NGÀY XƯA ĂN TẾT Ở QUÊ
Tôi vẫn nhớ như in những ngày gia đình tôi còn sống ở quê, một huyện nghèo nằm trên cù lao An Hóa, đón Tết như thế nào. Ngày ấy, quê tôi còn nghèo lắm, cái nghèo hằn sâu ở những nếp nhăn chân chim trên trán ngoại tôi cùng bao nhiêu người suốt đời làm nông dân lam lũ, cái nghèo đọng trên lúa mùa một vụ cao kều thường ngã la liệt mỗi khi có mưa gió, cái nghèo còn vương trên những rặng dừa nước hiên ngang đứng giữa dòng nước mặn như là loài cây duy nhất chịu được sự khắc nghiệt của thổ nhưỡng…
Nhưng mỗi khi vào dịp Tết, quê tôi lại rộn ràng hẳn lên. Người ta chuẩn bị đón năm mới bằng một niềm lạc quan phấn khởi chứ hiếm khi lo lắng, buồn rầu. Nhà trồng vài luống vạn thọ vàng rực để bán chưng trong dịp Tết; nhà thì giã khoai mì, nếp làm bánh phồng; nhà thì gói bánh tét; nhà phơi củ kiệu, cải bẹ xanh làm dưa chua; nhà mổ heo "chia" cho hàng xóm dành để kho tàu … Có nhà làm nhiều thức nhưng nhiều nhà khác chỉ làm một thức rồi biếu tặng qua lại để rồi trong ngày Tết nhà nào cũng có nhiều thức khác nhau.
Nhà ngoại tôi thường làm bánh phồng mì (khoai mì nấu chín giã nhuyễn ướp đường, nước cốt dừa…). Độ một tuần trước tết, cậu út tôi mang cái cối ximăng nặng trĩu ngày thường vẫn giã chuối cây cho heo ăn, bị bỏ lăn lốc dưới gốc vú sữa trước sân, ra chùi rửa sạch sẽ. Sau đó, cậu cầm chày, mợ ngồi canh cho mì vào, tiếng chày đều đặn cang lên, hòa vào những tiếng chày khác nghe như một dàn nhạc thậm thình… thậm thình… vui tai. Giã xong, mợ tôi cán mỏng rồi xếp trên những chiếc chiếu bông thường ngày vẫn cất kỹ, sau đó mang ra ruộng bưng - giờ đã khô nẻ - phơi cho đến khô. Ở đấy, người ta cũng phơi bánh nhiều lắm, màu trắng của bánh nổi bật trên nền xanh đỏ của chiếu bông tạo thành một bức tranh đẹp mắt. Mùi thơm theo gió quyến rũ bọn trẻ con, khiến chúng len lén chạy về nhà nhón tay một chút bột đang quết cho vào miệng rồi chạy đi chơi tiếp.
Ngoài đường, tiếng các bà các cô đi chợ cười nói rộn rã lẫn trong tiến thúng gánh kẽo kẹt và tiếng lục lạc xe bò leng keng càng vui tai. Thỉnh thoảng vài tiếng pháo chuột nổ lép bép càng làm không khí tết thêm rộn rã. Mùi pháo theo làn gió bấc se se phảng phất trong không trung thơm thơm nồng nồng tạo nên một không khí đặc trưng không thể nào quên được. Trong nhà người ta trang quét dọn, trang trí lại, bày mâm ngũ quả, nhang đèn nghiêm chỉnh…
Nhà tôi cũng như nhà nhiều người thường trang trí bằng cách treo tranh. Vì ở nông thôn, phần lớn nhà có vách bằng "lá chằm" - lá dừa nước kết lại - nên nói chung không được đẹp mắt và không có nhiều màu sắc. Vì thế người ta nghĩ ra cách treo những tấm tranh để trang trí. Đó là loại tranh "tứ thời" - loại tranh có 4 tờ, phổ biến có các tranh kể về gương 24 người con hiếu thảo - mỗi bộ tranh là một truyện, truyện Lưu Bình - Dương Lễ, Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Thạch Sanh - Lý Thông… Đối với lũ trẻ con chúng tôi, những tấm tranh nhiều màu sắc luôn có sự hấp dẫn rất lớn. Tôi thường dán mắt vào những cảnh ông Mẫn Tử Khiên mùa đông mặc áo rách kéo xe cho cha, ông Mạnh Tông đang mùa đông khóc để có măng cho mẹ, bà Tào Thị cầm roi đuổi đánh anh em Nghi Xuân - Tấn Lực, mẹ con Lý Thông chạy trốn về quê nhưng bị trời đánh chết… chỗ nào không biết tôi hỏi ba, hoặc hoi ngoại. Ngoại tôi tuy không biết chữ nhưng chuyện gì tôi hỏi ngoại đều trả lời rành rọt. Có lần đang đêm, tôi cầm chiếc đèn dầu đứng sát vách để xem cho rõ, dù ban ngày đã xem không biết bao nhiêu bận rồi, rủi thay, ngọn lửa bắt sang tấm tranh, cháy liếm vào vách lá. Tôi lính quýnh một lúc nhưng sau đó cũng biết lấy mấy cây củi dập tắt được ngọn lửa. Hôm sau, ba bắt tôi đánh một trận nên thân vì suýt nữa làm cháy nhà, nhưng cũng từ đấy, ông thường kể chuyện trong tranh tỉ mỉ hơn và Tết năm nào, ông cũng mua tranh treo ở nhà, dù những chuyện ấy, ông đã biết từ thuở nhỏ.
