Thứ Hai, 31 tháng 12, 2007

Thời sự và suy nghĩ

VỐN CON NGƯỜI, ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU?

Xin nói ngay, vốn con người là vô giá. Ở bất kỳ lĩnh vực nào.
Thế nhưng, khi một doanh nghiệp thành lập, người ta thường chỉ tính đến các nguồn vốn: mặt bằng (thường gắn liền với đất đai), cơ sở vật chất, phương tiện, các mối quan hệ và nhất là tiền. Trong khi con người đóng vai trò quyết định trong việc thành bại của việc sản xuất kinh doanh thì nhiều khi không được quan tâm đúng mức. Chẳng hạn, liệu các doanh nghiệp có lên kế hoạch sẽ tuyển dụng bao nhiêu người có trình độ sau đại học, đại học, cao đẳng… cho các vị trí đang thiếu, hay chỉ tuyển người cho các vị trí đó tùy theo khả năng tuyển của doanh nghiệp, tùy theo sự gửi gắm, tùy theo mức độ “làm được” trong một thời điểm cụ thể? Liệu doanh nghiệp có mạnh dạn đề ra những mức lương cụ thể cho từng vị trí với năng lực phù hợp, hay chỉ đặt ra một mức lương chung hoặc “tùy” vào “giá” đề nghị của ứng viên? Liệu doanh nghiệp có đặt ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ, nhân viên của mình một cách quy củ, bài bản, chặt chẽ, hay chỉ giải quyết những tình thế cụ thể? Như vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều thụ động với nguồn vốn con người của mình; ngay cả các công ty làm dịch vụ môi giới lao động. Nói ví von, cách làm này là kiểu “thả lưới” trong ao đầm tự nhiên, có đợt “trúng” nhưng cũng có vụ thất trắng; lẽ ra, nếu thả lưới trong ao đào của mình, với cá nuôi hoặc cá dự trữ thì hiệu quả sẽ cao hơn hẳn.
Rõ ràng, con người là lực lượng trực tiếp thực hiện và điều khiển phương tiện, công cụ trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều này gắn liền với trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm và sức khỏe của mỗi người, vì với từng người khác nhau thì khả năng thực hiện cùng một công việc có hiệu suất và hiệu quả khác nhau. Có lẽ vì lẽ này mà nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng hay đòi hỏi nhiều bằng cấp và nhất là có kinh nghiệm. Thế nhưng bao nhiêu đó là chưa đủ, vì bằng cấp còn phải gắn với năng lực, kinh nghiệm còn gắn với sức khỏe. Nên hiểu những yêu cầu trên phải là khả năng làm được của một người đối với một công việc cụ thể, vào một thời điểm nhất định.
Bên cạnh đó, con người là lực lượng phát sinh và thực hiện, tổ chức thực hiện các ý tưởng mới, các sáng kiến và xử lý những tình huống cụ thể. Điều này cũng gắn liền với năng lực, tính khí, óc nhạy bén, cũng như sự thông minh của mỗi người, vì có những người có thể làm rất tốt những việc được giao nhưng không có khả năng tổ chức cho người khác làm hoặc không nghĩ ra được sáng kiến gì mới. Bởi vậy, dân gian có câu “một người lo bằng một kho người làm” cũng ý đó. “Lo”, tức là lo nghĩ, tìm kiếm biện pháp, cách tổ chức, chứ không phải lo âu, lo lắng, tức là vai trò người điều hành, thậm chí là tham mưu (cố vấn). Hiện nay, không ít người ăn lương của doanh nghiệp cao ngất ngưởng nhưng chẳng mấy khi đến sở làm; anh ta hay “rê ra” quán sá, kỳ thực đó là những nhà hoạch định chuyên nghiệp, chỉ cần một ý tưởng, một chiến lược của anh ta được thực thi thì giải quyết việc làm cho khối người và mang lại hiệu quả không ngờ.
Cuối cùng, con người là lực lượng trực tiếp xây dựng hình ảnh, thương hiệu của một doanh nghiệp, một nhãn hiệu hàng hóa. Điều này một mặt gắn liền với năng lực, mặt khác có sự đóng góp quan trọng của phẩm chất, đạo đức của những cá nhân làm việc trong doanh nghiệp. Có thể chỉ là giọng nói nhẹ nhàng dễ nghe, cái cúi đầu chào lịch sự, nụ cười tươi tắn, lời xin lỗi một cách cầu thị… có thể tạo ra một ấn tượng tốt đẹp cho một cửa hàng, một doanh nghiệp, thậm chí cho cả một nhãn hiệu hàng hóa. Đâu phải ngẫu nhiên mà Vietnam Airlines đưa hình ảnh một cô gái đẹp mặc áo dài xanh và cười duyên dáng, vì áo dài là biểu tượng của Việt Nam, còn nụ cười tươi là hình ảnh đẹp của lòng quý khách, sự chu đáo, tính lịch sự, điều không thể thiếu đối với một hãng hàng không.
Nguồn vốn con người quan trọng và quý giá như vậy, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… cần có sự quan tâm đúng mức trong việc tuyển dụng, đào tạo và bố trí cán bộ quản lý, điều hành và nhân viên. Việc “săn đầu người”, vốn xuất hiện từ khá lâu, nay cần chú ý thực hiện tốt hơn. Nhất là ở các cơ quan nhà nước, phải quan tâm đến việc “săn” nhân tài, chứ đừng đợi người có năng lực tự tìm đến.
Để có được nguồn lực con người đạt chất lượng cao, không thể chỉ bằng sự kêu gọi, sự vận động suông, cũng không thể chỉ bằng sự đãi ngộ vật chất. Đó là một nghệ thuật. Nước thì chảy về chỗ trũng, nhưng không phải chỗ trũng nào cũng có nước chảy về. Cần có sự khơi và dẫn nguồn bằng một dòng chảy phù hợp, cũng như phải phá bỏ những chỗ cản trở trong quá trình chảy. Có lẽ nên diễn khác đi câu mà người xưa hay nói: “chiêu hiền đãi sĩ”, nếu hiểu “hiền” là người có năng lực, người có tài, “sĩ” là người có học vấn, có chuyên môn. Nên là “chiêu sĩ đãi hiền”, tức là phải có những cách để thu hút người có học vấn nhưng đồng thời phải biết cách chọn lựa, sử dụng, đãi ngộ xứng đáng những người có thực tài, bố trí họ vào những vị trí thích hợp.
Ta hay nghe “trải thảm đỏ mời nhân tài”. Thực ra “thảm đỏ” chỉ là một phần nhỏ, tấm lòng (cái tâm) của người mời gọi là rất quan trọng. Người ta có thể không quan tâm nhiều đến tiền bạc nhưng hầu hết người trong chúng ta đều cần có một sự “tri ngộ”, tức là một sự thấu hiểu, một sự đề cao đúng mức. Khi đó, ta sẵn sàng “đền ơn tri ngộ” một cách vô tư, trung thành!

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2007

Thời sự và suy nghĩ

“NHÀ” CỦA MÌNH!

