa may đang đánh giặc và xen vào đó là câu: "Ngon cái lỗ mũi" của anh Minh Tàng.
Suốt thời niên thiếu, tôi không có nhiều lần được cùng cả nhà đi xem cải lương như thế, vì rất hiếm khi đoàn văn công về xã hát như thế. Nhưng mỗi lần cả nhà cũng đóng cửa lặng lẽ bơi xuồng đi xem hát đều để lại cho tôi những kỷ niệm, những tình cảm sâu sắc. Tôi càng có thêm nhiều dịp để thấy bàn tay rắn chắc của ba, vòng tay dịu dàng của mẹ, như là một tường thành vững chắc cho chúng tôi lớn lên thành người. Và cũng qua những tuồng tích như thế này, tôi bắt đầu có những tình cảm đầu tiên về loại hình sân khấu truyền thống, về tình yêu quê hương đất nước.
Tất cả những điều đó đã bắt đầu cho tôi trở thành người.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007

Đọc sách

TÂM HỒN CAO THƯỢNG – QUYỂN SÁCH GỐI ĐẦU GIƯỜNG

Tâm hồn cao thượng của Edmond de Amacis là một những tác phẩm dạy làm người hay nhất, đáng đọc nhất. Đã hai mươi năm, tôi vẫn nhớ đoạn trích trong sách tập đọc lớp 5: "Cố lên! Tên lính nhỏ trong đạo quân lớn lao kia! (…) Lấy sách vở làm khí giới, lấy lớp học làm quân đội, lấy thế giới làm bãi chiến trường, coi sự ngu dốt là cừu địch và lấy sự văn minh của nhân loại làm cuộc khải hoàn, con phải phấn đấu luôn luôn và chớ hề làm tên lính hèn nhát!". Đây là lời răn của người cha đối với đứa con chểnh mảng việc học, mà cũng chính là những lời dặn dò của ba tôi khi người dạy tôi làm bài tập làm văn viết cảm nhận về đoạn văn này.
Tâm hồn cao thượng là những câu chuyện ngắn, những bức thư... lấy bối cảnh tại thành phố Torino những năm cuối thế kỷ XIX, về những người mộc mạc, bình thường, nhưng nhiều khi chuyện của họ rất đỗi phi thường. Này là chuyện người tù số 78 tỉ mỉ đẽo tặng người thầy dạy chữ của mình một chiếc bình mực bằng gỗ; một em bé can đảm liều thân cứu bạn; một cậu bé tự mình sang châu Mỹ để tìm mẹ... cùng nhiều chuyện ứng xử tinh tế khác, thể hiện tấm lòng cao thượng của các nhân vật. Có những bài học về lòng yêu nước, lòng can đảm, sự hy sinh và cả tính ích kỷ, hợm hĩnh... Hầu như chuyện nào cũng xúc động và đáng để suy ngẫm. Ở đó, tình yêu nước, tình cảm gia đình, thầy trò, bạn bè... luôn được thể hiện một cách cao đẹp, đáng để người đọc nhìn lại và điều chỉnh cách xử sự của mình trong cuộc sống.
Tôi rất thích cách dạy con của ông bà Alberto, cha mẹ cậu bé Enrico. Mỗi lần Enrico có lỗi hoặc làm điều gì không phải, ông bà không la mắng mà chỉ nhẹ nhàng chỉ cho con biết, hoặc gửi một bức thư cho con. Trong thư, tấm lòng thương con bao la của người cha người mẹ dịu dàng phân tích cho con hiểu và nhắc nhở cho con nhớ. Có lẽ mỗi lần như thế, Enrico đều được một bài học đáng nhớ và chắc suốt đời, cậu sẽ không tái phạm.
Như lời nhà xuất bản: "Thời gian trôi đi, nhưng những gì tác giả gửi gắm qua từng bài học của thuở đầu đời về cha mẹ, về lòng yêu nước thương người, về tình thầy trò bè bạn... vẫn không bao giờ cũ, không bao giờ thừa". Vì vậy, Tâm hồn cao thượng luôn là quyển sách gối đầu giường, giúp định hướng cách hoàn thiện nhân cách và cách ứng xử cho nhiều thế hệ.

Thầy Nguyễn Tiến Minh


Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007

Tạp bút

CÁI LỀ ĐƯỜNG

Ở thành phố này, thật khó có thể tìm được một lề đường nào sạch sẽ, không bị đào bới lung tung, mặt lề phẳng phiu, có bóng cây xanh tốt mà lại không bị chiếm dụng để buôn bán, để xe hoặc làm nhiều việc khác. Đã có nhiều cuộc vận động để chấn chỉnh tình trạng này, gọi là “lập lại trật tự lòng lề đường”, nhưng xem ra chắc còn lâu mới thực hiện được đầy đủ và triệt để. Bởi vì hiện nay, lề đường vẫn còn là nơi mưu sinh của rất nhiều con người. Trên lề đường, người ta buôn bán đủ thứ: thuốc lá, tủ tíu gõ, ngao sò ốc hến, nước mía, cơm, chè cháo, quần áo, giày dép, sách báo, đồ lạc xon…
Tôi nhớ mãi câu chuyện về một người quen đã từng gắn bó với cái lề đường hơn hai chục năm trời. Chị là người gốc Sài Gòn. Chồng mất sớm, để lại hai đứa con thơ dại. Ban đầu chị bán căn tin trong một cơ quan, nhưng có nhiều mắc mớ, rồi không thể làm tiếp được nữa. Chị về sắm vài cái bàn ghế, bộ xoong nồi, chén dĩa để… ra bán cơm tấm vỉa hè. Cái quán nhỏ xíu của chị thu hút khá đông khách từ những cán bộ, công chức cho đến bác đạp xích lô, em bé bán vé số, chị bán hàng rong. Cái quán nhỏ xíu đó ngày ngày chắt chiu từng đồng nuôi hai đứa con ăn học. Cô con gái lớn ngày ngày phụ mẹ dọn bàn, bưng cơm, rồi đến khi thành thiếu nữ cũng chẳng lấy gì xấu hổ, tủi thân mà trái lại còn tự hào về mẹ, về cái quán của nhà mình. Còn cậu con trai út lắm khi “vận động” bạn bè về chơi rồi “tranh thủ” phụ mẹ dọn dẹp. Từng dĩa cơm đã góp thêm kiến thức để chị em lần lượt vào đại học.
Đó là một trong vô số chuyện về những người dân của thành phố này. Từng tủ thuốc lá, xe nước mía, quán cơm, gánh chè thưng, thùng mì gõ, bàn cá phê... trên khắp nẻo đường thành phố đã và đang nuôi sống hàng trăm ngàn con người ở thành phố này. Trong số đó không ít người tảo tần với cái khoảng không gian nhỏ xíu trên lề đường để nuôi cả gia đình, nuôi con em mình ăn học nên người. Và, việc buôn bán hè phố lề đường đã tạo thành một nét văn hóa độc đáo của Sài Gòn, vốn chỉ hình thành và tồn tại từ hơn trăm năm nay.
Đó là sự sầm uất, tấp nập của những lề đường như hiển thị một “nhiệt kế”, một thang sống của thành phố. Tôi cho rằng, nơi nào có buôn bán trên vỉa hè đông đúc thì ở nơi đó đời sống cư dân tương đối thấp và có nhiều người qua lại. Hãy thử nhìn ở khu vực trung tâm thành phố, sự buôn bán theo kiểu vừa kể rất ít, mà lề đường chủ yếu bị chính các cửa hàng choán chiếm. Còn ở các khu lao động nghèo, chỗ nào cũng hàng quán, dù lề đường thì nhỏ xíu, hẻm thì chật hẹp, với đủ thứ hàng từ thức ăn uống đến hàng tạp hóa… Đó là sự thông tin kiểu “vỉa hè” với một độ chính xác tương đối thấp nhưng phản ánh một nhu cầu thông tin và cách “đọc” thông tin khá đa dạng và đặc biệt. Cùng một tin trên báo, mà có khi chưa kịp lên báo, nhưng tùy nơi, tùy đời sống kinh tế, tùy tính gắn bó với cộng đồng ở đó, người ta “đọc” theo những cách khác nhau. Trong đó, sự “hướng dẫn” của “người bình luận” – người phát hiện tin đầu tiên và có nhiều thông tin liên quan và có khả năng dẫn dắt thông tin – gần như quyết định đến cách hiểu thông tin mọi người ở khu vực đó. Nhiều người làm báo đã tìm cách khai thác thông tin ở những quá cóc hè phố như thế nào. Còn với những nhà nghiên cứu dư luận xã hội, có lẽ cũng cần tìm cách “lê la” tiếp cận để tìm hiểu dư luận xã hội theo một cách khác với cách lập phiếu điều tra hoặc nghe cơ sở báo cáo lên. Đó là sự giúp đỡ qua lại của những người buôn bán cùng khu vực. Tuy mỗi người buôn bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ khác nhau nhưng người ta vẫn có mỗi quan hệ tương hỗ khá cao. Người bán cơm không có nước mà “buộc” khách của mình phải gọi nước ở hàng bên cạnh. Người bán nước kê sẵn cái ghế bên cạnh điểm vá xe để phục vụ khách trong lúc chờ đợi. Vân vân…
Buôn bán lề đường phần đông là người nghèo. Nhưng như ông bà mình nói: nghèo còn mắc cái eo. Đó là “thuế” lề đường. Dù lề đường là của chung, nhưng có những thế lực vô hình nào đó buộc người buôn bán phải “đóng thuế” cho chúng, ít nhiều tùy mặt hàng, tuỳ khu vực và… tùy máu mặt của kẻ thu thuế nữa. Đó là sự cạnh tranh không sòng phẳng của những người buôn bán cùng mặt hàng hoặc làm cùng dịch vụ. Sự cạnh tranh này là “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, biểu hiện của sự tha hóa có mức độ ở tầng lớp thị dân nghèo. Đó là nguy cơ đối mặt với những nguy hiểm, như vấn đề vệ sinh, nạn giật dọc, mưa nắng… Chất lượng sống của người buôn bán lề đường thường rất thấp, ngay cả nhu cầu vệ sinh cũng rất khó khăn, dẫn đến việc “giải quyết” ở bờ tường, gốc cây… Và cuối cùng là sự giải tỏa của lực lượng công an. Đây là “rủi ro” đã biết trước nhưng cái “đói” đã buộc đầu gối phải “bò”!
Việc chấm dứt tình trạnh buôn bán trên vỉa hè, lề đường là điều tất yếu ở một thành phố văn minh, hiện đại và phát triển. Vấn đề là thời gian thôi. Trong thời gian đó, cuộc sống dựa trên hè phố vẫn còn tiếp diễn và nhiều mầm non mới tiếp tục ra đời bằng dòng sữa lấy từ nơi này, cũng như có tiếp tục những người bán mới. Và vui nhất là sẽ tiếp tục có những người đến trường vào đời và thành danh cũng từ những cái vụn vặt, tạp nhạp ở hè phố của gia đình mình.
Đi bộ trên phố, vướng hàng quán, xe đẩy, thúng mủng… Bực. Nhưng cũng vui. Nếu Sài Gòn thiếu những thứ ấy chắc buồn lắm!