Ngày tết, các cửa hàng mậu dịch hàng hóa nhiều hơn. Tôi nhớ mỗi người được mua thêm một gói bột ngọt, một bánh pháo và vài thứ linh tinh khác. Mẹ tôi mua cho anh em chúng tôi mỗi đứa một đôi dép và bộ áo mới, con trai thì bộ pyjama, con gái thì đồ bộ bằng vải so, mặc vài bữa đã thun lên. Sáng mùng một, ba mẹ dắt anh em chúng tôi về chúc tết hai bên nội ngoại. Hai nhà cách nhau ba bốn cây số nhưng đi bộ không thấy mỏi chân, vì vui quá. Tôi nhớ bên nhà nội, ông cố tôi khi ấy đã gần trăm tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh, có điều ông bị lảng tai, mắt rất kém nên không nhận ra được mấy đứa cháu cố. Tôi lên nhà trước thưa ông cố xong và để ông xoa đầu một cái thì xuống ngay vì tôi thấy chiếc áo quan lo hậu sự của ông năm mới được sơn lại đỏ chót thì sợ quá. Về bên ngoại, cậu út làm cho tôi một cây súng bắn pháo, tôi tha hồ ghim pháo chuột vào mà dọa đám trẻ khác. Có năm, vú sữa chín sớm, tôi còn được ngoại đãi những trái vú sữa nhỏ ngọt thanh thao. Tôi thấy nhiều người lớn cũng ăn mặc đẹp đến nhà hàng xóm, bà con chúc tết, xong lại còn lai rai vài li rượu mới sang nhà khác. Mùng hai, mồng ba tết, hôm thì tôi qua nội, hôm qua ngoại, đều một mình, rồi cùng các anh em họ rủ nhau đi hội chợ. Sà vào các quầy lô tô vui ơi là vui, nhưng một lúc sau thế nào tôi cũng thua mất mấy đồng lì xì thường vẫn bỏ trong túi kêu rủng rỉnh như người có nhiều tiền lắm vậy. Chơi chán, tôi ghé vào mấy hàng cà rem đá tẩm màu xanh đó ăn vài cây, vừa nghe tiếng rao tối nay tại rạp huyện có tuồng cải lương gì đó…
Ngày Tết ở quê tôi như vậy, không nhiều lễ lộc, không quá giản tiện, cũng không quá cầu kỳ. Càng lớn, tôi thấy không khí tết ngày càng nhạt đi, không phải chỉ vì đã rồi tuổi ham chơi nữa, mà còn vì thiếu hẳn những tiếng thậm… thình làm bánh phồng, thiếu tiếng kẽo kẹt gánh hàng về ăn tết, thiếu sự chuẩn bị sôi động. Ngày tết giờ đơn giản chỉ là ngày cuối và đầu năm, người ta nghỉ làm việc, ở nhà ăn uống khá hơn, mặc đẹp hơn. Thế thôi. Dù đời sống ở quê tôi giờ đã thay da đổi thịt.