Tiếng Việt ta rất hay, mà e rằng tiếng nước khác không có được. Ví dụ nói “nhà tôi” thì có thể hiểu là “cái nhà của tôi” mà cũng có thể hiểu là “bà xã (hoặc ông xã) tôi”. “Nhà” còn có nghĩa là “gia đình”, chẳng hạn, “nhà anh có mấy người?”. Không chỉ thế, “nhà” còn có một nghĩa khác rất đặc biệt. Đó là “của mình, của gia đình mình”, chẳng hạn, “cây nhà lá vườn” thì ngoài nghĩa “cây ở nhà mình” mà còn có nghĩa là những “sản vật, đồ vật của mình, của gia đình mình”. Chữ “nhà” này cũng gần giống nghĩa trong câu ca dao “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn” (về nghĩa bóng), tức là không chỉ là cái ao ở nhà mình mà nói chung là những gì ở xung quanh mình, gần mình, thuộc về mình. Chữ “mình” ở đây vừa là số ít vừa là số nhiều của ngôi thứ nhất và cả ngôi thứ hai.
Cách đây mấy năm, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải (bấy giờ là Thủ tướng) có nêu một vấn đề rất được bà con tán đồng có liên quan đến “nhà”. Thủ tướng chỉ đạo các “nhà” phải hợp tác lại với nhau. Đó là các nhà “nhà khoa học”, “nhà nước”, “nhà doanh nghiệp” và “nhà nông”; sau Thủ tướng thêm một “nhà” nữa là “nhà băng”. Xem ra đúng như lời của Thủ tướng, nếu năm nhà này mà hợp tác chặt chẽ thì cả năm nhà đều được lợi, người dân đều được sung sướng và tất nhiên nước nhà cũng thêm phát triển.
Có lẽ nhà nông chưa bao giờ nhận được sự hợp tác đầy đủ và bình bẳng với bốn nhà còn lại. Rõ nhất là nhà nước. Nhà nước ở đây có thể hiểu là chính quyền ở địa phương (cấp xã, huyện chẳng hạn), hoặc cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý nông nghiệp của vùng (phòng nông nghiệp, trung tâm khuyến nông…). Nhà nước nhiều khi nói hoạch định này khác nhưng hình như mang tầm rất vĩ mô chứ ít khi đi vào cụ thể. Nông dân X. có miếng đất ở vị trí A. muốn trồng cây N. thì ông ta phải tự nghĩ, rồi tự đi mua giống, tự trồng, tự bán chẳng bao giờ nhận được ý kiến gì của nhà nước rằng với thổ nhưỡng đó thì nên trồng loại cây gì, mua giống ở đâu, kỹ thuật ra sao, bán cho ai và nếu thiếu vốn thì làm sao… Nhà nước có chức năng quản lý và điều phối các hoạt động của xã hội nhưng lại không tham gia tí ti nào vào việc sản xuất của người dân như trong ví dụ ở trên thì quả là đã chưa làm tròn chức trách của mình. Vì vậy, nhà nước phải đứng ra làm cầu nối giữa nhà nông với các nhà khác, vì có tiếng nói của nhà nước thì hiệu lực và hiệu quả mới cao. Trong quá trình đó, thế nào cũng phát sinh những yêu cầu như cái cần văn bản pháp lý, cái cần uy tín, cái cần chính sách… thì chỉ có nhà nước mới giải quyết được.
Vì vậy, định kỳ hàng năm, nhà nước (tức chính quyền hoặc cơ quan quản lý về nông nghiệp) tổ chức họp mặt giữa các nhà lại. Trong cuộc họp đó, nhà nước sẽ trình bày về các chủ trương, định hướng cơ bản về phát triển nông nghiệp để tránh đầu tư tràn lan, không hiệu quả, ảnh hưởng lợi ích địa phương về lâu dài…; nhà khoa học sẽ nêu tình hình thời tiết, thổ nhưỡng, các loại giống cây trồng vật nuôi và đưa ra lời khuyên nông dân nên trồng loại cây gì, nuôi con gì trong điều kiện đất và thời tiết như thế; nhà doanh nghiệp sẽ cho biết thị trường đang cần loại nông sản nào, giá cả và hiệu quả ra sao; nhà băng sẽ đưa ra những lời hứa giúp vốn cho đối tượng nào, với loại hình đầu tư gì… Trên cơ sở đó, nhà nước sẽ cụ thể hóa chủ trương bằng những chính sách như nếu trồng loại cây M. đúng như nhà khoa học đề nghị thì sẽ tác động bên ngân hàng cho vay vốn lãi suất ưu đãi, cấp giấy phép cho các cơ sở cung cấp cây giống, vật tư nông nghiệp, cơ sở thu mua… Và với những điều đó có lẽ nhà nông sẽ hoan nghênh bằng hai tay hai chân vì có cơ hội thoát cơ bản tình trạng đầu tư tự phát, không biết có trúng mùa thất giá hay không; đương nhiên là hiệu quả sẽ tăng lên.
Lâu nay ta có câu “ích nước lợi nhà”, có thể hiểu cái gì có ích cho nước thì có lợi cho mình, nhưng cũng nên hiểu đây là một cụm đi liền với nhau tức là làm sao vừa đảm bảo được ích lợi cho mình và cho xã hội. Nhưng hình như người ta không đặt nặng cái “ích nước”, có khi lờ nó luôn. Bởi vậy người ta chăm bẵm cho riêng mình, hệ quả lâu dài là có hại cho địa phương, cho đất nước. Vì thế, nếu người ta nhận ra rằng, các chữ “nhà” ở đâu đó khi ghép với nghề nghiệp của mình mà gắn được với chữ “nhà” ghép với địa phương của mình nữa thì chắc là tránh được tình trạng khập khiểng đó. Chẳng hạn, nhà nông, nhà doanh nghiệp… mà luôn nghĩ đến cách nào làm lợi cho xã nhà, huyện nhà, nước nhà thì ôi hạnh phúc biết bao!
Nói vậy để thêm một lần đề cao cái chữ “nhà” rất quan trọng đó là nhà nước. Nếu “nhà nước” chỉ được phiên thành “chính quyền” mà không có yếu tố “nhà”, tức yếu tố “của mình, của cộng đồng mình, của quê hương mình” thì sẽ trở nên lệch lạc biết bao. Trong tiếng Anh, nói “nhà nước” hoặc “chính quyền” người ta có từ “government”, “state”, “authorities”, “administration”, “power” hoặc “office”, hoặc bất kỳ từ nào khác, tìm mãi chẳng thấy có yếu tố “nhà-của-mình” đâu cả. Trong tiếng Việt, ông bà ta đã định sẵn thế, chúng ta không thực hiện được thì có lỗi lắm thay!

Tạp bút

ĐẦU NẬU MÙA CẤY

Mùa cấy. Mới dợm dợm vô mùa thì đã có người đi từng nhà mời gọi. Họ – cả đàn ông lẫn đàn bà, nhưng đàn bà vẫn nhiều hơn – đến gặp các dì, các cô, các chị và cả các anh để lôi kéo vào đường dây của họ. Đó là đường dây công cấy. Họ là các đầu nậu. Mỗi ấp thường chỉ có một đến hai đầu nậu. Họ làm cầu nối giữa các công cấy và các chủ ruộng, mà ở vùng lúa thì ai cũng là công cấy và ai cũng là chủ ruộng. Đầu nậu thường mang tính “gia truyền”, gia đình kế nghiệp.
Đầu nậu là những người có uy tín trong vùng, có khả năng tập hợp được công cấy, có thể đảm bảo với chủ ruộng đủ số công cần thiết cho kịp con nước… Có thể ban đầu trong vùng có vài người cùng làm nghề này nhưng sau đó thường chỉ còn lại một hai người có uy tín nhất mà thôi. Đầu mùa, họ đi vận động các công vào dây của mình, thường vào khoảng 60 – 80 thợ cấy, có người làm đầu nậu có uy tín lớn ở vùng đông dân thì có thể tập hợp được nhiều thợ hơn. Thợ cấy không phải chỉ là những người làm ít ruộng, đi cấy lấy công (tiền công) mà cả những người nhiều ruộng. Họ đi cấy đổi công để cấy ruộng nhà, thông qua đầu nậu, đây là hình thức chủ yếu. Những “so le” còn lại (đi cấy nhiều công hơn công cấy ruộng nhà hoặc ngược lại) thì tính bằng tiền. Người ta đi cấy cả mùa, có thể kéo dài đến một tháng rưỡi, tùy con nước, tùy mạ, tùy vào vị trí của sở ruộng. Trong khi cấy ruộng nhà thường chỉ một vài ngày. Những ngày khác họ đi cấy trả. Đó là sự đổi chác mang tính tình cảm láng giềng, giúp đỡ lẫn nhau chứ không phải hình thức sản xuất lạc hậu. Làm đầu nậu thì được được hưởng một công trong suốt cả mùa cấy trên mỗi thợ cấy. Công ở đây là đơn vị tính giá trị sức lao động, có thể phiên thành một buổi cấy (thường khoảng 5 giờ – từ sáng sớm đến gần trưa, hoặc từ đầu chiều đến gần tối). Nếu mỗi ngày cấy một buổi thì được một công, gọi là công chiếc; nếu cấy hai buổi (có thể ở một hoặc hai sở ruộng) thì được hai công, gọi là công đôi. Trong cả mùa, dù thợ chỉ cấy được năm bảy công hay một hai tháng công thì đầu nậu cũng chỉ được hưởng một công. Do đó, nếu đầu nậu chỉ có vài ba chục thợ thì chỉ được vài ba chục công, trong khi cũng phải vất vả trong suốt cả mấy tháng; ngược lại, nếu có cả trăm thợ thì thật đáng cho những ngày thức đêm thức hôm đi vận động, đi gọi và suy tính để phân bổ thợ cấy sao cho hợp lý.
Vào mùa, chủ ruộng đến gặp đầu nậu để cho biết số thợ cấy và thời gian để đầu nậu "lên lịch". Nhằm lúc đông ken, theo con nước, đầu nậu phải bố trí những thợ giỏi đi công đôi ở cùng một sở ruộng hoặc những sở ruộng gần nhau, hoặc phải ước xem khả năng của từng thợ của mình mà phân phối đến những sở ruộng gò, trũng khác nhau nhằm phát huy hiệu suất làm việc tối đa của người thợ, hầu mong đáp ứng được yêu cầu của các chủ ruộng. Làm nhiều năm, đầu nậu biết tính của từng chủ ruộng, biết đặc điểm của từng sở ruộng và luôn có sự sắp xếp hợp lý để vừa lòng chủ ruộng mà không làm thợ cấy phàn nàn. Hoặc chị B cấy giỏi ở ruộng trũng và đi được công đôi thì xếp ở ruộng trũng, cấy cả ngày. Rồi nhằm lúc cần cấy nhiều công đôi thì phải bố trí sao cho các thợ đã ít cấy ít công đôi nhất được nghỉ, vừa đảm bảo năng suất, vừa có ý gìn giữ sức khỏe cho thợ, vì cả thợ và chủ ruộng đều không muốn có công đôi. Rồi phải tính sao cho các thợ đều có công, chứ không phải chỉ tập trung vào những thợ giỏi… Nói chung, đầu nậu là một nhà hoạch định, một người chuyên soạn kế hoạch, phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, không chỉ là chủ ruộng mà cả thợ cấy, nếu không mùa sau, họ sẽ tìm đầu nậu khác!
Nói theo ngôn ngữ hiện đại hơn thì đầu nậu là một “đại lý” công cấy. Muốn làm đại lý thì phải có vốn. Vốn ở đây là uy tín, là tinh thần trách nhiệm với người đi cấy và với người ăn công. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng ngày nay, với sự biến đổi nhiều mặt của xã hội, nghề này ngày càng mất dấu, ở nhiều nơi, đầu nậu chỉ còn là “ông X, bà Y” – những người từng mang danh đầu nậu – chứ chẳng ai còn thấy đầu nậu làm gì nữa!

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2007

Tiểu phẩm

Cái được cái mất của người làm quan

Khổng Miệt Mài là cháu Khổng Tử. Bật Tùy Tiện là học trò Khổng Tử, hai người cùng làm quan một thời. Khổng Tử qua chơi Khổng Miệt Mài, hỏi rằng:
- Từ khi ngươi ra làm quan được những điều gì, mất những điều gì?
Khổng Miệt Mài thưa:
- Từ khi tôi ra làm quan chưa được điều gì, mà đã mất ba điều: Việc quan bận, không còn thời giờ học tập, vì thế mà học vấn không tấn tới, chúng bạn cùng lứa học gạo học tủ mà bây giờ có đứa đã là tiến sĩ, nhiều đứa là thạc sĩ, còn tôi vẫn ẵm cái cử nhân quèn; bổng lộc ít, không dám tơ hào, cũng không cậy thế mà làm ăn chụp giựt nên không đủ chu cấp cho họ hàng, vì thế mà họ hàng không thân thiết; công việc nhiều, làm suốt ngày suốt đêm không thể đi thăm người đau, viếng người chết, cũng không có thì giờ đi ăn nhậu, bù khú vì thế mà ăn ở với bầu bạn không trọn vẹn.
Khổng Tử nghe, nói:
- Ngươi thanh liêm, ta có lời khen, nhưng làm quan như thế thì có ai được lợi không?
Khổng Miệt Mài thưa:
- Có, người dân được lợi.
Khổng Tử lại gật gù khen.
Sau ngài đến chơi Bật Tùy Tiện, lại hỏi như Khổng Miệt Mài.
Bật Tùy Tiện thưa:
- Từ khi tôi ra làm quan chưa mất điều gì, mà đã được ba điều: Những điều trước học trong sách, ở chúng bạn nay đem ra thực hành, cái nào không ứng dụng thì để “lách”, để “chạy” đều rất hiệu nghiệm, vì thế học càng rõ; bổng lộc dù bạc nhưng cũng tìm được cách xà xẻo chỗ nọ một ít, chỗ kia một ít, mượn thế hùn hạp làm ăn, nên có thể chu cấp ít nhiều cho họ hàng vì thế mà họ hàng càng gần; việc quan tuy bận song cũng bớt được ít thì giờ vàng ngọc đi thăm người đau, viếng người chết, chén tạc chén thù say sưa với người quen vì thế bầu bạn càng thân.
Khổng Tử bèn hỏi:
- Người khôn khéo như thế, liệu có ai được lợi không?
Bật Tùy Tiện thưa:
- Có nhiều người được lợi lắm. Đó là bản thân tôi được lợi. Đó là bạn bè, người quen tôi được lợi. Vì khi họ nhờ vả, tôi nhiệt tình giúp đỡ họ bằng cách lách bên này, lách bên kia hoặc tác động người khác giúp đỡ; họ lại “giúp” tôi những khoản khác. Thành thử đôi bên cùng có lợi.
Khổng Tử nghe nói, thở dài:
- Bật Tuỳ Tiện không còn là học trò ta nữa rồi!