Tiểu phẩm

RA QUÁN!

Tôi cần xác nhận độc thân để bán căn nhà được cha mẹ quy tiên di chúc để lại. Tôi cầm cái đơn ra công an phường. Trưởng công an phường đi vắng, mấy công an viên chỉ tôi ra quán cà phê gần trụ sở. Tôi ngại ngần đi theo hướng tay chỉ của mấy anh đang nhân lúc rảnh rỗi ngồi tụm lại bên mấy li cà phê ngồi tán gẫu. Tôi thấy ngay trên lề đường lẫn trong mấy dãy xe máy là mấy chiếc bàn nhỏ. Vị công an mà tôi cần tìm nổi bật trong bộ đồng phục màu xanh, hàm đính hai gạch và một sao. Tôi tiến lại gần và kéo một chiếc ghế ngồi gần người công an mình cần tìm và bắt đầu trình bày. Anh ta chỉ nghe vài câu đã khoát tay tôi sang bàn bên cạnh. Sau khi nghe tôi nói rõ đầu đuôi và xem xong lá đơn, anh cười một bên mép và nói:
- Anh ghi vậy chứ biết có phải vậy không? Tôi không thể xác nhận được.
- Anh thông cảm, giúp dùm em. Em ở đây từ nhỏ, làm gì có chuyện cưới xin ai đâu. Mà em cũng còn con trai nheo nhẽo mà…
Tôi vừa nói cười để xua tan cái không khí căng thẳng này, nhưng anh ta vẫn cười lạt:
- Tôi xác nhận rồi mai mốt có người đến khiếu nại tranh chấp thì biết làm sao. Thôi vầy, anh về nhờ cảnh sát khu vực xác nhận nhé! Cứ vậy đi!
Tôi định nài nỉ vài câu nữa nhưng chuông điện thoại chợt reo thật đúng lúc, tôi nghe anh ta alô: “Ừ, cứ chờ ở đó đi, lát nữa tôi đến”. Thì ra chắc anh cũng đang có mối nào đó ở một quán nào đó. Tôi tranh thủ hỏi được số điện thoại động của anh X. cảnh sát khu vực. Tôi lập tức gọi, những tưởng ảnh hẹn ra công an phường hoặc trụ sở ban điều hành khu phố hoặc chí ít cũng ở chốt dân phòng ngay đầu hẻm, nhưng thật bất ngờ, ảnh hẹn tôi ra một quán cà phê có tên rất ấn tượng – “Đừng quên em”, thuộc phường lân cận. Tôi tức tốc phóng xe đến cái quán cà phê mà mình chưa bao giờ biết. Vừa đến nơi, tôi được các em phục vụ xinh xắn ra tận cổng đón vào bàn nên tôi cảm thấy thật khoan khoái, không còn bị áp lực như mấy phút trước nữa. Tôi có một dịp tự cho mình thư giãn trong tiếng nhạc, trong khung cảnh hữu tình, trong những tiếng giả lả ngọt ngào của các em tiếp viên.
Chẳng mấy chốc X. đến. Ảnh chạy chiếc @ bóng lộn, nếu không có sắc phục công an thì tôi ngỡ đó là một doanh nhân thành đạt, tiền bạc rủng rỉnh. Tôi bắt đầu trình bày, trong lúc ảnh xem cái đơn. Rất nhanh, ảnh đã hiểu và hỏi tôi:
- Anh mới dọn về ở đây phải không?
Tôi gãi đầu:
- Dạ, em sinh ra và lớn lên từ nhỏ.
Nói rồi tôi chìa cái hộ khẩu cũ xèm, trong đó ghi rõ nơi sinh, nguyên quán và địa chỉ thường trú đều chỉ một nơi. Ảnh vẫn chưa tin:
- Tôi chưa bao giờ gặp anh trong những lần họp khu phố hay tổ dân phố. Ý thức chấp hành nghĩa vụ công dân của anh cần xem lại đó.
Tôi bắt đầu nóng mặt. Tôi mới kể khổ là bận rộn làm ăn, nên giờ này còn độc thân. Mặc dù nói vậy, nhưng tôi bắt đầu “không phục”. Quả thật trước đây thì chỉ có mẹ tôi đi họp, nhưng sau này khi mẹ tôi mất, tôi cũng có đi họp khá đều, nhưng thật ra tôi chỉ thấy mặt anh X. này có một lần, đó là khi ảnh đưa thằng T. trong hẻm ra giáo dục công khai về tội trộm cắp. Còn ngoài ra, tôi chưa hề gặp ảnh ở đâu cả, bởi vậy hẳn nhiên là ảnh chẳng biết tôi.
Tôi kể chưa dứt lời thì ảnh lại thắc mắc tiếp:
- Thì cho là anh ở địa bàn của tôi, thì ai chắc là anh chưa có gia đình?
- Thì em mà kết hôn thì cũng phải ra phường rồi nhờ mấy anh xác nhận chứ đâu nữa. Con gái người ta dễ dầu gì chịu bắt không mà không có đăng ký?
- Nhưng anh lấy lụi, có con rơi, ai mà biết? Tôi làm sao dám xác nhận?
Tôi nóng mặt thật sự.
- Vậy chẳng lẽ không xác nhận được hả anh?
Hỏi xong, tôi liền năn nỉ, thú thật là chưa bao giờ tôi ỉ ôi ai như thế. Trong đầu tôi thoáng hiện ra viễn cảnh: mai mốt bán được nhà, đi khỏi cái chốn này, thoát được sự “kềm cặp” của tay công an khu vực này, thật là sung sướng!
- Không phải không được, nhưng khó lắm, với lại… - anh ngập ngừng vài giây - … phải mất thời gian xác minh, rồi trà nước đi lại.
X. nói đến nay thì tôi đã hiểu. Không phải nãy giờ tôi chưa biết mà quả thực tôi chưa có “kinh nghiệm” nên nhủ thầm “chẳng lẽ đưa trơ trẽn như thế”? Tôi cầm lại cái đơn, rút cái phong bì chuẩn bị sẵn trong túi kẹp dưới cái đơn, rồi làm bộ gãi đầu nói:
- Anh ráng giúp em, không bán được nhà thì căng lắm anh à!
X. cầm lại cái đơn, khéo léo để không làm rớt cái phong bì ở dưới. Tôi đinh ninh là ảnh sẽ đút nhanh vào túi, nhưng không, anh cầm lên xem, thấy hằn lên nét “xanh xanh” sau lớp giấy mỏng và xòa xòe hai ngón tay để “kiểm tra”độ dày của chiếc phong bì, anh mới cho vào túi. Chẳng nói chẳng rằng, ảnh rút điện thoại gọi. Tôi nghe loáng thoáng: “Alô, chú X. đây, có ba ở nhà hôn?... Vậy hả? Chừng nào ba về? Dữ hôn? Ừ, không có gì, chú tính hỏi ba chút chuyện thôi. Ừ…” Tôi đoán là ảnh gọi cho anh K. tổ trưởng dân phố để hỏi về chuyện của tôi, nhưng không gặp. Tôi thoáng thất vọng, vì như thế biết bao giờ mới xác nhận được cái đơn của tôi. Nhưng thật bất ngờ, anh rút viết ra ký cái rẹt vào tờ đơn của tôi. Đoạn, anh nói:
- Tôi giải quyết vầy là linh động cho anh lắm, chứ người khác phải đi xác minh ở tổ rồi khu phố, mất thời gian lắm. Mà nhiều khi không dám xác nhận, vì nếu có tin đồn là có bồ bịch đâu đó thì cũng phải điều tra lại, để lỡ có con cái, bà nhỏ bà lớn rồi sau tranh chấp, ai giải quyết?
Tôi cảm ơn rối rít rồi trả tiền nước cho hai người, không quên “boa” vài ngàn cho em phục vụ. Khi dắt xe ra, tôi thoáng nhìn thấy X. đang nói chuyện điện thoại, không chừng đang hẹn ra quán nữa! Tôi nhìn bảng hiệu, quả đúng là “Đừng quên em”!