Và vì những ngày tết sau này không còn ngoại, không còn ông cố…
Tôi vẫn nhớ như in những ngày gia đình tôi còn sống ở quê, một huyện nghèo nằm trên cù lao An Hóa, đón Tết như thế nào. Ngày ấy, quê tôi còn nghèo lắm, cái nghèo hằn sâu ở những nếp nhăn chân chim trên trán ngoại tôi cùng bao nhiêu người suốt đời làm nông dân lam lũ, cái nghèo đọng trên lúa mùa một vụ cao kều thường ngã la liệt mỗi khi có mưa gió, cái nghèo còn vương trên những rặng dừa nước hiên ngang đứng giữa dòng nước mặn như là loài cây duy nhất chịu được sự khắc nghiệt của thổ nhưỡng…
Nhưng mỗi khi vào dịp Tết, quê tôi lại rộn ràng hẳn lên. Người ta chuẩn bị đón năm mới bằng một niềm lạc quan phấn khởi chứ hiếm khi lo lắng, buồn rầu. Nhà trồng vài luống vạn thọ vàng rực để bán chưng trong dịp Tết; nhà thì giã khoai mì, nếp làm bánh phồng; nhà thì gói bánh tét; nhà phơi củ kiệu, cải bẹ xanh làm dưa chua; nhà mổ heo "chia" cho hàng xóm dành để kho tàu … Có nhà làm nhiều thức nhưng nhiều nhà khác chỉ làm một thức rồi biếu tặng qua lại để rồi trong ngày Tết nhà nào cũng có nhiều thức khác nhau.
Nhà ngoại tôi thường làm bánh phồng mì (khoai mì nấu chín giã nhuyễn ướp đường, nước cốt dừa…). Độ một tuần trước tết, cậu út tôi mang cái cối ximăng nặng trĩu ngày thường vẫn giã chuối cây cho heo ăn, bị bỏ lăn lốc dưới gốc vú sữa trước sân, ra chùi rửa sạch sẽ. Sau đó, cậu cầm chày, mợ ngồi canh cho mì vào, tiếng chày đều đặn cang lên, hòa vào những tiếng chày khác nghe như một dàn nhạc thậm thình… thậm thình… vui tai. Giã xong, mợ tôi cán mỏng rồi xếp trên những chiếc chiếu bông thường ngày vẫn cất kỹ, sau đó mang ra ruộng bưng - giờ đã khô nẻ - phơi cho đến khô. Ở đấy, người ta cũng phơi bánh nhiều lắm, màu trắng của bánh nổi bật trên nền xanh đỏ của chiếu bông tạo thành một bức tranh đẹp mắt. Mùi thơm theo gió quyến rũ bọn trẻ con, khiến chúng len lén chạy về nhà nhón tay một chút bột đang quết cho vào miệng rồi chạy đi chơi tiếp.
Ngoài đường, tiếng các bà các cô đi chợ cười nói rộn rã lẫn trong tiến thúng gánh kẽo kẹt và tiếng lục lạc xe bò leng keng càng vui tai. Thỉnh thoảng vài tiếng pháo chuột nổ lép bép càng làm không khí tết thêm rộn rã. Mùi pháo theo làn gió bấc se se phảng phất trong không trung thơm thơm nồng nồng tạo nên một không khí đặc trưng không thể nào quên được. Trong nhà người ta trang quét dọn, trang trí lại, bày mâm ngũ quả, nhang đèn nghiêm chỉnh…
Nhà tôi cũng như nhà nhiều người thường trang trí bằng cách treo tranh. Vì ở nông thôn, phần lớn nhà có vách bằng "lá chằm" - lá dừa nước kết lại - nên nói chung không được đẹp mắt và không có nhiều màu sắc. Vì thế người ta nghĩ ra cách treo những tấm tranh để trang trí. Đó là loại tranh "tứ thời" - loại tranh có 4 tờ, phổ biến có các tranh kể về gương 24 người con hiếu thảo - mỗi bộ tranh là một truyện, truyện Lưu Bình - Dương Lễ, Lâm Sanh - Xuân Nương, Phạm Công - Cúc Hoa, Thạch Sanh - Lý Thông… Đối với lũ trẻ con chúng tôi, những tấm tranh nhiều màu sắc luôn có sự hấp dẫn rất lớn. Tôi thường dán mắt vào những cảnh ông Mẫn Tử Khiên mùa đông mặc áo rách kéo xe cho cha, ông Mạnh Tông đang mùa đông khóc để có măng cho mẹ, bà Tào Thị cầm roi đuổi đánh anh em Nghi Xuân - Tấn Lực, mẹ con Lý Thông chạy trốn về quê nhưng bị trời đánh chết… chỗ nào không biết tôi hỏi ba, hoặc hoi ngoại. Ngoại tôi tuy không biết chữ nhưng chuyện gì tôi hỏi ngoại đều trả lời rành rọt. Có lần đang đêm, tôi cầm chiếc đèn dầu đứng sát vách để xem cho rõ, dù ban ngày đã xem không biết bao nhiêu bận rồi, rủi thay, ngọn lửa bắt sang tấm tranh, cháy liếm vào vách lá. Tôi lính quýnh một lúc nhưng sau đó cũng biết lấy mấy cây củi dập tắt được ngọn lửa. Hôm sau, ba bắt tôi đánh một trận nên thân vì suýt nữa làm cháy nhà, nhưng cũng từ đấy, ông thường kể chuyện trong tranh tỉ mỉ hơn và Tết năm nào, ông cũng mua tranh treo ở nhà, dù những chuyện ấy, ông đã biết từ thuở nhỏ.