Thời sự và suy nghĩ

KHÔNG THỂ KHÔNG QUÝ TRỌNG MALDINI!

Hồi tôi bắt đầu “biết” xem bóng đá, Maldini vẫn còn là một cầu thủ trẻ. Bấy giờ, ở Ý, người ta tôn vinh Franco Baresi, một hậu vệ cũng lừng danh không kém trong bóng đá xứ La Mã. Bây giờ, khi nhắc đến những hậu vệ xuất sắc nhất mọi thời đại của bóng đá Ý nói riêng và thế giới nói chung, chắc người ta xếp cầu thủ của Milan 39 tuổi này ở vị trí đầu tiên.
Tôi nghĩ chẳng có lý do gì mà không hâm mộ, quý trọng, thậm chí thần tượng Maldini. Nếu bạn là phụ nữ thích xem bóng đá thì Maldini còn “đẹp trai” hơn khối diễn viên điện ảnh. Nếu bạn là người ưa thành tích thì bề dày huy chương và cúp vô địch của anh đủ khiến hầu hết cầu thủ khác phải thèm muốn. Nếu bạn là một người tình ưa sự chung thủy thì sự thủy chung của Maldini đối với đội bóng đỏ đen thành Milan còn khiến tất cả chúng ta phải bái phục. Và, chúng ta yêu bóng đá thì Maldini là một mẫu cầu thủ vừa cần cù vừa quyết liệt, vừa mạnh mẽ vừa khôn ngoan, vừa phòng thủ giỏi vừa phát động tấn công hay, vừa lăn xả vừa biết xốc tinh thần đồng đội… Tóm lại, đó là một mẫu cầu thủ hoàn hảo.
Nhưng cái mà người ta hay nhắc chính là sự trung thành tuyệt đối của anh đối với AC Milan. Trong thời buổi “bóng đá là tiền”, nếu tiền chưa mua được một cầu thủ giỏi thì hoàn toàn có thể mua bằng nhiều tiền! Có lẽ chúng ta không thể tìm được một cầu thủ giỏi nào chỉ chơi cho một câu lạc bộ trong suốt hơn 20 năm thi đấu của mình.
Ở Việt Nam, gần đây, một số cầu thủ đã có nhiều “chiêu” để làm eo với CLB cũ, nào là đánh tiếng có đội A, đội B mời với giá chuyển nhượng vài tỉ, nào là những khoản hoa hồng ngất trời, những hậu đãi không tưởng, những khoản lương thưởng chót vót… Thế rồi anh ta “lớn giọng” với ban huấn luyện, với đồng đội và cả với lãnh đạo, kèm theo cự chểnh mảng trong tập luyện. Kết quả thường là sự “ưu ái” quá mức dành cho “con cưng” này để giữ chân bằng mọi giá. Vô hình trung, tạo ra sự “phân biệt đối xử” giữa các thành viên trong đội, cũng như đặt đội bóng xuống dưới cầu thủ ngôi sao này. Thế nhưng, ai cũng muốn mình làm ngôi sao và đội bóng thì thường thua tan tác… Như vậy, danh dự của bản thân cầu thủ, tính truyền thống của đội bóng đã bị xếp sau lợi ích cá nhân của một vài cầu thủ.
Bởi vậy, bài học của Maldini nên được các cầu thủ Việt Nam học tập một cách nghiêm túc. Đó là, thi đấu thì hết mình, với tinh thần quyết thắng, đặt quyền lợi cá nhân gắn chặt nhưng ở dưới quyền lợi đội bóng, nên gắn bó ở nơi là mình có thể phát huy tài năng một cách tốt nhất chứ không phải ở nơi trả lương cao nhất… Có như vậy, anh sẽ đi vào lòng người một cách dài lâu và bền chặt.
Xem thêm:

Kỷ niệm thời đi học

TRI ÂN MỘT NGƯỜI THẦY THỈNH GIẢNG

Chắc nhiều thế hệ sinh viên ngành báo chí trường ĐH KHXH&NV TP.HCM không quên được hình ảnh một nhà báo lão thành lên lớp hai môn Nghị luận báo chíLao động phóng viên ở những học kỳ cuối. Nhìn mái tóc bạc trắng đẹp lão, nghe giọng nói sang sảng, chúng tôi thường cảm nhận được ở thầy là một nhà báo đầy trách nhiệm, bản lĩnh, tài năng và một thầy giáo đầy tâm huyết, yêu học trò và cũng không kém nghiêm khắc.
Thú thật, hồi còn đi học, tôi chưa hiểu hết những gì thầy giảng. Về lý thuyết, có cái tôi chưa nắm bắt được; về thực hành, phần nhiều nó xa lạ với một người chưa viết báo chuyên nghiệp. Bởi thế, tôi kính trọng thầy ở sự nhiệt tâm, sự nghiêm túc trong công việc hơn là ở sự lĩnh hội đầy đủ, bổ ích. Dù vậy, thầy luôn làm tôi và nhiều bạn học khác, say sưa với những câu chuyện về quá trình tác nghiệp để ra đời một tác phẩm báo chí. Không đơn giản là sự nể phục của một đám sinh viên chưa quen viết báo với một nhà báo đã gần 50 năm trong nghề. Đằng sau đó là sự kính trọng một thái độ làm việc, một bản lĩnh của người cầm bút. Đó là một tấm gương sáng để chúng tôi học tập. Điều này cũng nói rõ, không phải giảng viên thỉnh giảng là nhà báo nào chúng tôi cũng có sự kính trọng đầy đủ đó.
Khi ra trường, bắt đầu đi làm báo, tôi càng thấm thía những lời dạy của thầy ở môn Lao động phóng viên cùng những câu chuyện tưởng phiếm nhưng là cả một kinh nghiệm xương máu. Tất nhiên, không phải kinh nghiệm nào của thầy tôi cũng học tập được cả, nhưng cái chính là thái độ với nghề nghiệp: sự tận tâm, tinh thần trách nhiệm, ý thức học hỏi…
Hồi năm 2001, tôi bắt đầu tham gia cộng tác trên Nghề báo, khi đó thầy Hồng Phương còn làm Tổng Biên tập. Nhìn ngoài bì thư chữ “kính gửi thầy”, thầy đã gọi điện hỏi thăm ngay. Thú thật đến bây giờ, dù cộng tác cho nhiều tờ báo nhưng rất ít khi có người biên tập (đừng nói chi đến tổng biên tập!) gọi điện đến. Được động viên, tôi rất tích cực viết. Nhiều khi thầy gọi điện hỏi thăm tình hình công việc, mời đến toà soạn chơi, rồi khuyến khích cộng tác. Bởi vậy, tôi cũng nhiệt tình gửi bài. Có bài thầy góp ý thẳng: nên đặt vấn đề lại; có bài nói bảo: chuyện này đã nói nhiều rồi, nên viết theo hướng khác; có bài thầy nói luôn: nên viết lại… Đọc lại những bài được đăng, tôi thấy sự công phu biên tập của thầy để bài viết được “chỉnh” hơn, trơn tru hơn. Đó cũng là điều khiến tôi học tập, khi sau này có dịp tham gia làm công tác biên tập ở một vài tờ báo, một số công trình khoa học. Tôi nhận thấy rằng, biên tập không chỉ chọn đăng hay không đăng, sửa cho đúng (quan điểm, đường lối đã đành, cả ý tứ, ngữ pháp, chính tả…), mà còn làm sao cho bài viết hay hơn, sống động hơn, nhưng không làm sai lệch ý của người viết. Có lần tôi viết bài về TS Thái Nguyễn Bạch Liên khi cây bút nổi tiếng này qua đời với tựa đề “Một bông sen trắng đã rụng”, thầy sửa lại: “Một bông sen trắng chỉ còn tỏa hương”. Cái tít sau tuy có dài hơn nhưng vẫn đảm báo ý “sen trắng” – trong chữ Bạch Liên – mà lại hay hơn vì thêm được ý “còn tỏa hương”. Như thế là đúng quá, không chỉ đúng với ý trong bài mà còn đúng cả với những gì nhà báo này để lại cho những người viết báo trẻ nói riêng và các nhà báo nói chung về tinh thần làm việc, ý thức học tập.
Có vài dịp tham dự các lớp tập huấn, gặp lại thầy, thầy mừng lắm, hỏi han rất nhiều. Nghe thầy giảng lại những bài học cũ, tôi như sáng ra nhiều điều, đơn giản bởi vì ngày trước học tôi chưa có thực tiễn mà vốn lý thuyết cũng còn hạn chế. Bây giờ, qua chục năm viết lách, tôi tự tích lũy cho mình một số vốn liếng về nghề, nên rất dễ tiếp thu. Tôi thấy càng kính mến và quý trọng thầy hơn.
Năm trước, nhân dịp triển lãm ảnh, thầy gọi điện tôi đến dự. Nhân lúc vắng người xem, thầy trò tâm sự với nhau nhiều điều. Đến từng bức ảnh, thầy kể rành rọt quá trình sáng tác, rồi hỏi: “Cậu nghĩ thế nào?”. Tôi thật thà nêu những suy nghĩ của mình đối với từng bức ảnh. Có cái thầy gật gù, có cái thầy nói thêm như là một sự định hướng cho tôi hiểu rõ… Bỗng nhiên, tôi không còn cảm giác mình là một đứa học trò nhỏ của thầy nữa…

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2007

Tạp bút

NHỊ THẬP TỨ HIẾU - NHỮNG BÀI HỌC
HIẾU THẢO CỦA MUÔN ĐỜI


Nhị thập tứ hiếu - 24 câu chuyện về hiếu nghĩa nổi tiếng - từng là những bài học lớn giáo dục lòng hiếu thảo. Sách do Quách Cư Nghiệp, một học giả thời Nguyên (Trung Quốc) biên soạn. Giữa thế kỷ XIX, Lý Văn Phức, một văn thần của triều Nguyễn, đã diễn ra quốc âm và viết theo thể song thất lục bát. Nhị thập tứ hiếu trước đây được in thành sách và vẽ thành truyện tranh khá phổ biến. Nhiều người nói rằng đây chính là tập sách về gương “người tốt việc tốt” đầu tiên trong lịch sử!
Mở đầu là truyện về Ngu Thuấn, một trong các vị vua thời Ngũ Đế. Nguyên cha của Ngu Thuấn là Cổ Tẩu (có nghĩa là người mù mắt), một người hung bạo, tục huyền với một người đàn bà độc ác. Bà ta xui Cổ Tẩu giết Thuấn đi. Nhưng Thuấn không những không oán giận mà còn hết lòng hiếu thuận, làm động để cả lòng Trời. Các chuyện tiếp theo kể các gương hiếu thảo từ đời Tiền Hán (208TCN – 23CN) đến đời Tống (960 – 1279). Có những nhân vật nổi tiếng được nhiều người ghi khắc như Tăng Tử, Mẫn Tử Khiên, Tử Lộ, Diễm Tử, Lão Lai Tử, Mạnh Tông, Ngô Mãnh, Vương Tường, Đường Thị... Chuyện kể rằng: Một lần nhà có khách, Tăng mẫu đã cắn vào tay mình làm chảy máu, Tăng Tử ở xa nhưng bỗng nghe lòng đau nhói mà vội vã quay về. Còn Mẫn Tử Khiên vì bị dì ghẻ đối xử tàn tệ, mùa đông phải mặc áo rách kéo xe cho cha, khi cha của ông biết được định đuổi bà kế mẫu thì ông hết lòng bênh vực. Tử Lộ là học trò của Khổng Tử, ngày ngày đội củi đổi gạo nuôi mẹ, đến khi được làm quan thì mẹ đã mất, ông than: Phải chi còn mẹ để được phụng dưỡng. Còn Diễm Tử có cha mẹ già muốn uống sữa hươu, ông liền đội da hươu khô vào rừng để giả là hươu con mà vắt sữa về cho cha mẹ. Lão Lai Tử thì dù đã bảy mươi tuổi vẫn còn mặc đồ sặc sỡ hát múa làm cho cha mẹ vui lòng. Du Kiềm Lâu đang việc quan bỗng thấy bần thần, vội vã về nhà thì mới hay cha đang bệnh nặng, ông không ngại mà nếm phân cha rồi cầu trời được chết thay cha. Mạnh Tông thì mùa đông vào rừng khóc măng về dâng mẹ. Ngô Mãnh mới 9 tuổi biết cởi trần cho muỗi cắn mà không dám đập để cha mẹ yên giấc ngủ. Vương Tường mùa đông nằm trên băng để bắt cá về dâng cho mẹ kế. Đường Thị đối với mẹ chồng hết mực hiếu thuận, thường tắm gội sạch sẽ cho mẹ chồng bú. Còn Châu Thọ Xương từ quan để đi tìm mẹ và mẫu tử được đoàn viên sau năm mươi năm xa cách...
Những câu chuyện trong Nhị thập tứ hiếu đã từng in đậm trong tâm trí bao thế hệ của người Việt Nam. Nhiều năm trước, các câu chuyện này được tóm tắt và vẽ minh họa trong các tranh "tứ thời", một bộ tranh có 4 tờ, treo trang trí trong nhà vào các dịp Tết. Các bức tranh này luôn nhắc nhở mỗi người sống hiếu thuận với cha mẹ và người thân trong gia đình.
Ngày nay, chưa thấy ai tập hợp để kể thành chuyện, in thành sách những tấm gương như thế, nhưng vẫn có rất nhiều người con hiếu thảo được tuyên dương trong các đợt biểu dương người tốt việc tốt, trên các phương tiện truyền thông. Mỗi thời, cách người ta sống hiếu đễ có khác nhau nhưng những gương hiếu thuận đều có điểm chung lớn nhất là luôn và sẵn sàng hi sinh lợi ích bản thân mình vì cha mẹ, vì người thân. Trong cuộc sống hiện nay, sự hi sinh này dường như có nhiều thay đổi, thậm chí không còn nguyên vẹn như xưa. Trên báo chí, không ít trường hợp con cái hắt hủi, bỏ rơi cha mẹ, hoặc kiện cáo, tranh chấp tài sản với cha mẹ; còn anh em, họ hàng xung đột nhau không còn là chuyện hiếm. Dường như lối sống vị kỷ đang len vào từng gia đình, ít nhiều làm phai nhạt sự hi sinh, tình cảm, trách nhiệm của các thành viên gia đình với nhau, đặc biệt là của con cái đối với cha mẹ. Trong khi đó, trong các đức tính của con người như nhân, trung, hiếu, tín, lễ, nghĩa…, nhiều người cho rằng hiếu là đức quan trọng nhất, là nền tảng để hình thành các đức khác. Cổ nhân nói “Bách thiện, hiếu vi tiên” quả chẳng sai. Bởi vì, thật khó có người không có hiếu với cha mẹ mà lại có trung, có lễ, có nghĩa… Do đó, các tấm gương hiếu thuận là những gương sáng, là những bài học muôn đời.
Bởi vậy, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, việc giáo dục tính hiếu thuận cần được quan tâm, xem trọng. Chương trình học môn đạo đức và giáo dục công dân trong nhà trường cần lồng nhiều nội dung về trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, về các tấm gương hiếu thảo xưa nay. Trên các phương tiện truyền thông, cần tuyên truyền, biểu dương nhiều hơn về các gương hiếu thảo, đồng thời phê phán, lên án những người không làm tròn bổn phận làm con.
Và, các câu chuyện về Nhị thập tứ hiếu cũng cần được in sách, diễn kịch... Đồng thời, những tấm gương hiếu thảo thời hiện đại ở nước ta cũng cần được phát động học tập để mọi người noi gương.

Tạp bút


DA DIẾT MIỀN LAU SẬY

Người ta nói quả chẳng sai. Cuối năm thường khiến con người hồi tưởng lại những chuyện quá khứ, nhớ cố hương. Tôi cũng vậy. Và không chỉ vậy, mỗi bận nhìn thấy lau sậy trổ bông trắng đồng thì nỗi nhớ quê dâng lên da diết, những ngày cuối năm với gió bấc se se, nỗi nhớ càng đau đáu, khôn nguôi.
Quê tôi ở một vùng sông nước. Nhà tôi nhìn ra một con kinh lớn, một bên lở một bên bồi. Quanh nhà có nhiều bụi lau sậy. Chúng mọc ngay sát mớn nước, tràn dưới lòng kinh. Vì vậy mấy bụi sậy lúc nào cũng run rinh, rì rào, khi thì vì nước chảy xiết, khi thì hứng gió đồng mát rượi… Cứ ra khỏi nhà thì đã thấy lau sậy, thành ra lau sậy như là hình ảnh của nhà vậy. Sau này tha hương, thấy lau sậy là nhớ căn nhà lá nằm dưới những rặng dừa quanh năm trĩu quả, là nhớ về quê cũ, là khi cả một miền ký ức ùa về.
Hồi nhỏ tôi thường được ba tôi kể chuyện Tam quốc diễn nghĩa. Cái giọng ồm ồm của ông ấm áp lạ thường. Truyện Tam quốc thì có biết bao chuyện hay nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ nhớ đoạn nói về Quan Công bị bắt. Thực ra tôi không phải ưa thích lắm nhân vật này, bởi ngay từ nhỏ, nhận thức non nớt của tôi đã thấy dường như tác giả đã cố tô vẻ Quan thành một vị thánh hơn là một người trần mắt thịt. Hồi 77 kể rằng, Quan Vân Trường sau khi không thể cố thủ Mạch Thành vì viện binh không đến, đã phải bỏ thành chạy trốn. Ði đến Quyết Thạch, hai bên đều là núi, cây cối rậm rạp, Quan Công đương chạy, bỗng có tiếng la hét, hai bên binh phục ào ra, lấy câu móc giật mạnh, khiến ngựa vấp chân té xuống, Quan Công ngã theo. Quan Bình thấy cha mình bị bắt, nhào tới cứu, nhưng rốt cuộc cũng bị bắt theo. Trong truyện rõ ràng là nói “cây cối rậm rạp”, vậy mà trong đầu tôi cứ nghĩ là “giữa hai bờ lau sậy rậm rạp”. Dường như lau sậy đã in đậm trong tâm trí tôi, đến độ nó dễ dàng được tán nhuyễn vào những hình ảnh khác, những câu chuyện khác. Có dịp nào anh em đi qua chỗ nào đầy lau sậy, vừa tránh những cọng sậy non nhọn hoắt, tránh những chiếc lá có cạnh sắc răng cưa, tôi lại bảo em tôi: “Chỗ này Quan Công bị bắt đây…”
Vậy đó, lau sậy là một phần của quê nhà, với những gì thân thuộc, trong đó có những chuyện kể của ba tôi đã đi vào tiềm thức, định hình nhân cách, lối sống. Sau này có dịp đi nhiều nơi, có những lần đi vào dịp cuối năm, giữa đất khách quê người, trong không khí rộn rã lúc đón xuân, lòng đã nao nao nhớ về quê cũ. Tình cờ bắt gặp những bờ lau sậy, cũng hoa màu khói – chẳng biết khói sóng hay khói hoàng hôn – nỗi nhớ quê càng da diết.
Bây giờ, sống giữa thị thành, chẳng có mấy dịp để thấy lau sậy nữa. Không ít lần thấy loài hoa dại này được tẩy trắng và bán dạo trên đường phố, tôi bất chợt nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của những bông lau sậy của thời nào. Những bông nhỏ như đầu tăm được gắn bông mềm mại có màu hung, màu bạc kết thành rừng hoa màu mây, màu khói. Loài hoa đó dường như không sắc, hoàn toàn không hương, chỉ mọc dại, chẳng ai trồng, chẳng ai thu hoạch nhưng đối với tôi là một trong những biểu tượng của quê hương. Vì vậy, bất cứ ở đâu, với tôi, lau sậy cũng đã thành miền, một miền ký ức, một miền quê hương.
Nếu Thôi Hiệu trong Hoàng hạc lâu đã viết:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai). (Tản Đà dịch)
Thì Huy Cận thì khác hơn:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Tràng giang)
Khác ở chỗ, dù chẳng có khói (trên tràng giang) vẫn cảm thấy nỗi nhớ nhà dâng lên da diết; và, nếu có khói, biết đâu chẳng phải chỉ là khói sóng? Còn với tôi, màu lau sậy cũng là màu khói! Trong những ngày cuối năm, màu khói ấy càng thêm da diết khôn nguôi!

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2007

Truyện ngắn

VỤ ÁN CẬU ÔNG TRỜI


Lan hết ngồi lại nằm. Nàng thậm chí không biết mình đang ngồi hay đang nằm nữa, vì nó cứ lặp đi lặp lại, không biết bao nhiêu lần. Hôm nay, bỗng nhiên nàng chỉ đọc mỗi quyển Cổ tích Việt Nam và đọc đi đọc lại câu chuyện Cóc kiện trời. Chẳng có lý do gì cả. Nàng chẳng bao giờ đặt ra những lý do để rồi bắt mình phải tự trả lời cả. Có tiếng gọi dưới nhà:
- Lan ơi, xuống ăn cơm.
Nàng không buồn trả lời. Hết nằm, rồi ngồi, rồi ăn cơm, rồi đi tắm, rồi đi ngủ và đọc vùi trong đống sách... bao nhiêu đó việc ngày nào cũng thế. Mẹ nàng trông nàng như đứa trẻ mới lên năm. Người ta quên nàng đã mười tám tuổi rồi.
- Trời ơi! Có xuống ăn cơm không thì bảo. Hay là lại lên cơn nữa rồi?
Lên cơn, đó là tiếng nàng nghe nhiều lần nhất. Lan nhớ mang máng thì hình như năm nàng lên tám tuổi, đang học lớp ba thì có một lần bị té từ trên gác xuống. Sau đó ba mẹ bắt nàng nghỉ học và nói nàng bị “khùng”. Lan không biết mình có bị “khùng” thiệt hay không nhưng lâu lâu lại nghe nói nàng lên cơn rồi quậy phá, đập đồ đạc, xé quần áo khi lên cơn. Nàng không biết lên cơn thì nó như thế nào, nhưng nàng cũng nhận ra rằng nhiều khi nàng cảm thấy mệt nhừ như vừa trải qua một cuộc chiến đấu hay vật lộn gì đó rất quyết liệt.
Nàng uể oải bước xuống nhà. Mâm cơm đã dọn sẵn. Ba, mẹ và Quý, đứa em trai duy nhất, đã ngồi vào bàn và bắt đầu ăn. Nàng ngồi vào chỗ của mình, đối diện với thằng em nghịch ngợm và đôi khi lại rất hỗn. Lan cầm chén cơm lên, bất ngờ nhìn ba, hỏi:
- Ba ơi, thực sự thì con cóc có phải cậu ông trời hôn ba?
Ba nàng bỗng tròn mắt nhìn nàng, đáp:
- Thôi ăn cơm đi, giờ đâu phải lúc nói chuyện vớ vẩn đó!
Thằng em tiếp lời:
- Chị Hai đúng là khùng thiệt rồi. Cóc là cóc, còn trời là người ta tưởng tượng ra chứ làm sao có thiệt được mà chị nói là có bà con?
- Nhưng chị thấy trong sách người ta nói vậy... – Nàng cố thuyết phục.
- Truyện cổ tích mà chị cũng tin. Nó để dụ con nít với mấy người... khùng thôi!
Nó nói rồi cười khúc khích. Mười ba tuổi, nó không còn nhỏ mà cũng không phải là lớn, nàng nhớ mình đã đọc ở đâu đó nói về điều ấy. Mẹ lườm:
- Thôi ăn cơm đi!
Ba cũng nói:
- Ăn cơm mà nói chuyện gì đâu không!
Nói vậy rồi chứ ba cũng nói chuyện. Ba làm công chức nhà nước, không biết làm chức gì nhưng thường có nhiều khách đến nhà lắm, nhất là vào dịp tết và các buổi tối. Không chừng tối nay cũng vậy. Nàng nhớ nhiều người tới nhà, trước đây có người dúi phong bì vào tay Lan, mà mẹ chẳng bao giờ bắt Lan phải thưa gì cả. Họ còn xoa đầu Lan như một đứa bé. Khách về, mẹ vội lấy ngay cái phong bì đó, nên Lan chẳng biết trong đó có gì. Nàng nghĩ chắc ba hiểu biết nhiều lắm, nhưng bao giờ hỏi gì ba cũng chẳng giải thích cả. Cái câu: “ăn xong, ba nói cho nghe”, chỉ là lời hứa suông thôi.
Bữa cơm xong, mẹ tự tay dọn dẹp. Nàng thấy mẹ cực quá nhiều lần định giúp nhưng mẹ không cho, mà còn mắng nữa. Bởi vì nàng nhớ có vài lần nàng rửa chén mà làm đổ bể cả chồng chén dĩa, đã thế còn làm đứt chân nữa. Lần đó mẹ vừa dọn dẹp, vừa mắng nàng sa sả. Thế là nàng không được rửa chén nữa. Mà nàng cũng không phải giặt đồ, vì đã có máy giặt. Nàng cũng chẳng phải đi chợ – ba mẹ không dám cho nàng ra khỏi nhà vì sợ đi lạc. Nàng chẳng phải làm gì cả. Nàng chẳng phải đi đâu cả, kể cả đi học, từ cái ngày mà nàng bị ngã. Và nàng hầu như chẳng gặp ai cả ngoài những người trong nhà.
Nàng lò dò lên gác, lại lục trong đống sách, tìm một cuốn gì đó để đọc. Chẳng có cuốn nào mới cả. Phần lớn nàng đã đọc ít nhất một lần rồi, kể cả những cuốn nàng chẳng hiểu gì cả, như Bút ký triết học của Lênin, bộ Tư bản của Mác, Chuyện trong vườn lý của Nguyễn Văn Trấn hay mấy cuốn sách về di truyền học... Đó là những cuốn sách chính trị của ba nàng sưu tầm từ hồi còn đi học bằng cách nhịn tiền ăn sáng và tiết kiệm tiền học bổng, cùng những cuốn giáo trình của chú Út. Chú Út ngày xưa học ngành sinh học, bây giờ làm ở một viện nghiên cứu. Ở nhà từ ngày ông bà nội mất chắc chú Út là người thương Lan nhất. Nhưng chú ở xa quá, có khi cả năm mới ghé thăm, mà lần nào ghé thăm, chú với ba cũng hay lớn tiếng với nhau, chỉ vì Lan. Nàng buồn lắm, vì nàng mà anh em ba bất hòa...
Vớ đại cuốn Những mẩu chuyện vui tiếng Anh, nàng nằm xuống định đọc thì có tiếng gọi:
- Lan ơi, đi tắm!
Nàng nghe tiếng gọi của mẹ là biết nước đã sôi, không thể trì hoãn được. Nàng lại nhè nhẹ xuống nhà đi tắm. Thằng Quý đang xem tivi, lại phim đánh nhau, hình như nói về vua Càn Long, ông vua giỏi nhất nhà Thanh đây mà. Nghĩ đến đó, tự nhiên nàng cười một mình, ông vua giỏi này bị Quang Trung đánh thất điên bát đảo, phải chịu cầu hòa và còn tặng nhân sâm nữa. Nàng nhớ lại những quyển sách mình đã đọc nói về chuyện này, trong đó có bộ Hoàng Lê nhất thống chí. Thằng Quý bỗng ngó lên rồi hỏi:
- Bộ chị lên cơn rồi hay sao mà cười một mình vậy?
Nàng chẳng lạ gì cậu em quý tử này nữa. Lúc nào nó cũng bảo mình khùng, kể cả khi nó có bạn tới chơi. Nàng không trả lời, đi thẳng xuống nhà tắm.
Tối. Mọi người tập trung dưới phòng khách xem tivi. Nàng lò dò đi xuống, rón rén ngồi xuống một góc ghế. Truyền hình đang chiếu cảnh động đất và sóng thần ở châu Á. Nàng xem mà khẽ rùng mình, trong khi mọi người cứ xuýt xoa. Chợt nàng nghĩ đến một xã hội mà mọi người sống rất thanh bình với nhau, nàng ao ước được sống trong xã hội ấy. Nghĩ một lúc nàng hỏi:
- Ba ơi, ba có nghĩ là ở Utopi, người ta sống rất hạnh phúc không?
Ba nàng tròn mắt nhìn con gái. Ông có vẻ quá bất ngờ trước câu hỏi “vĩ mô” của con. Ông suy nghĩ một lát. Nếu như bình thường thì hoặc ông bảo “đừng có hỏi mấy chuyện vớ vẩn đó” hoặc “lát nữa ba nói cho nghe” thì hôm nay ông đang suy nghĩ. Vài phút sau, ông lên gác, hình như lục tìm các tài liệu về Utopi. Vẫn không thấy ông trả lời gì. Ông mở mạng internet tra cứu, rồi lục lấy tự điển tiếng Anh để dò. Nhưng Lan nhìn thấy ba cứ liên tục lắc đầu. Mẹ Lan nhìn thấy sốt ruột nói:
- Thôi anh, con nó hỏi vu vơ thế mà cũng mất công đi tìm à?
Ba Lan mở cặp kính ra nhìn mẹ đáp:
- Cái này hồi trước anh rành lắm chứ! Bây giờ lâu quá rồi không đụng tới thành ra quên. Tiếng Anh cũng quên sạch, thiệt tệ.
Ba tắt máy tính, lại gần Lan nói nhỏ nhẹ:
- Ba xin lỗi. Ba không giải thích cho con về Utopi được. Khi nào tìm được tài liệu, ba sẽ nói cho con nghe.
Lan nghe ba trả lời, không chút thất vọng mà trái lại, nàng thấy thật sung sướng. Chưa bao giờ ba nói với nàng dịu dàng thân mật như vậy. Chưa bao giờ ba nàng xin lỗi với nàng cả. Nếu có, nàng lờ mờ nhớ cách đây lâu lắm, khi nàng chưa bị tai nạn...
- Ba ơi! Ba nghĩ là có sự sống bên ngoài trái đất không?
Nàng đã đọc cuốn sách của nhà khoa học Nguyễn Ngọc Giao về sự sống ngoài trất đất, nhưng nàng vẫn không hiểu.
Ba nàng lại suy nghĩ một lúc. Thằng Quý “hớt”:
- Chị hỏi toàn là chuyện vô duyên không hà, đúng là khùng. Sao chị không hỏi ba khu đất nhà ở quận mình có quy hoạch hay nhà ở đường nào cao giá nhất?
Mẹ lườm Quý:
- Con nít, không được bàn chuyện người lớn!
- Nhưng chị Hai cũng đâu phải người lớn... – Nó cố chống chế. Nàng chợt nghĩ không biết mình là người lớn hay con nít. Mới hôm kia, mẹ nàng còn nói: “Con nay lớn rồi, không được gần đàn ông, con trai lạ, nếu không sẽ bị bụng bự đó!”. Nàng chẳng hiểu gì cả. Bụng bự thì sao, có gì xấu không? Thím Út cũng từng bụng bự rồi sinh ra em bé đó. Còn bụng ba cũng bự vậy, nhưng chẳng bao giờ thấy ba sinh em bé... Nhiều câu hỏi quá, nàng muốn biết nhưng hỏi ba thì ba không nói, hỏi mẹ thì mẹ nạt ngang. Nàng chỉ còn biết những trang sách, nhưng sách không biết nói...
Chợt điện thoại reo. Ba nghe xong bảo, phải đi ngay, có hẹn. Chắc lại nhậu nhẹt hay tiệc tùng gì đó. Ba dắt xe ra, chẳng hứa hẹn gì về câu hỏi của Lan nữa. Chợt có tiếng la của ba:
- Chết rồi! Quý ra dọn dùm ba coi!
Thằng Quý lật đật chạy ra. Lan cũng chạy ra: một con cóc chết, nó vừa bị xe của ba cán phải. Con cóc này Lan quen lắm. Nó sống trong kẹt mấy chậu kiểng trước nhà đây mà. Hàng ngày nó vẫn nhảy ra nhảy vào đây mà. Lan biết cóc là loài vật có ích, vì nó ăn sâu bọ, muỗi mòng. Mỗi khi cóc nghiến răng là trời đổ mưa. Vì cóc là cậu ông trời, cóc nghiến răng là báo hiệu cho trời biết trần gian đang nắng hạn. Cổ tích nói thế, sự thật cũng thế, chẳng sai chút nào.
Vậy mà chú cóc này đã bị xe ba cán chết. Lan thương nó quá! Quý nói:
- Để em vứt cho!
- Đừng, để chị đem chôn nó.
Quý trợn mắt:
- Thôi đi bà chị khùng, ai lại đi chôn cóc?
- Sao lại không? Cóc là cậu ông trời mà!
Quý “xì” một tiếng rồi bỏ vô nhà. Lan ngồi nhìn con cóc đang giãy chết. Con cóc này có tội gì đâu mà chết. Nó sống có ích, hiền lành lại là cậu ông trời mà còn bị chết. Nàng buồn thật buồn, chẳng hiểu vì sao cả. Nàng bật khóc. Nàng sắp ngã gục xuống sân. Tiếng thằng Quý cất lên làm nàng bừng tỉnh:
- Chị Hai lại lên cơn nữa rồi!
Tiếng mẹ nàng léo xéo. Nàng bỗng thấy mờ mắt, đầu choáng váng, quay vào đến nhà thì ngã lăn xuống sàn nhà. Chừng tỉnh lại nàng thấy đang nằm trong phòng, chắc thằng Quý và mẹ đưa nàng lên đây. Khẽ nhìn đồng hồ, đã hơn nửa đêm rồi. Nghĩ lại những chuyện ban tối, nàng thấy lòng đau nhói. Một con cóc chết. Trời ơi, sao nó lại chết? Trời ơi, cậu của ông trời đã chết rồi!
Nghĩ chán, nàng lặng lẽ ngồi dậy, bật đèn lên. Nàng giở quyển sổ ghi của nàng, đây là quyển sổ ghi nhật ký, thơ và đủ các chuyện mà chưa ai từng đọc. Nàng định viết lại câu chuyện về con cóc chết. Sao con cóc kia giống thân phận nàng quá. Con cóc sống lặng lẽ nhảy ra nhảy vào kẹt tường, cũng như nàng đi ra đi vào cái phòng nhỏ này. Nhưng con cóc còn có ích... Nếu một ngày nàng cũng chết... Nàng suy nghĩ thật lâu, rồi đặt bút bắt đầu viết: “Vụ án cậu ông trời...”.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2007

Hoa dã quỳ


Tạp bút

BẤT TẬN DÃ QUỲ…

Khi heo may bắt đầu về thì cao nguyên vàng rực một màu của dã quỳ. Không lẫn vào đâu được. Đến độ có những vùng đất đã trở thành xứ sở của dã quỳ. Mà Đà Lạt chỉ là một.
Có nhiều loài hoa màu vàng say đắm lắm chứ! Hoa bò cạp nước vàng ươm, rủ từng dòng như thác vàng óng đổ. Hoa cúc vàng tươi có chiếc cuống dài vươn cao trong nắng. Hoa hướng dương vàng rực nghiêng mình theo chiều mặt trời như hướng về chân lý bất diệt. Ngay cả những chiếc hoa mướp, hoa khổ qua, hoa dưa… vàng hoe màu của nắng cũng gợi cho chúng ta biết bao cảm xúc về những vùng quê thanh bình trù phú.
Thế nhưng, đứng trước dã quỳ, cái màu vàng ấy vừa ươm, vừa tươi, vừa rực, vừa hoe, lại cho ta cảm xúc khác. Không lẫn vào đâu được.
Bởi một điều có lẽ rất đặc biệt, dã quỳ là loài hoa dại, không ai trồng, chẳng ai chăm sóc, không hương thơm nhưng lại có sắc màu quyến rũ kỳ lạ. Dã quỳ chỉ đẹp chỉ mọc thành trảng, thành vừng, thậm chí thành rừng. Nếu chỉ một hai bụi dã quỳ đơn lẻ, chắc ta cũng chỉ thấy một chỏm vàng trên nền xanh lọt thỏm giữa cao nguyên mênh mông. Nhưng khi đi qua những dải hoa vàng tưởng như bất tận, ta bỗng thấy đất trời như chỉ có dã quỳ.
Dã quỳ có lẽ đẹp hơn chính vì nở hoa trong tiết trời se lạnh. Khi mọi người đã quá quen thuộc với khí hậu nóng ẩm gần như quanh năm của đất phương Nam thì chính cái không khí se se lại dễ làm người ta dễ chịu. Cảm giác đó đưa con người đến những cảm xúc rộn rã của thời khắc giao mùa – đông và xuân đang âm thầm bước đến. Và, dĩ nhiên, dã quỳ luôn làm say lòng như tất cả những người từ nơi khác đến với cao nguyên.
Không chỉ vậy, dã quỳ như gắn liền với những chiếc áo len xanh đỏ, những chiếc thổ cẩm đủ màu sặc sỡ, những chiếc gùi mây, những chiếc xe ngựa xe bò bánh gỗ, những vạt đất màu đỏ thắm của vùng cao. Đi Đà Lạt, đến Buôn Ma Thuột, lên Pleiku hay qua Kontum, nơi nào cũng rực rỡ màu vàng ấy. Những trảng dã quỳ rung rinh trong gió cứ ngỡ như sóng biển rì rào buổi bình minh dưới ánh mặt trời dát vàng lấp lánh. Cứ thấy những rừng dã quỳ, ta biết đã đến Tây Nguyên!
Tôi yêu dã quỳ hơn bất kỳ loài hoa nào khác. Mấy lần đi Tây Nguyên, tôi hái được vài chùm hoa khô về làm giống. Tôi đinh ninh đất Đồng Nai chắc không xa lạ với loài hoa này. Rồi hạt giống nảy mầm, những thân dã quỳ chắc mẩy như thược dược ngày một lớn. Tháng mười một hoa nở. Những cánh hoa vàng tươi rung rinh trong gió. Lòng tôi vui sướng khi thấy sự cố gắng của mình đã có kết quả. Nhưng tôi chẳng thể có được cảm xúc khi đứng trước những trảng dã quỳ bất tận của vùng cao. Vì chẳng có những ngọn gió se se? Chẳng có những đôi má hồng miền sơn cước? Vì thiếu màu đỏ của đất badan? Hình như chẳng phải như vậy. Mấy bụi dã quỳ của tôi lẻ loi nên nom như loài cúc dại. Thì ra, dã quỳ thực sự đẹp, thực sự quyến rũ khi đã mọc thành trảng, thành rừng…
Cũng như con người thật lẻ loi, cô độc và đáng chán khi chỉ có một mình. Không phải để so sánh với nhau, mà chính là để góp thành một sức mạnh chung, một tiếng nói chung. Đó là quần thể, là cộng đồng, là xã hội, tác động qua lại với nhau, hỡ trợ nhau và tôn vẻ đẹp của nhau. Từ thể chất đến tinh thần.
Đó là sự tuyệt vời của tạo hóa. Không chỉ đối với hoa, mà cả đối với người.
Một đêm tôi mơ mình có một trang trại giữa cao nguyên. Tôi đã trồng toàn dã quỳ. Không để bán, không để làm du lịch. Chỉ để nhìn ngắm, cho thỏa niềm đắm đuối với một loài hoa dại. Tôi thấy mình đi giữa sóng dã quỳ. Rung rinh. Rì rào. Khi tan giấc điệp, tôi vẫn còn nở nụ cười tươi!
Ngoài kia, khí trời se se cho biết xuân đang bước chân về!

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2007

NGÀY XƯA ĂN TẾT Ở QUÊ

Tôi vẫn nhớ như in những ngày gia đình tôi còn sống ở quê, một huyện nghèo nằm trên cù lao An Hóa, đón Tết như thế nào. Ngày ấy, quê tôi còn nghèo lắm, cái nghèo hằn sâu ở những nếp nhăn chân chim trên trán ngoại tôi cùng bao nhiêu người suốt đời làm nông dân lam lũ, cái nghèo đọng trên lúa mùa một vụ cao kều thường ngã la liệt mỗi khi có mưa gió, cái nghèo còn vương trên những rặng dừa nước hiên ngang đứng giữa dòng nước mặn như là loài cây duy nhất chịu được sự khắc nghiệt của thổ nhưỡng…
Nhưng mỗi khi vào dịp Tết, quê tôi lại rộn ràng hẳn lên. Người ta chuẩn bị đón năm mới bằng một niềm lạc quan phấn khởi chứ hiếm khi lo lắng, buồn rầu. Nhà trồng vài luống vạn thọ vàng rực để bán chưng trong dịp Tết; nhà thì giã khoai mì, nếp làm bánh phồng; nhà thì gói bánh tét; nhà phơi củ kiệu, cải bẹ xanh làm dưa chua; nhà mổ heo "chia" cho hàng xóm dành để kho tàu … Có nhà làm nhiều thức nhưng nhiều nhà khác chỉ làm một thức rồi biếu tặng qua lại để rồi trong ngày Tết nhà nào cũng có nhiều thức khác nhau.
Nhà ngoại tôi thường làm bánh phồng mì (khoai mì nấu chín giã nhuyễn ướp đường, nước cốt dừa…). Độ một tuần trước tết, cậu út tôi mang cái cối ximăng nặng trĩu ngày thường vẫn giã chuối cây cho heo ăn, bị bỏ lăn lốc dưới gốc vú sữa trước sân, ra chùi rửa sạch sẽ. Sau đó, cậu cầm chày, mợ ngồi canh cho mì vào, tiếng chày đều đặn cang lên, hòa vào những tiếng chày khác nghe như một dàn nhạc thậm thình… thậm thình… vui tai. Giã xong, mợ tôi cán mỏng rồi xếp trên những chiếc chiếu bông thường ngày vẫn cất kỹ, sau đó mang ra ruộng bưng - giờ đã khô nẻ - phơi cho đến khô. Ở đấy, người ta cũng phơi bánh nhiều lắm, màu trắng của bánh nổi bật trên nền xanh đỏ của chiếu bông tạo thành một bức tranh đẹp mắt. Mùi thơm theo gió quyến rũ bọn trẻ con, khiến chúng len lén chạy về nhà nhón tay một chút bột đang quết cho vào miệng rồi chạy đi chơi tiếp.
Ngoài đường, tiếng các bà các cô đi chợ cười nói rộn rã lẫn trong tiến thúng gánh kẽo kẹt và tiếng lục lạc xe bò leng keng càng vui tai. Thỉnh thoảng vài tiếng pháo chuột nổ lép bép càng làm không khí tết thêm rộn rã. Mùi pháo theo làn gió bấc se se phảng phất trong không trung thơm thơm nồng nồng tạo nên một không khí đặc trưng không thể nào quên được. Trong nhà người ta trang quét dọn, trang trí lại, bày mâm ngũ quả, nhang đèn nghiêm chỉnh…
Nhà tôi cũng như nhà nhiều người thường trang trí bằng cách treo tranh. Vì ở nông thôn, phần lớn nhà có vách bằng "lá chằm" - lá dừa nước kết lại - nên nói chung không được đẹp mắt và không có nhiều màu sắc. Vì thế người ta nghĩ ra cách treo những tấm tranh để trang trí. Đó là loại tranh "tứ thời" - loại tranh có 4 tờ, phổ biến có các tranh kể về gương 24 người con hiếu thảo - mỗi bộ tranh là một truyện, truyện Lưu Bình - Dương Lễ, Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Thạch Sanh - Lý Thông… Đối với lũ trẻ con chúng tôi, những tấm tranh nhiều màu sắc luôn có sự hấp dẫn rất lớn. Tôi thường dán mắt vào những cảnh ông Mẫn Tử Khiên mùa đông mặc áo rách kéo xe cho cha, ông Mạnh Tông đang mùa đông khóc để có măng cho mẹ, bà Tào Thị cầm roi đuổi đánh anh em Nghi Xuân - Tấn Lực, mẹ con Lý Thông chạy trốn về quê nhưng bị trời đánh chết… chỗ nào không biết tôi hỏi ba, hoặc hoi ngoại. Ngoại tôi tuy không biết chữ nhưng chuyện gì tôi hỏi ngoại đều trả lời rành rọt. Có lần đang đêm, tôi cầm chiếc đèn dầu đứng sát vách để xem cho rõ, dù ban ngày đã xem không biết bao nhiêu bận rồi, rủi thay, ngọn lửa bắt sang tấm tranh, cháy liếm vào vách lá. Tôi lính quýnh một lúc nhưng sau đó cũng biết lấy mấy cây củi dập tắt được ngọn lửa. Hôm sau, ba bắt tôi đánh một trận nên thân vì suýt nữa làm cháy nhà, nhưng cũng từ đấy, ông thường kể chuyện trong tranh tỉ mỉ hơn và Tết năm nào, ông cũng mua tranh treo ở nhà, dù những chuyện ấy, ông đã biết từ thuở nhỏ.
Ngày tết, các cửa hàng mậu dịch hàng hóa nhiều hơn. Tôi nhớ mỗi người được mua thêm một gói bột ngọt, một bánh pháo và vài thứ linh tinh khác. Mẹ tôi mua cho anh em chúng tôi mỗi đứa một đôi dép và bộ áo mới, con trai thì bộ pyjama, con gái thì đồ bộ bằng vải so, mặc vài bữa đã thun lên. Sáng mùng một, ba mẹ dắt anh em chúng tôi về chúc tết hai bên nội ngoại. Hai nhà cách nhau ba bốn cây số nhưng đi bộ không thấy mỏi chân, vì vui quá. Tôi nhớ bên nhà nội, ông cố tôi khi ấy đã gần trăm tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh, có điều ông bị lảng tai, mắt rất kém nên không nhận ra được mấy đứa cháu cố. Tôi lên nhà trước thưa ông cố xong và để ông xoa đầu một cái thì xuống ngay vì tôi thấy chiếc áo quan lo hậu sự của ông năm mới được sơn lại đỏ chót thì sợ quá. Về bên ngoại, cậu út làm cho tôi một cây súng bắn pháo, tôi tha hồ ghim pháo chuột vào mà dọa đám trẻ khác. Có năm, vú sữa chín sớm, tôi còn được ngoại đãi những trái vú sữa nhỏ ngọt thanh thao. Tôi thấy nhiều người lớn cũng ăn mặc đẹp đến nhà hàng xóm, bà con chúc tết, xong lại còn lai rai vài li rượu mới sang nhà khác. Mùng hai, mồng ba tết, hôm thì tôi qua nội, hôm qua ngoại, đều một mình, rồi cùng các anh em họ rủ nhau đi hội chợ. Sà vào các quầy lô tô vui ơi là vui, nhưng một lúc sau thế nào tôi cũng thua mất mấy đồng lì xì thường vẫn bỏ trong túi kêu rủng rỉnh như người có nhiều tiền lắm vậy. Chơi chán, tôi ghé vào mấy hàng cà rem đá tẩm màu xanh đó ăn vài cây, vừa nghe tiếng rao tối nay tại rạp huyện có tuồng cải lương gì đó…
Ngày Tết ở quê tôi như vậy, không nhiều lễ lộc, không quá giản tiện, cũng không quá cầu kỳ. Càng lớn, tôi thấy không khí tết ngày càng nhạt đi, không phải chỉ vì đã rồi tuổi ham chơi nữa, mà còn vì thiếu hẳn những tiếng thậm… thình làm bánh phồng, thiếu tiếng kẽo kẹt gánh hàng về ăn tết, thiếu sự chuẩn bị sôi động. Ngày tết giờ đơn giản chỉ là ngày cuối và đầu năm, người ta nghỉ làm việc, ở nhà ăn uống khá hơn, mặc đẹp hơn. Thế thôi. Dù đời sống ở quê tôi giờ đã thay da đổi thịt.
Và vì những ngày tết sau này không còn ngoại, không còn ông cố…

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2007

NGHĨ VỀ TÌNH THẦY TRÒ

1. Nhân một số sự kiện liên quan đến việc thầy giáo cố tình để người khác đánh đập, tra tấn, ép cung học trò của mình ở Đồng Tháp, rồi ở TP.HCM, một nhà giáo đã nghỉ dạy khá lâu là Phan Văn Xem (hiện ngụ ở thị trấn Bình Đại – Bến Tre) kể cho tôi nghe một câu chuyện xảy ra ở trường tiểu học Đại Điền huyện Thạnh Phú (Bến Tre) hồi trước giải phóng. Lần nọ, một người lính vào trường chọc ghẹo cô giáo với thái độ rất lộ liễu. Một thầy giáo thấy bất bình nên có lời căn ngăn, tức thì bị người lính này đánh. Học trò trong trường (chỉ độ khoảng 10 tuổi) thấy thầy giáo của mình bị đánh nên đã lập tức người bẻ cành cây, người nhặt đất đá đã tấn công tới tấp vào người lính, khiến anh ta phải bỏ chạy. Thầy Xem nói: “Lúc đó, cả sân trường đầy nhánh cây. Những cây me non vài năm tuổi thì đã trụi cành. Tôi thật sự xúc động trước hình ảnh đó. Học trò sẵn sàng ra tay bảo vệ thầy, ngoài lý do để bảo vệ lẽ phải chắc chắn có một tình cảm sâu sắc”.
Nhắc lại chuyện một số thầy giáo có thái độ chưa hay với học trò, thầy Phan Văn Xem kết luận: “Bây giờ tình thầy trò sao nó lạt lẽo thế!”
2. Khi học ở trường tiểu học Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại (Bến Tre) cách đây hơn 20 năm, trong lớp tôi có một bạn tên là Trần Văn Cu. Cái tên “Cu” này rõ là không hay, không đẹp nhưng nó gắn với một tập quán của người dân thôn quê Nam bộ, rằng con nít được đặt tên xấu thì dễ nuôi! Bởi vậy, những cái tên Tí, Tèo, Đực, Nia… được khá nhiều người đặt cho con cái của mình.
Trong lớp tôi, dù đã quen với bạn Cu, nhưng mỗi lần nghe cô giáo gọi đến tên thì đám trẻ chúng tôi ở dưới lại cười khúc khích. Vài đứa nghịch ngợm còn kết ghép với những chữ khác chẳng hay ho gì hay bày những trò “quỷ” lếu tếu!
Một lần cô giáo bảo với Cu: “Tên của em làm các bạn hay cười nhạo, để cô đổi lại thành Cưu nhé!” Bạn Cu cúi mặt im lặng nhưng ra chiều cảm động lắm.
Lúc ấy, có lẽ chưa đứa nào trong lớp tôi biết “cưu” có nghĩa là gì nhưng sau này, tôi biết đó là một từ đẹp, không chỉ trong từ “cưu mang” mà còn trong một bài cổ thi nổi tiếng “Oan oan thư cưu, tại hà tri châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”… Sau buổi học đó, bạn bè có đứa nào chọc về cái tên “Cu” nữa, Cưu liền “sửa miệng”: “Tên tao là Cưu mà!” Nói rồi bạn chìa cái nhãn vở có ghi chữ Trần Văn Cưu nắn nót.
Hiện nay, Trần Văn Cưu là một kỹ sư, làm việc tại một nhà máy ở Bến Tre. Tôi chắc rằng, cái tên Cưu có nhiều ý nghĩa đối với anh, không chỉ là một cái tên đẹp mà còn đầy kỷ niệm về lòng quan tâm và yêu thương của cô giáo đối với đứa học trò nhỏ của mình.
3. Trong thang bậc xã hội xưa, người thầy đứng ở vị trí số hai: quân – sư – phụ. Người thầy chỉ đứng sau vua, vốn có quyền uy tối thượng mà thôi. Cha mẹ, ông bà khi gặp thầy giáo của con cháu, dù có lớn tuổi hơn vẫn hết sức cung kính. Điều đó đã dạy cho học trò sự kính trọng người thầy của mình. Đối lại, người thầy có vai trò với người học khá lớn. Bên cạnh dạy chữ (văn), người thầy rất quan tâm việc dạy làm người (lễ). Từng cách cư xử, lời nói đều được thầy chỉ bảo, chứ không đơn thuần truyền thụ kiến thức văn hóa. Bởi vậy, trong Cổ học tinh hoa, chuyện Học trò biết học, kể rằng ông Công Minh Tuyên
(1) đến học thầy Tăng Tử. Ở nhà thầy đã ba năm mà không mấy khi đọc sách. Thầy Tăng Tử thầy lạ hỏi thì ông đáp: “Thưa thầy, con vẫn học. Còn thầy ở trong nhà, trước mặt song thân, lúc nào cũng hiếu thuận, hòa nhã, cho đến giống vật như chó, mèo, thầy cũng không quở mắng bao giờ. Thầy ứng tiếp bạn bè cung kính ung dung, rất có lễ độ, kẻ dở người hay, ai nấy đều khâm phục. Thầy ở triều đình, đối với kẻ dưới bề ngoài rất là nghiêm trọng(2), mà trong bụng rất là nhân từ, không có ý hại ai bao giờ cả. Ba điều ấy con lấy làm vui lòng mà mãi làm chưa được. Con đâu dám không học mà cứ ở nhà thầy”.
Xã hội hiện nay, người thầy có ít thời gian ở gần học sinh. Trong thời gian đó, họ cũng tất bật với việc dạy cho kịp chương trình, có lẽ ít có điều kiện để uốn nắn lời ăn tiếng nói hay các cử chỉ. Trong khi đó, chỉ cần một cái xoa đầu hỏi thăm, một cử chỉ sửa cổ áo, một sự giúp đỡ nho nhỏ… cũng đủ khiến học trò cảm động và nhớ mãi. Khi đó, đối với những đứa học trò, tình thầy trò chắc chắn sẽ rất sâu sắc. Sau giờ trên lớp, người thầy cũng phải toan lo với việc gia đình nên ít có dịp gặp gỡ với bản thân và gia đình của học trò nên độ “hiểu” và sự gần gũi đối với học sinh cũng rất hạn chế. Đối lại, chính cha mẹ học sinh cũng có lẽ không còn sự kính trọng người thầy như xưa. Nhiều người coi thầy giáo như một người làm nghề dạy học kiếm sống như muôn nghề khác chứ ít xem đó là một thiên chức. Điều này đã ít nhiều làm giảm sự tôn kính của học sinh đối với người thầy.
Có lẽ vì những điều đó mà tình thầy trò nhạt hơn xưa chăng?
Có lẽ mỗi người chúng ta, trong đó có người thầy, nên tự suy ngẫm để cùng nhau giúp tình thầy trò thắm thiết hơn! Đó cũng là cách giúp tinh thần tôn sư trọng đạo được củng cố và phát huy.
(1) Công Minh Tuyên, người nước Lỗ ở đời Xuân Thu, là học trò của Tăng Tử.
(2) Có lẽ ý là nghiêm khắc.

Thời sự và suy nghĩ

CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN LÀ CỐT YẾU

Việc “thay đổi” chỉ số tiêu dùng từ 9,45% xuống còn 7,92% được nhiều người cho là để “làm đẹp” tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2007, vốn theo nghị quyết của Quốc hội là chỉ số tiêu dùng phải thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP (8,5%). Thực ra điều đó chỉ quan trọng với các nhà quản lý, các nhà hoạch định, các chuyên gia, còn đối với người dân, chất lượng sống dường như không tăng trong cơn “bão giá” hiện nay.
Cụ thể, những người lao động ăn lương (công nhân, cán bộ, công chức, người nhận lương hưu…), đại bộ phận nông dân chính là những người chịu thiệt thòi nhất trong điều kiện giá cả tiêu dùng tăng vùn vụt hiện nay. Chẳng hạn, với cán bộ công chức, suốt năm 2007, lương tối thiểu không tăng (đồng nghĩa với thu nhập cơ bản không tăng), nhưng giá cả tiêu dùng tăng 7,92% (theo “cách tính mới), tức là thu nhập của họ đã giảm đi 7,92%. Không chỉ vậy, chỉ số này được tính chung cho nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ; trên thực tế, với sự tiêu dùng, mua sắm của mình (ở mức phổ biến, thông thường, chủ yếu là các nhu yếu phẩm), người lao động phải chịu mức trượt giá còn cao hơn. Ví dụ, hồi đầu năm, giá bán lẻ một chai dầu ăn Tường An là 18.000 đ, thì cuối năm đã là 24.000 đ, tức là tăng đến trên 30%; đường cát trắng thì tăng từ 10.000 đ/kg tăng lên 12.000đ, tức tăng 20%; sữa hộp Vinamilk đầu năm có giá 13.500đ/lốc thì nay tăng lên 15.000, tức là tăng hơn 10%; hoặc, từ khi giá xăng dầu tăng 15% thì nhiều hàng hóa, dịch vụ khác cũng tăng theo tương ứng… Đối với nông dân, giá cả tăng cũng gây cho họ rất nhiều khó khăn, vì khi mua nhiều loại hàng hóa với mức cao (vừa tiêu dùng, vừa để sản xuất) nhưng không phải mặt hàng nông sản nào cũng tăng giá, trong khi mỗi hộ nông dân thường chỉ bán ra một vài mặt hàng và nếu có tăng giá cũng khó có mức tương ứng. Như vậy, gần như chất lượng sống của tuyệt đại đa số trong 70% dân số Việt Nam trong năm 2007 không tăng, thậm chí là giảm đi. Đặc biệt, với đồng bào vùng bị thiên tai (trong đó bà con miền Trung liên tiếp chịu nhiều trận bão và lũ), mức sống còn bị sụt giảm nghiêm trọng.
Chính vì vậy, mức tăng thu nhập bình quân đầu người năm 2007, tăng 5,8%, theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Tá, lại rơi vào trường hợp “nửa con gà”, tức là có một số người tăng thu nhập (thậm chí cao hơn nhiều so mức 5,8%) nhưng thu nhập của nhiều người khác lại không tăng hoặc phải giảm. Chủ nghĩa bình quân trong trường hợp này không chừng lại tạo ra sự lạc quan kiểu A.Q., một phép “lợi thế tinh thần” thật nguy hiểm. Vì tình chung trong cả nước, tổng thu nhập có tăng lên, nhưng đối với đại bộ phận người dân thì thu nhập của họ tăng không đáng kể, hoặc không tăng, thậm có một số không nhỏ bị sụt giảm. Rõ ràng, có sự phân bổ rất không đồng đều trong thu nhập. Nói cách khác là sự giãn ra quá mức trong thu nhập cũng như mức sống (đồng nghĩa với chất lượng sống) của người dân nước ta.
Điều quan trọng nhất hiện nay của các cơ quan chức năng, nhất là Bộ Tài chính, có lẽ là kiềm hãm có hiệu quả sự trượt giá, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán sắp đến. Việc “đối phó” (nếu có) bằng cách tính toán lại chỉ số giá tiêu dùng rõ ràng không giải quyết được vấn đề cốt yếu là đảm bảo và nâng cao chất lượng sống của người dân. Trong đó, điều rất quan trọng là phải giúp nông dân tăng thu nhập (bằng cách giải quyết có hiệu quả bài toán đầu ra cho các mặt hàng nông sản), khi đó, nông dân với vai trò là lực lượng tiêu dùng đông đảo, sẽ thúc đẩy nền kinh tế chuyển động tích cực. Và tất nhiên, thu nhập và mức sống của người dân (nói chung) sẽ được tăng lên.
Bài đã đăng báo Tuổi trẻ, ngày 3-12-2007