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2007

Kỷ niệm thời đi học

HƠN CẢ MỘT NGƯỜI THẦY!

1. Lòng tôi luôn có sự kính trọng đặc biệt đối với thầy Nguyễn Tiến Minh, giáo viên dạy sử trường THPT Tân Phú (huyện Định Quán – Đồng Nai). Tôi còn nhớ năm đầu tiên học thầy, hình ảnh đọng lại là một ông thầy giáo ăn mặc giản dị, đi xe đạp cọc cạch, lên lớp ít cười, lại rất nghiêm khắc. Đừng hòng đứa nào trò chuyện riêng. Không thuộc bài cứ 0 điểm. Nhưng tôi ham học sử, có lần đã nhận được điểm 10 của thầy...
Học thầy 4 năm, tôi thấy thầy không chú tâm bắt học trò phải thuộc các sự kiện, các nhân vật mà cơ bản là phải học từ sự kiện, từ nhân vật đó. Thầy hay ra kiểm tra ở dạng phân tích sự kiện. Thầy cũng có một cách kiểm tra rất "độc", nhằm hạn chế việc quay cóp. Đó là, chỉ đọc từng câu hỏi một, học trò lo làm bài, không dám quay ngang dọc, sợ không chép kịp câu hỏi tiếp... Bài viết làm sai, thầy hay phê: "Quay lộn trang"!
2. Quê ở Hương Sơn – Hà Tĩnh, mãi năm 11 tuổi (1952), khi vùng này giải phóng, thầy Nguyễn Tiến Minh mới được đến trường. Sau khi tốt nghiệp 10/10, thầy gia nhập thanh niên xung phong, trước khi tình nguyện vào miền Nam chiến đấu (1968). Tháng 4-1975, thầy có mặt trong đoàn quân giải phóng Sài Gòn.
Tháng 10-1975, thầy giải ngũ và trở về Hà Tĩnh. Nhớ lại thời trẻ phải đi học trễ, rồi việc học dở dang, thầy ao ước trở thành thầy giáo. Năm 1976, thầy đỗ vào Khoa Sử trường ĐH Sư phạm Vinh và ra trường vào năm 1980. Bằng sự run rủi, thầy đã đến trường THPT Tân Phú. Ngôi trường được thành lập vào năm 1976 này trong nhiều năm đầu là những dãy nhà tranh nứa. Học trò vừa đi học vừa cùng các thầy đi rừng cưa gỗ, chặt nứa về làm lớp học. Là con nhà nông, từng đi rừng, làm mộc, thầy Minh luôn nhiệt tình, xốc vác. Bởi vậy, nhiều thế hệ học sinh rất quý trọng thầy. Không ít người từng ở nhà thầy, cùng ăn độn khoai sắn với thầy nhưng học được những bài học làm người sâu sắc.
Trong nhiều năm, vào ngày nghỉ, thầy vào các khu rẫy để làm thuê, khi thì làm cỏ, trỉa đậu, bẻ bắp... Một lần, thầy vào làm công cho đúng gia đình của một học sinh trong lớp của mình!
3. Từ năm 2002, thầy không còn đứng lớp. Nhưng nhiều người thường thấy một ông giáo tóc bạc trắng ngày ngày chạy chiếc cub 81 đến các trường học hoặc đến các cơ quan, xí nghiệp. Thầy đang đi làm khuyến học!
Có lần thầy kể về "nghiệp" làm khuyến học: Năm 1995, thấy trò Nguyễn Tống Quế chăm học mà nhà nghèo, bố mẹ thường đau yếu, thầy đã đi vận động được một suất học bổng. Với học bổng này, Quế càng nỗ lực hơn và đỗ vào Trường Sĩ quan lục quân 2 (hiện anh Quế công tác tại Huyện đội Định Quán). Từ đó, thầy thấy rằng công tác khuyến học đem lại những kết quả tích cực cho học sinh.
Với uy tín của mình, và cũng từng là thầy của nhiều học trò nay đã thành đạt, thầy có nhiều điều kiện để vận động cho quỹ khuyến học của huyện. Bằng tinh thần nhân ái, thêm lòng thương thầy cao tuổi mà còn vất vả việc xã hội, đã có những “mối ruột” thường tham gia các đợt vận động của thầy, như anh Đỗ Khắc Thăng, chị Nguyễn Thị Trúc Mai, anh Nguyễn Sĩ Minh, anh Lê Bá Thuận, chị Phan Thị Kim Thủy, anh Nguyễn Phú Hiển, anh Trương Sĩ Hùng... Trong đó, phần nhiều các anh chị đang làm việc tại TP.HCM và không ít người định cư ở nước ngoài.
Mấy năm qua, bằng nguồn quỹ khuyến học, hàng trăm học sinh đã được tiếp sức đến trường. Trong số đó, có không ít trường hợp chắc chắn không thể đến được giảng đường nếu không có sự giúp đỡ, không có sự động viên.
4. Tôi là một trong những học trò gần gũi của thầy. Tôi nhận ra ở thầy một cốt cách rất đặc biệt và có sức hút rất lớn. Đó lòng bao dung, nhân hậu, luôn hết lòng vì người khác, nhất là hết mực quan tâm đến những học trò nghèo chăm học. Từ ngày tôi học đại học, rồi làm việc ở xa, mỗi năm chỉ ghé thăm thầy được vài lần, nhưng có lẽ từ lòng yêu đứa học trò nghèo ham học, thầy xem tôi như con cháu trong nhà. Khác hẳn với sự nghiêm nghị trên lớp, ở nhà thầy rất thân tình và cởi mở. Có những việc thầy trò trao đổi thẳng thắn và đôi lần thầy không ngại nói: "Cái này thầy chưa biết. Nếu em có tài liệu thì cho thầy mượn xem"…
Nghe tôi nói công việc của mình, thầy thường dẫn những chuyện này khác trong vốn kiến thức và kinh nghiệm sống của mình để chia sẻ, dặn dò. Có những điều thầy không ngại lời phản biện, khác hẳn với một ông giáo chỉ nói theo sách vở ngày nào...
Biết tôi có viết báo, một lần ghé thăm, thầy phấn khởi mang mấy bài viết về các gương hiếu học cho tôi xem và nói: "Ngày xưa thầy dạy mày, nay thầy tập tành viết báo thì mày dạy lại thầy nhé!" Vậy là thầy đang học viết báo và mày mò đánh vi tính. Thì ra, dù đã nghỉ hưu nhưng thầy vẫn còn cống hiến và học tập.
Với tôi, thầy không chỉ làm thầy trên lớp...

Bài đăng trên Báo Người Lao động, ngày 23-9-2007

Tạp bút

NGHE CẢI LƯƠNG ĐỂ HIỂU THÊM DÂN TỘC

Cải lương là một thể loại sân khấu độc đáo của dân tộc. Nó vừa giữ gìn dòng âm nhạc truyền thống (nhạc cung đình Huế) vừa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của công chúng ở thời đại mới (kịch nói của phương Tây), lại kết hợp được với thể loại sân khấu cổ truyền (hát bộ). Bởi vậy, cải lương mang vẻ đẹp của kịch bản (cái sườn nội dung) ở văn minh phương Tây, cùng với tiếng hát và điệu bộ diễn tả (vũ đạo) của truyền thống dân tộc. Trong đó, phần truyền thống đóng vai trò quyết định vì từ cách hát, ngôn từ, điệu bộ đến tuồng tích đều gắn chặt với quá trình dựng, giữ nước và sáng tạo, tiếp thu các hình thức văn hóa.
1. Tuồng tích:
Từ khi ra đời đến nay, cải lương luôn lấy nội dung đấu tranh giải phóng dân tộc, miêu tả đời sống sinh hoạt của cha ông làm một trong những đề tài quan trọng trong sáng tác. Có giai đoạn, các vở cải lương, các bản vọng cổ trở thành vũ khí đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, đồng thời kêu gọi sự thức tỉnh, sự chuyển biến ý thức về vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc. Những vở Tiếng trống Mê Linh, Nhụy Kiều tướng quân, Thái hậu Dương Vân Nga... đã trở thành bất hủ, cũng như vở Lấp sông Gianh với tiếng nổ khủng bố dưới chế độ Ngô Đình đã tạo nên tiếng vang lớn vượt ra bên ngoài sân khấu thuần túy, cùng với các phong trào đòi hiệp thương, thống nhất đất nước khác đã thể hiện sự sôi sục của quần chúng đương thời. Một số bản vọng cổ cũng có ý nghĩa lịch sử như Tiếng trống Thăng Long thành nói về cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu, Tâm sự Yến phi nói về hành vi "cõng rắn cắn gà nhà" của Nguyễn Ánh...
Bên cạnh đó, tuồng tích của sân khấu cải lương ở giai đoạn đầu (từ những năm 1970 về trước) có một bộ phận lấy các tích cũ của Trung Quốc. Về mặt lịch sử đây là điều hoàn toàn dễ hiểu. Hai đất nước Việt Nam - Trung Hoa nằm cạnh nhau, lại có mối quan hệ gắn bó tương đối mật thiết về văn hóa, kinh tế, chính trị nên sự ảnh hưởng nhiều mặt của Việt Nam từ Trung Quốc là điều gần như tất nhiên. Điều này còn lưu lại trong ngôn từ sử dụng hàng ngày với nhiều thành ngữ, điển tích có xuất xứ từ các câu chuyện Trung Hoa, như "vòng vo tam quốc", "lòng phiếu mẫu", "mạnh thường quân"... Trong cải lương có nhiều vở nổi tiếng như Tiêu Anh Phụng loạn trào, Sở Vân cứu giá, Hoa Mộc Lan, San Hậu... đều lấy cốt truyện của Trung Quốc. Trong các bản vọng cổ có Tần Quỳnh khóc bạn, Hạng Võ biệt Ngu Cơ, Hán đế biệt Chiêu Quân..., kể lại các tích nổi tiếng của văn học Trung Hoa. Chính vì vậy, nghe cải lương càng giúp phong phú vốn kiến thức văn học, lịch sử, văn hóa truyền thống.
2. Cải lương có ý nghĩa hướng thiện
Trừ một bộ phận nhỏ cải lương có nội dung câu khách, lệch lạc tư tưởng (nhất là trước năm 1975), còn lại tuyệt đại đa số có nội dung tích cực, thường hướng người nghe, người xem đến tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, tinh thần tương thân tương ái thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn. Các tuồng, dù lấy tích cũ của Trung Quốc, nội dung vẫn hướng người ta đến những điều tốt đẹp, phù hợp với truyền thống ngàn đời của dân tộc ta. Vở San hậu chẳng hạn, nội dung đề cao tính khí tiết, tinh thần vì quốc gia dân tộc; vở Bên cầu dệt lụa ca ngợi tình yêu chân chính, chống cường quyền và nêu lên giá trị đích thực của con người; vở Lưu Bình - Dương Lễ ca ngợi tình bạn thủy chung, tình yêu son sắt... Các bản vọng cổ càng dễ dàng nêu bật nội dung này vì tính ngắn, gọn, dễ nhớ với Tần Quỳnh khóc bạn ca ngợi tình cảm bạn bè; Tiếng độc huyền cầm trên bắc Cần Thơ gợi tinh thần nhân ái; Con gái của mẹ nhắc nhở luân lý...
3. Cải lương có giá trị bảo vệ bản sắc dân tộc
Những năm 1960, cùng với sự nô dịch về quân sự, sự ảnh hưởng tiêu cực của cái gọi là văn hóa Mỹ với chủ nghĩa hiện sinh đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội. Những từ "lai căng", "mất gốc", "vong bản"... được sử dụng rất nhiều trong lúc này và cũng có rất nhiều hoạt động trong phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc được thực hiện một cách rộng rãi. Trong sân khấu cải lương, một số vở đã phản ánh được tinh thần này, là lời cảnh tỉnh những người đang ở bờ vực vong bản, như Sân khấu về khuya, Tuyệt tình ca, Nước biển mưa nguồn, Con cò trắng...
Các bản ca cổ cũng tham gia rất tích cực vào nội dung này với Rước tình về với quê hương, Lý ngựa ô, Đám cưới đầu xuân...; một số bản còn mô tả đời sống xã hội của Việt Nam trước đây như là một cách kêu gọi giữ gìn nguồn cội như Trăng sáng vườn chè, Trầu cau...
4. Cách sử dụng ngôn từ của cải lương gần gũi với truyền thống
Bản thân là một sản phẩm truyền thống nên các vở cải lương, các bản vọng cổ đều sử dụng các hình thức văn phong, từ ngữ của dân tộc. Đó là các câu lục bát mà hầu như bất kỳ bản vọng cổ (kể cả vọng cổ trong cải lương) đều sử dụng (chẳng hạn: Sông sâu bên lở bên bồi, Tình anh bán chiếu trọn đời không phai - trong Tình anh bán chiếu). Đó là các điệu hò, điệu lý và các làn điệu dân ca khác được sử dụng nguyên vẹn hoặc chuyển nội dung một cách khéo léo (các bản Lý ngựa ô, Lý quạ kêu...). Đó là những lời lẽ dung dị, mộc mạc gần gũi với cuộc sống của người dân Nam bộ...
***
Tóm lại, dù trải qua những bước thăng trầm, cải lương nói chung đã đóng một cai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn các giá trị truyền thống dân tộc, hướng mọi người đến những điều tốt đẹp. Do đó, nghe (và xem) cải lương vào thời điểm nào cũng có ý nghĩa giúp chúng ta hiểu hơn về truyền thống quý báu của cha ông ta. Đó là điều quan trọng để duy trì giá trị của cải lương và giúp cải lương sống mãi với quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là một cách để giáo dục lịch sử nước nhà.

Kỷ niệm gia đình

EM GÁI TÔI VÀ ƯỚC MƠ LÀM CÔ GIÁO
Nguyệt, em gái duy nhất của tôi, là một đứa con gái khá nhút nhát nhưng cũng đầy nhiều cá tính. Nhà nghèo, nên từ nhỏ anh em chúng tôi ngoài thời gian đi học luôn đỡ đần cho ba mẹ nhiều việc, từ bắt cá bắt còng, câu cua, chăn vịt đến cấy hái… Đó là những việc mà hầu hết bọn trẻ ở quê tôi đều làm nên chúng tôi không lấy gì làm cực nhọc. Thậm chí nhiều đứa bạn đồng trang lứa với chúng tôi đã là một trụ cột của gia đình, hàng ngày phải quần quật trên đồng với đủ các công việc. Khi lớn lên, tôi còn sung sướng và tự hào vì đã có một tuổi thơ biết lao động và yêu quý thành quả lao động.
Bé Nguyệt từ lúc lên năm tuổi đã cùng tôi ra ruộng bắt còng, bắt cá, giữ vịt; cùng đi câu cua với tôi... Mỗi lần như vậy, con bé thường mặc bộ quần áo cũ của tôi, đầu đội chiếc khăn ca rô đỏ, là di vật của bà ngoại, lũng đũng mang theo chiếc giỏ nhỏ, hoặc một chiếc thùng thiếc.
Những hôm đi chăn vịt, Nguyệt và tôi (có khi có cả thằng em út), mỗi đứa cầm một cây sào trúc dài, đầu cột phất phơ mấy mảnh vải xanh đỏ để đuổi vịt. Mùa nước kém, anh em vừa canh chừng vịt ăn dưới lòng kinh nước vừa cạn vừa mon men theo các bãi bồi bắt cá. Nguyệt sung sướng mỗi lần bắt được một con cá, dù nhỏ, cũng reo lên khoe với tôi: “Anh Hai ơi! Em bắt được một con nè!” Nói rồi nó lệt bệt chạy về phía tôi để bỏ con cá vào giỏ. Có khi, bùn lún quá đầu gối, con bé như mắc kẹt trong bùn, vừa vùng vẫy, vừa cười khúc khích. Mùa nước đầy cũng là mùa thu hoạch lúa, chúng tôi vừa lùa vịt cho ăn quanh những ruộng mới gặt vừa mót lúa. Lúa mùa (lúa 6 tháng) cao bằng nửa thân người lớn, gặt xong vẫn gốc rạ cao bằng nửa người bé Nguyệt. Theo bầy vịt, lắm hôm Nguyệt bị rạ cắt rướm máu, loang theo nước tưởng chừng như bị một vết thương sâu lắm. Rất nhiều lần nó không khóc, nhưng mặt nhăn nhó vì đau đớn trông thảm hại lắm! Tôi thường lựa cọng rạ to làm thành một chiếc kèn. Cầm lấy chiếc kèn, nó thổi te te mấy tiếng rồi lại cười khúc khích.
Những hôm đi câu cua, Nguyệt “xí phần” mang giỏ, còn tôi vác bó cần câu lủng lẳng những hòn đất nung đỏ làm chì, đi dọc theo những bờ kênh nước vừa lớn để cắm câu. Cắm xong, quay trở lại là có vài cần đã có cua ăn. Nước lên đầy dần, câu cũng được dời dần vào các con rạch nhỏ hoặc lên ruộng. Khi nước sắp ròng thì chúng tôi cũng cuốn cần câu đi về. Những bữa câu khá, con bé phải vất vả mang giỏ cua về nhà. Có hôm câu trúng, tôi dời câu mãi lên ruộng cho đến lúc nhá nhem tối. Trời chợt đổ mưa, anh em phải vội vã lò dò đi về trong mưa lạnh và đường trơn trợt. Thỉnh thoảng, bữa cơm chiều ở những ngôi nhà đâu đó vừa mời gọi, vừa khiêu khích..., con bé nói như khóc: “Anh Hai ơi, em đói bụng quá…”
Những ngày theo tôi đi bắt còng về cho vịt ăn, chúng tôi thường mang theo một chiếc thùng thiếc để đựng còng. Dáng của Nguyệt cũng không cao hơn cái thùng là mấy và nếu nó ngồi xuống có thể nấp được cả sau cái thùng. Có lần con bé bị còng kẹp vì cái bao tay bị rách. Nó ngồi bệt xuống bùn, mếu máo khóc: “Anh Hai ơi, còng kẹp em!” Lúc đó, mấy đứa hay đi bắt chung thấy vậy cười hề hề: “Còng kẹp thì cắn càng nó chứ kêu anh Hai mày làm gì? Hổng lẽ lại cắn nó trả thù?” Thường thì còng kẹp bỏ luôn càng để chạy lấy… mình. Lần đó cũng vậy, tôi lại cắn càng gỡ cho Nguyệt thì máu chảy ròng ròng. Kiếm nước sạch rửa, xong anh em tôi xách thùng về. Về nhà, mẹ tôi lấy vải sạch buộc chỗ đau lại. Tôi hỏi: “Mai đi bắt nữa hôn?” Nguyệt cười hồn nhiên: “Bắt nữa chứ!” Thỉnh thoảng, tôi đi có rủ thêm thằng em út để tập bắt và... xách giỏ cho tôi. Ba anh em đi càng vui chứ sao!
Những lúc rảnh rỗi, Nguyệt lấy sách vở và phấn bảng của tôi để làm cô giáo lên lớp cho thằng em út và một vài đứa trẻ hàng xóm. Đám trẻ rủ nhau chơi trò dạy học dưới những tán dừa và nghe gió từ ngoài kênh vào mát rượi. Mới đi học lớp một được mấy hôm, chỉ vừa biết vài chữ và vài bài thuộc lòng, Nguyệt đã muốn làm cô giáo. “Cô giáo” treo cái bảng lên cây dừa, còn tụi học trò thì đứa ngồi bệt dưới đất, đứa ngồi trên chiếc ghế cóc… “chăm chú” nghe “cô giáo” giảng. Nó cũng bắt chước cô giáo trên lớp lấy cây thước gõ cộp cộp lên bảng mà “phán” rằng: “Cô giáo nói phải nghe à nghen!”, khi có đứa nào chưa hiểu bài thắc mắc hoặc không đồng ý với nó. Rồi con bé đọc ê a mấy bài thơ ngắn trong sách tập đọc một cách say sưa, hoặc những bài học thuộc lòng mà tôi hay đọc, kể cả nhiều bài nó cũng chẳng hiểu nội dung nói gì!
Rồi lên lớp hai, lớp ba, trò chơi làm cô giáo vẫn luôn làm Nguyệt thích thú. Nó vẫn là một cô giáo thường xuyên của đứa em út, với những lần cầm tay tập viết hoặc lấy roi gõ gõ để dọa thằng nhỏ trong lúc đang làm toán. Những lần trông thấy vậy, ba mẹ tôi đều nói sau này Nguyệt sẽ trở thành cô giáo. Tôi đoán trong lòng hai bậc sinh thành sung sướng lắm!.
Những năm đó, em tôi chưa đến mười tuổi!
***
Tthời gian thấm thoát thoi đưa, mới đó mà đã mười mấy năm rồi. Cũng ngần ấy năm chúng tôi làm người xa xứ. Dù ở trên đất khách quê người nhưng với chúng tôi, hình ảnh quê hương và ngôi nhà lá đơn sơ nằm giữa vườn dừa sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong tâm trí. Em gái tôi giờ đây đã là cô giáo viên ở một trường cấp II. Nó đã biến những bài học trẻ thơ ngày xưa cùng với giấc mơ bé bỏng của mình thành hiện thực, bỏ lại sau lưng hình bóng của một đứa trẻ lấm bùn trên đồng mếu máo khóc vì bị còng kẹp. Tôi tin rằng em tôi sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm đó, cũng như không bao giờ quên quê hương xứ sở của mình, nơi bắt đầu những tình cảm thiêng liêng nhất của một con người!
Bài đăng trên Báo Giáo dục sáng tạo, ngày 2.10.2002

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2007

Cửa sổ tâm hồn

Không và có
Các em yêu quý,
Anh còn nhớ rất rõ câu chuyện của ba dạy về phép làm toán. Đó là hồi anh mới năm tuổi, ba bắt đầu dạy làm các phép tính đơn giản. Các em hẳn biết rằng ba của chúng ta chỉ có cách dạy theo những điều gần gũi trong cuộc sống.
Một lần anh hỏi ba: “Ba ơi, có phải mình cộng nhiều số không lại thì sẽ được số một?”. Các em đừng cười! Trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ lập luận rất đơn giản: hẳn là cộng nhiều thứ lại với nhau thì chắc phải được một thứ lớn hơn, nhiều hơn!
Nếu chúng ta theo đại số mà tính lại thì nếu lấy số âm là cộng cho nhau thì kết quả càng âm, tức càng đi xa số không hơn. Nếu con của các em hỏi như thế thì các em sẽ trả lời ra sao? Ba của chúng ta đã trả lời rất đơn giản: “Nếu hôm nay vịt nhà ta không đẻ trứng nào, ngày mai cũng vậy, ngày mốt cũng thế, vậy thì con có được trứng nào không?”. Nghe ba trả lời, anh “à ra thế”, dù có hàng vạn số không cộng lại với nhau cũng không thể nào được một số nào khác ngoài số không.
Lớn lên, anh thấy đó là một triết lí sâu sắc. Đó là ba đã vận dụng một triết lí trong thực tế cuộc sống. Đã không rồi thì không thể nào có được!
Các em yêu quý,
Cuộc sống này cũng vậy thôi. Các em mong mỏi mình sẽ có được những điều lớn lao, tốt đẹp trong cuộc sống thì phải trải qua những cái “có” nhỏ nhặt đầu tiên, chứ không thể bỗng nhiên mà có. Này nhé, em gái, em đã là cô giáo, thì những cái “có” đầu tiên của em là lòng say mê làm cô giáo từ khi em còn chưa đi học; là quá trình nhiều năm dài tích lũy kiến thức; là sự rèn luyện trình độ, nhân cách của một người giáo viên…
Còn em trai, em đang là cử nhân vi sinh vật, là kết quả của nhiều năm tìm tòi, khám phá những điều kỳ diệu của tự nhiên trong chùm phong lan dại hay bụi chuối sau nhà, thậm chí cả bầy nòng nọc mỗi mùa mưa đặc sệt ở các vũng nước; là sự chịu khó nghiên cứu học tập qua hàng loạt thí nghiệm, thực nghiệm…
Nay mai, các em có muốn trở thành những người đi sâu hơn trong lĩnh vực của mình, các em cũng phải tích lũy từ những cái “có” đã qua và những cái sẽ tới. Đó là một quá trình dài, liên tục, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ, bền bỉ.
Anh dặn dò các em cũng chính là tự răn mình, không được lơ là trong cuộc sống. Chúng ta đứng lại tức là thụt lùi vì thế giới này luôn vận động tiến về phía trước. Anh em chúng ta phải không ngừng phấn đấu trong học tập, trong công tác và trong các mặt của cuộc sống, nếu không muốn mình bị đào thải.
Anh càng nhớ câu chuyện “có - không” của ba nhiều năm trước, lại càng trân trọng sự hi sinh của ba và mẹ, những người đã cho chúng ta những điều “có” đầu tiên vô giá của cuộc đời!
Bài đã đăng Tuổi trẻ online ngày 9-2-2006

Tạp bút

CÁI ĐÈN CHAI

Đèn chai là một loại đèn được dùng phổ biến ở nông thôn Tây Nam Bộ trước đây. Đó là loại đèn được làm từ những cái chai thủy tinh, thường là loại chai nửa lít hoặc ba xị, không màu. Người ta lấy một cây sắt cỡ bằng chiếc đũa quấn quanh cổ chai thành một vòng tròn có chừa một đoạn làm tay cầm sau đó bỏ cái vòng đó vào bếp lửa. Khi thanh sắt nóng đỏ, người ta tròng nó vào cổ chai trở lại độ một phút trước khi nhúng cái chai vào nước lạnh. Nhiệt độ thay đổi đột ngột làm cái chai bị vỡ theo cái vòng sắt (nếu không thì tùy theo mức sai lệch mà phải bỏ hoặc mài lại). Thế là đã có cái chai bị mất cổ. Tiếp theo, người ta luồn tim (bấc) vào một cái van xe đạp đã cắt bỏ đầu (hoặc một ống thép nhỏ tương tự), rồi đặt chúng vào cái chai và giữ chúng bằng hai sợi kẽm nhỏ móc vào miệng chai. Để có thể treo lên, người ta lấy kẽm cột quanh thân chai rồi móc vào đó một cọng kẽm to hơn làm quai. Để đèn không vô nước, người ta lấy một cái lon sữa bò đục thủng vài lỗ thoát khói ở đáy và rạch thêm một đường để có thể tròng vào cả cái quai rồi úp vào miệng đèn chai. Đổ dầu vào chai và bật lửa lên, ta đã có một cái đèn chai hoàn chỉnh.
Đèn chai có hột sáng nhỏ xíu phát ra từ trong lớp thủy tinh mờ đục nên khá tù mù. Nó giống như ánh sáng của cái đèn hột vịt, một loại đèn cũng có bấc nhỏ và được che gió bằng một cái bong bóng nhưng được sản xuất có kỹ thuật chứ không phải là loại đèn tự chế. Dù vậy, xem ra nó vẫn còn sáng hơn thứ ánh sáng xanh nhợt yếu ớt của con đom đóm chớp tắt mà ngày xưa vẫn có người dùng để đọc sách. Bạn thử tưởng tượng giữa đồng không mông quạnh được bao bọc bởi trời - đất - nước và đêm đen thì ánh sáng dù nhỏ nhoi của chiếc đèn ấy cũng là thứ ánh sáng lớn lắm, hơn ánh ma trơi lập lòe, thậm chí hơn cả ánh sáng của những lằn sét chớp lòa ngang dọc. Nó lớn vì nó là của con người làm ra, mang hơn ấm của con người và hơn tất cả là nó cháy bền bỉ, một sự bền bỉ có thể nói là bất diệt.
Không biết đèn chai ra đời tự khi nào, ở đâu và để dùng vào việc gì nhưng ở miệt Tây Nam Bộ, nó quả là có nhiều công dụng. Đèn chai được dùng trong sinh hoạt thường ngày vào mỗi tối, người ta treo cái đèn chai ở gian giữa và cả nhà xài chung ánh sáng đó. Nếu có trẻ em đang học bài thì được "ưu tiên" "sở hữu" cái đèn chai cùng thêm chiếc đèn hột vịt trong lúc nó đang say sưa ê a. Tất nhiên ở đây chỉ nói là trẻ em ở lớp một hai thôi, khi các chữ viết của nó còn to và giờ học không lâu. Ánh sáng nhỏ xíu nhưng cũng rọi được một cái bóng to của đứa trẻ in trên vách, để thể hiện rồi nay mai nó cũng có thể trở thành người khổng lồ chăng?
Tôi nhớ ở quê xưa, ngoài vụ lúa, để đắp đổi thêm, một số người làm nghề đóng đáy. Đó là một mảng lưới lớn giăng ngang dòng kênh vào lúc nước ròng để đón lấy tôm cá từ ruộng trôi ra sông. Khi nước bắt đầu ròng là họ thả đáy và cứ độ mười lăm hai mươi phút thì họ cất đụt - là đoạn cuối cùng của dải lưới - một lần. Chiếc đèn chai được đặt ở ngay hộc đựng tôm cá, soi sáng và cũng sưởi ấm cho người đóng đáy thâu đêm cho đến lúc nước ròng cạn mới cuốn đáy.
Hoặc, nhiều người khác lại nuôi vịt, vịt đẻ và vịt thịt. Không phải ai cũng cất nhà ngay trên ruộng của mình, mà họ thường cất một cái chòi nhỏ để giữ vịt. Cái ngày mà chưa thấy ai dùng đèn pin phổ biến như hiện nay thì người ta vẫn chủ yếu dùng đèn chai treo ở ngay chuồng vịt. Khuya, người chủ muốn kiểm tra vịt của mình hoặc đi lại quan sát cũng dễ dàng vì đã có sẵn ánh đèn chỉ lối. Đèn cứ treo đấy, mưa gió gì cũng không tắt, thật tiện lợi. Ánh đèn ở đây có tác dụng định vị hơn là để chiếu sáng.
Nhưng có những người khác còn vất vả hơn, họ không có vốn để nuôi cái thứ mà dân gian cũng đã cho là bét nhất (muốn giàu nuôi cá, muốn nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt!). Họ làm nghề chài lưới trên kênh rạch. Thường là hai vợ chồng, vợ bơi lái, chồng bơi mũi kiêm cả việc thả chài quăng lưới và gỡ cá. Chiếc đèn chai được đặt cố định ở một góc trước mũi để chiếu sáng cho người ngồi trước, đảm bảo thành công của chuyến đi, hoặc tránh được các tai nạn nghề nghiệp như bị cua kẹp, cá đâm… Ánh sáng đó mở ra một cuộc sống sáng sủa hơn cho gia đình họ ngày hôm sau. Đó cũng là một ánh sáng lớn.
Còn có những người nghèo hơn. Họ thậm chí cũng không có tiền để sắm một bộ xuồng và chài lưới. Họ làm nghề mò cua bắt cá. Thật ra công việc này thì không cần đèn nhưng họ cũng mang theo một cái đèn chai (thường là loại nhỏ) treo vào chiếc giỏ hoặc có gắn đế để đặt xuống bùn mỗi khi dừng lại mò ở đâu đó. Chiếc đèn có tác dụng soi đường và cũng để cho người khác tình cờ đi trong đêm biết rằng dưới dòng nước cạn ngầu đục và lạnh lẽo kia có người đang vật lộn với cuộc sống. Chút ánh sáng đó còn để hơn ấm lòng người, gợi một niềm tin vào cuộc sống của gia đình họ vào ngày hôm sau sẽ tốt đẹp hơn!
Còn nhiều người dùng đèn chai nữa. Nhưng tất cả họ đều là người nghèo khó và phải bươn chải một cách chật vật trên đường mưu sinh.
Giờ thì không còn nhiều người dùng đèn chai nữa. Đèn điện, đèn ắc quy, sáng hơn nhiều. Nhưng hình như ánh sáng ấy không ấm bằng hột sáng nhỏ xíu từ chiếc đèn chai của một thời xưa cũ. Có lẽ cái ánh sáng chất chứa nhiều niềm tin và hy vọng trong cuộc sống ấy ở mỗi thời khác nhau nên ánh sáng tượng trưng cho nó cũng khác nhau chăng?

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2007

Thơ cho thầy cô giáo

TỨ TUYỆT CHO THẦY CÔ GIÁO

1. NGƯỜI THẦY VÀ NGƯỜI ĐƯA ĐÒ (I)
Sống là cho
Nhiều người nhận
Dành riêng mình
Phần nhỏ nhất.

2. NGƯỜI THẦY DẠY TOÁN
Những bài toán đố
Giải cả cuộc đời
Những câu hỏi khó
Mở ra chân trời.

3. CÔ GIÁO DẠY VĂN
Mỗi lời giảng của cô
Mở bầu trời tri thức
Mỗi câu dạy ban sơ
Gợi cả niềm hạnh phúc.

4. THẦY GIÁO DẠY SỬ
Mỗi câu chuyện kể ngày xưa
Thầy gieo bài học cho vừa ngày nay.
Ngàn năm còn chuyện ngày mai
Bài học lịch sử ngàn đời chẳng phai.

5. NGƯỜI THẦY VÀ NGƯỜI ĐƯA ĐÒ (II)
Phấn trắng bảng đen gieo tri thức
Không thầy hỏi thử mấy ai nên
Có thầy hỏi thử bao người nhớ
Chuyến đò hạnh phúc ấy đừng quên!

6. NGƯỜI THẦY VÀ NGƯỜI ĐƯA ĐÒ (III)
Dạy lễ dạy văn, nên người thành đạt
Thầy đã dạy ta bằng cả cuộc đời
Đâu chỉ kiến thức một thời bay nhảy
Cuối ngày ngoảnh lại, đấy một CON NGƯỜI.

Nhàn đàm: Đọt lang

Đọt lang
Báo Thanh niên, 17:23:57, ngày 08/04/2006
Gần đây, thành phố bỗng nhiên có nhiều xe đẩy bán đọt lang. Cứ đi vài con đường thế nào cũng thấy một chiếc xe chất đầy những lọn đọt lang non nhẫn, dài thượt. Đọt lang luộc mà chấm nước cá kho thì ăn một bữa ra trò. Nhưng nhiều người nhận xét, rau thì non nhưng hình như đó là một thứ rau gì khác chứ không phải đọt lang, hoặc là một loại đọt lang khác chứ không phải là thứ ngọn của rau lang ở quê nhà.
Tôi nhớ lại, đọt lang từng là thứ rau mà tôi ăn gần như hằng ngày. Rau lang mùa mưa non nhẫn, ngọn mập, màu xanh đậm. Thò tay ngắt, một dòng nhựa trắng dính vào tay, lát sau bệt thành một keo màu xám đen bám chặt, rửa mấy cũng không hết. Vườn sau nhà tôi thả đầy rau lang. Đất cát, chẳng trồng thứ gì tốt tươi cả. Từ nhiều năm trước, mẹ tôi đã lên giồng trồng khoai lang. Nhà thường nuôi mấy con heo giống địa phương, nhỏ con, nhưng nhờ ăn rau lang cùng đủ thứ rau cỏ khác, cũng giúp mẹ tôi có thêm đồng ra đồng vào. Đến mùa nắng, gia đình tôi lại lụi hụi khai giồng khoai để đào củ. Đất xấu nên củ cũng chẳng bao nhiêu. Nhưng có nhiều năm đó là cả một gia tài để dành độn trong những tháng giáp hạt. Năm nào có đủ gạo ăn thì khoai trở thành thứ ăn phụ cũng rất hấp dẫn. Mẹ tôi có biệt tài chế biến khoai lang. Khi thì bà nấu ăn với nước cốt dừa. Khi thì nấu xong lại quết với dừa nạo thành những viên to như quả trứng. Khi thì khoai nướng. Khi thì chè khoai. Món nào cũng ngon, ăn hoài chẳng thấy chán. Có khi bỏ cả cơm.
Tôi vẫn nhớ như in, hồi nhỏ, mùa nắng, một đám con nít chơi nghịch chán đã rủ nhau đi mót khoai lang. Cái giống khoai lang thật ngộ, có sức sống rất mãnh liệt. Mùa nắng, cát khô ran, đi lâu phồng cả chân. Vậy mà những ngọn non vẫn cứ nhú lên. Chúng tôi theo đó mà moi, thế nào cũng tìm thấy một đoạn thân còn sót lại và kèm theo một củ khoai nhỏ. Đất cát trên mặt tuy khô nhưng phía dưới luôn ẩm. Chỉ đào độ hai thước là có nước. Đi mót khoai vui nhất là mình tìm thấy nhiều củ khoai sót lại hơn những đứa khác, chứ khoai thì chẳng lạ lẫm gì. Sau đó, gom khoai lại, cạp vỏ sơ sơ rồi mạnh đứa nào đứa nấy cắn rau ráu, nhai ngấu nghiến, ngon lành...
Nhà có vườn nhưng cũng chẳng trồng được thêm gì nữa. Bữa cơm nào trong mùa cũng có ngọn lang. Khi thì ăn sống. Khi thì luộc. Khi thì hấp cơm. Khi thì nấu canh chua. Cái món canh chua cũng có mấy kiểu. Có bữa nấu với me trái, thêm mớ cá chốt. Có bữa nấu lá me non đầu mùa, thêm nắm tôm đất. Rau và lá me thì xanh tái, còn tôm thì đỏ, trông cũng đẹp mắt. Có bữa nấu với trái giác, trái bần. Có cá gì bỏ vào cá nấy. Chua thanh mà ngọt lự. Có bữa chẳng có cá, chỉ có me với rau. Vậy mà cũng "quất" một phát bốn năm chén vun. Ngon lành.
Tôi nhớ mẹ tôi hay kể về những năm đói. Củ khoai cũng không có mà ăn. Tết năm nọ, ngoại tôi đi khắp xóm mới mua được một gánh khoai. Ngoại về khoe: "Năm nay ăn tết yên rồi !". Còn ngày thường thì hái ngọn lang, rồi cả lá để ăn độn. Cơm một phần, rau các thứ đến năm sáu phần. May mà miền Tây có cá, ăn cũng đỡ xót ruột. Mẹ tôi kể lòng biết ơn loài thân dây giúp nuôi sống gia đình tôi. Đó là sự cảm nhận vị ngon ngọt của cả ngọn và củ của loài dây ấy. Ai đã từng ăn đọt lang thì biết. Nó có mùi rất đặc trưng, hơi hăng hăng nhưng ăn riết thì như một mùi thơm, không lẫn vào đâu được. Nó có vị chát cũng rất đặc trưng, mà nếu nó mất vị chát đó thì chẳng còn là đọt lang nữa. Còn củ thì cũng là thức ăn bổ dưỡng. Có nhiều loại khoai, mà mỗi loại, củ lại có mùi vị khác nhau. Khoai Bình Tuy bột ơi là bột, ăn mà không có ca nước mưa bên cạnh là mắc nghẹn. Khoai bí thì đỏ như bí và ngọt như mía lùi. Khoai tím thì củ nhỏ nhưng ăn lâu ngán. Còn có một thứ khoai nữa, tôi không biết chính xác tên là gì. Nó không có bột, trong khe, ăn ngọt nhưng không ngon lắm. Người quê tôi gọi là khoai trồ ban. Ba tôi cắc cớ gọi là khoai trồ biện. Bởi vì ở xóm trên, có hai anh em, một người tên là Ban, một người là Biện...
Bây giờ người ta có xu hướng hoài cổ; chọn những món ăn từng là món dân dã của nhà quê làm đặc sản. Đọt lang cũng trong số đó. Nhưng cái thứ đọt lang trồng cốt lấy ngọn, ăn nhạt phèo, chẳng có được cái mùi vị đặc trưng đầy vẻ chân quê, mộc mạc.
Viết mấy dòng này, tôi bỗng thèm một bữa cơm với rau lang "chính hiệu". Chắc ngon lắm !

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007

Tản văn

MỘT THỜI CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM

Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng
Ca dao nói về sự mong mỏi của người đi cấy như thế. Nhưng ngàn năm qua, với người nông dân, bao giờ chân chẳng cứng, đá chẳng mềm?
Khi bắt đầu tuổi thiếu niên, tôi đã là một thành viên lao động trụ cột của gia đình, nhất là vào mùa hè. Rẫy ở xa phố chợ, việc vận chuyển nông sản ra chợ hay chở phân thuốc, chợ gạo từ chợ về nhà hoặc đi đẩy nước từ mấy cái giếng xa nhà ba bốn cây số thường do tôi phụ trách. Chiếc xe thồ miền Đông – vốn là sườn của một chiếc Sach hay Mobylette cũ nào đó – gắn liền với tay lái của tôi cùng tay đẩy phụ của thằng em út. Có khi đẩy với ba, nhưng thường tôi vẫn cầm lái, vì ba tôi hay nói: “Con lái cứng hơn ba”! dù ba tôi là một “lực sĩ” đúng nghĩa! Đường rẫy miền Đông đầy dốc đá gập ghềnh. Mùa mưa, dường như tưới mỡ, không chỉ trơn trợt mà lầy nhão. Người lái xe luôn lẩm nhẩm “đâu là lối đi” như trong phim Tây du ký!
Không có “yêu ma” nhưng đường dốc và trơn trợt bao giờ cũng là thử thách đáng sợ. Không ít lần vướng một bực đã hoặc không làm chủ được một đoạn đất trơn, xe đổ kềnh. May thì người lái không bị thương nhưng đồ đạc có khi đổ tung tóe, có khi lấm ướt. Lại chờ một người đẩy xe thồ nào khác đi ngang để nhờ giúp đỡ, trong lúc anh em đang xuýt xoa “phải chi, phải chi”! Sự nhiệt tình và tốt bụng của những người đẩy xe thồ với nhau chẳng thể nào tả hết – ai cũng không mong rằng mình sẽ ngã nhưng mọi người đều sẵn sàng chia sẻ khó khăn với người khác, mà chẳng cầu có lúc mình ngã lại được một người khác nữa giúp đỡ!
Ban đầu nửa tạ, rồi một tạ, một tạ rưỡi, có khi nắng ráo lên đến hai tạ, bàn chân anh em chúng tôi phăm phăm trên những đoạn đường đầy đá sỏi mà đi tới. Chẳng giày dép – mang giày dép mà vướng bùn nhão thì chỉ có “bó chân” – chẳng ai và chẳng bao giờ ngại ngần “đau chân” hay “bị gai”. Lắm khi bị trượt chân, da bị xướt, móng bị bong, bàn chân bị đá cắt…, máu chảy đầm đìa, rồi cứ phải để vậy mà đi. Về nhà rửa ôxy già qua loa, cũng chẳng sao. Sức trẻ “lướt” qua được tất cả.
Tôi đã làm “tài xế” xe thồ như thế đến năm hai mươi tuổi, trong đó có hai mùa hè đang học đại học.
Hơn mười năm ở thành phố, tôi quên mất “kỹ năng” đẩy xe thồ. Mà chẳng còn “lý do” gì để mà nhớ. Ở quê bây giờ chẳng ai đẩy xe thồ nữa. Chở ít thì đã có xe Honda 67, mà ba tôi cũng lại là một “lực sĩ” với sức chở lên đến một tạ rưỡi mỗi chuyến. Chở nhiều như vài tấn bắp từ nhà ra vựa hoặc vài tấn phân từ cửa hàng về nhà (kết hợp hai chiều như thế) thì đã có xe cải tiến. Mỗi nhà đều có giếng khoan, chạy bằng máy nổ, nước trong veo, mát rượi (gạo Cần Đước, nước Đồng Nai mà!), chẳng còn phải nhọc nhằn đi xa đẩy từng thùng nước. Xe thồ gần như không còn hiện diện trong đời sống nông dân nữa. (Chiếc xe thồ nhà tôi một lần bị gãy khi đang xuống dốc chở một tạ gạo do tôi cầm lái, cũng kết thúc luôn “sứ mạng lịch sử” của nó). Điều đó cũng đánh dấu một bước tiến mới trong đời sống của nông dân và nông thôn quê tôi.
Hơn mười năm xa nhà, tôi đã là một “người khác”, về nhiều mặt. Riêng khoản đi chân trần là rõ nhất! Mười năm chân dép chân giày. Mười năm không đi chân đất. Càng không còn bước chân trần trên đá sỏi. Mười năm tôi sống cuộc sống mới cũng là mười năm “chân mềm đá cứng”. Mỗi lần về quê, trong khi những đứa trẻ ở quê đi chân trần, chạy băng băng trên đá, thì tôi vẫn giày dép bước chậm chạp, đầy thận trọng trên những mô đá lởm chởm. Tôi không còn có thể đi chân trần như trước nữa – da bàn chân đã trở nên rất mềm và mỏng, chẳng tìm thấy đâu những vết chai sần sùi, những vết cắt nham nhở nữa.
Có bữa đi dưới mưa, về nhà cởi vớ ra, đứa em họ nhìn thấy buột miệng kêu lên: “Bàn chân anh Hai trắng hồng như chân con gái vậy!” Tôi không biết nên nghĩ là tiếng khen hay chê nữa!
Còn đâu một thời “chân cứng đá mềm”?

Bài thơ thứ 7

NGÀY HOA THÔI RỤNG

Rặng hoa giấy hồng khép nép
Tựa bên tường nhà ai cao, thật cao
Nhà bên rào mấy lượt rào
Hoa rụng không bay vào một cánh.

Sáng sáng có người nuối tiếc:
Hoa tàn đầy, nhanh sao hoa giấy ơi!
Tóc xanh xõa ngời ngời
Vương cánh thắm điểm một vừng rực rỡ.

Sáng sáng có người như than thở:
"Hoa rụng đầy, rác ơi là rác ơi!"
Quét ngõ đầy, gió vương về muôn nơi
Hồng những gót chân vội vã.

Chiều chiều có người ngồi trông hoa rụng
Nhà bên rào vẫn có mắt dõi sang
Hoa rơi rơi, hai tiếng thở nhẹ nhàng
Họ nhìn hoa, hoa hóa nụ cười thân thiện.

Hoa vẫn rụng, vương trên tóc xanh quyến luyến
Lá dịu dàng làm nhạc dạo đầu tiên
Rào không ngăn đồng điệu những tâm hồn
Cửa không khép, hoa bên này đã hồng bên ấy.

Rồi một ngày chẳng còn rụng hồng hoa giấy
Có người buồn, tiếc nuối rặng hoa xưa
Có người vui, rác chẳng đổ từng giờ!
Tường và rào đơn côi, nhưng có hai người như một.