Ngày tết, các cửa hàng mậu dịch hàng hóa nhiều hơn. Tôi nhớ mỗi người được mua thêm một gói bột ngọt, một bánh pháo và vài thứ linh tinh khác. Mẹ tôi mua cho anh em chúng tôi mỗi đứa một đôi dép và bộ áo mới, con trai thì bộ pyjama, con gái thì đồ bộ bằng vải so, mặc vài bữa đã thun lên. Sáng mùng một, ba mẹ dắt anh em chúng tôi về chúc tết hai bên nội ngoại. Hai nhà cách nhau ba bốn cây số nhưng đi bộ không thấy mỏi chân, vì vui quá. Tôi nhớ bên nhà nội, ông cố tôi khi ấy đã gần trăm tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh, có điều ông bị lảng tai, mắt rất kém nên không nhận ra được mấy đứa cháu cố. Tôi lên nhà trước thưa ông cố xong và để ông xoa đầu một cái thì xuống ngay vì tôi thấy chiếc áo quan lo hậu sự của ông năm mới được sơn lại đỏ chót thì sợ quá. Về bên ngoại, cậu út làm cho tôi một cây súng bắn pháo, tôi tha hồ ghim pháo chuột vào mà dọa đám trẻ khác. Có năm, vú sữa chín sớm, tôi còn được ngoại đãi những trái vú sữa nhỏ ngọt thanh thao. Tôi thấy nhiều người lớn cũng ăn mặc đẹp đến nhà hàng xóm, bà con chúc tết, xong lại còn lai rai vài li rượu mới sang nhà khác. Mùng hai, mồng ba tết, hôm thì tôi qua nội, hôm qua ngoại, đều một mình, rồi cùng các anh em họ rủ nhau đi hội chợ. Sà vào các quầy lô tô vui ơi là vui, nhưng một lúc sau thế nào tôi cũng thua mất mấy đồng lì xì thường vẫn bỏ trong túi kêu rủng rỉnh như người có nhiều tiền lắm vậy. Chơi chán, tôi ghé vào mấy hàng cà rem đá tẩm màu xanh đó ăn vài cây, vừa nghe tiếng rao tối nay tại rạp huyện có tuồng cải lương gì đó…
Ngày Tết ở quê tôi như vậy, không nhiều lễ lộc, không quá giản tiện, cũng không quá cầu kỳ. Càng lớn, tôi thấy không khí tết ngày càng nhạt đi, không phải chỉ vì đã rồi tuổi ham chơi nữa, mà còn vì thiếu hẳn những tiếng thậm… thình làm bánh phồng, thiếu tiếng kẽo kẹt gánh hàng về ăn tết, thiếu sự chuẩn bị sôi động. Ngày tết giờ đơn giản chỉ là ngày cuối và đầu năm, người ta nghỉ làm việc, ở nhà ăn uống khá hơn, mặc đẹp hơn. Thế thôi. Dù đời sống ở quê tôi giờ đã thay da đổi thịt.
Và vì những ngày tết sau này không còn ngoại, không còn ông cố…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét