
DA DIẾT MIỀN LAU SẬY
Người ta nói quả chẳng sai. Cuối năm thường khiến con người hồi tưởng lại những chuyện quá khứ, nhớ cố hương. Tôi cũng vậy. Và không chỉ vậy, mỗi bận nhìn thấy lau sậy trổ bông trắng đồng thì nỗi nhớ quê dâng lên da diết, những ngày cuối năm với gió bấc se se, nỗi nhớ càng đau đáu, khôn nguôi.
Quê tôi ở một vùng sông nước. Nhà tôi nhìn ra một con kinh lớn, một bên lở một bên bồi. Quanh nhà có nhiều bụi lau sậy. Chúng mọc ngay sát mớn nước, tràn dưới lòng kinh. Vì vậy mấy bụi sậy lúc nào cũng run rinh, rì rào, khi thì vì nước chảy xiết, khi thì hứng gió đồng mát rượi… Cứ ra khỏi nhà thì đã thấy lau sậy, thành ra lau sậy như là hình ảnh của nhà vậy. Sau này tha hương, thấy lau sậy là nhớ căn nhà lá nằm dưới những rặng dừa quanh năm trĩu quả, là nhớ về quê cũ, là khi cả một miền ký ức ùa về.
Hồi nhỏ tôi thường được ba tôi kể chuyện Tam quốc diễn nghĩa. Cái giọng ồm ồm của ông ấm áp lạ thường. Truyện Tam quốc thì có biết bao chuyện hay nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ nhớ đoạn nói về Quan Công bị bắt. Thực ra tôi không phải ưa thích lắm nhân vật này, bởi ngay từ nhỏ, nhận thức non nớt của tôi đã thấy dường như tác giả đã cố tô vẻ Quan thành một vị thánh hơn là một người trần mắt thịt. Hồi 77 kể rằng, Quan Vân Trường sau khi không thể cố thủ Mạch Thành vì viện binh không đến, đã phải bỏ thành chạy trốn. Ði đến Quyết Thạch, hai bên đều là núi, cây cối rậm rạp, Quan Công đương chạy, bỗng có tiếng la hét, hai bên binh phục ào ra, lấy câu móc giật mạnh, khiến ngựa vấp chân té xuống, Quan Công ngã theo. Quan Bình thấy cha mình bị bắt, nhào tới cứu, nhưng rốt cuộc cũng bị bắt theo. Trong truyện rõ ràng là nói “cây cối rậm rạp”, vậy mà trong đầu tôi cứ nghĩ là “giữa hai bờ lau sậy rậm rạp”. Dường như lau sậy đã in đậm trong tâm trí tôi, đến độ nó dễ dàng được tán nhuyễn vào những hình ảnh khác, những câu chuyện khác. Có dịp nào anh em đi qua chỗ nào đầy lau sậy, vừa tránh những cọng sậy non nhọn hoắt, tránh những chiếc lá có cạnh sắc răng cưa, tôi lại bảo em tôi: “Chỗ này Quan Công bị bắt đây…”
Vậy đó, lau sậy là một phần của quê nhà, với những gì thân thuộc, trong đó có những chuyện kể của ba tôi đã đi vào tiềm thức, định hình nhân cách, lối sống. Sau này có dịp đi nhiều nơi, có những lần đi vào dịp cuối năm, giữa đất khách quê người, trong không khí rộn rã lúc đón xuân, lòng đã nao nao nhớ về quê cũ. Tình cờ bắt gặp những bờ lau sậy, cũng hoa màu khói – chẳng biết khói sóng hay khói hoàng hôn – nỗi nhớ quê càng da diết.
Bây giờ, sống giữa thị thành, chẳng có mấy dịp để thấy lau sậy nữa. Không ít lần thấy loài hoa dại này được tẩy trắng và bán dạo trên đường phố, tôi bất chợt nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của những bông lau sậy của thời nào. Những bông nhỏ như đầu tăm được gắn bông mềm mại có màu hung, màu bạc kết thành rừng hoa màu mây, màu khói. Loài hoa đó dường như không sắc, hoàn toàn không hương, chỉ mọc dại, chẳng ai trồng, chẳng ai thu hoạch nhưng đối với tôi là một trong những biểu tượng của quê hương. Vì vậy, bất cứ ở đâu, với tôi, lau sậy cũng đã thành miền, một miền ký ức, một miền quê hương.
Nếu Thôi Hiệu trong Hoàng hạc lâu đã viết:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai). (Tản Đà dịch)
Thì Huy Cận thì khác hơn:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Tràng giang)
Khác ở chỗ, dù chẳng có khói (trên tràng giang) vẫn cảm thấy nỗi nhớ nhà dâng lên da diết; và, nếu có khói, biết đâu chẳng phải chỉ là khói sóng? Còn với tôi, màu lau sậy cũng là màu khói! Trong những ngày cuối năm, màu khói ấy càng thêm da diết khôn nguôi!
Người ta nói quả chẳng sai. Cuối năm thường khiến con người hồi tưởng lại những chuyện quá khứ, nhớ cố hương. Tôi cũng vậy. Và không chỉ vậy, mỗi bận nhìn thấy lau sậy trổ bông trắng đồng thì nỗi nhớ quê dâng lên da diết, những ngày cuối năm với gió bấc se se, nỗi nhớ càng đau đáu, khôn nguôi.
Quê tôi ở một vùng sông nước. Nhà tôi nhìn ra một con kinh lớn, một bên lở một bên bồi. Quanh nhà có nhiều bụi lau sậy. Chúng mọc ngay sát mớn nước, tràn dưới lòng kinh. Vì vậy mấy bụi sậy lúc nào cũng run rinh, rì rào, khi thì vì nước chảy xiết, khi thì hứng gió đồng mát rượi… Cứ ra khỏi nhà thì đã thấy lau sậy, thành ra lau sậy như là hình ảnh của nhà vậy. Sau này tha hương, thấy lau sậy là nhớ căn nhà lá nằm dưới những rặng dừa quanh năm trĩu quả, là nhớ về quê cũ, là khi cả một miền ký ức ùa về.
Hồi nhỏ tôi thường được ba tôi kể chuyện Tam quốc diễn nghĩa. Cái giọng ồm ồm của ông ấm áp lạ thường. Truyện Tam quốc thì có biết bao chuyện hay nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ nhớ đoạn nói về Quan Công bị bắt. Thực ra tôi không phải ưa thích lắm nhân vật này, bởi ngay từ nhỏ, nhận thức non nớt của tôi đã thấy dường như tác giả đã cố tô vẻ Quan thành một vị thánh hơn là một người trần mắt thịt. Hồi 77 kể rằng, Quan Vân Trường sau khi không thể cố thủ Mạch Thành vì viện binh không đến, đã phải bỏ thành chạy trốn. Ði đến Quyết Thạch, hai bên đều là núi, cây cối rậm rạp, Quan Công đương chạy, bỗng có tiếng la hét, hai bên binh phục ào ra, lấy câu móc giật mạnh, khiến ngựa vấp chân té xuống, Quan Công ngã theo. Quan Bình thấy cha mình bị bắt, nhào tới cứu, nhưng rốt cuộc cũng bị bắt theo. Trong truyện rõ ràng là nói “cây cối rậm rạp”, vậy mà trong đầu tôi cứ nghĩ là “giữa hai bờ lau sậy rậm rạp”. Dường như lau sậy đã in đậm trong tâm trí tôi, đến độ nó dễ dàng được tán nhuyễn vào những hình ảnh khác, những câu chuyện khác. Có dịp nào anh em đi qua chỗ nào đầy lau sậy, vừa tránh những cọng sậy non nhọn hoắt, tránh những chiếc lá có cạnh sắc răng cưa, tôi lại bảo em tôi: “Chỗ này Quan Công bị bắt đây…”
Vậy đó, lau sậy là một phần của quê nhà, với những gì thân thuộc, trong đó có những chuyện kể của ba tôi đã đi vào tiềm thức, định hình nhân cách, lối sống. Sau này có dịp đi nhiều nơi, có những lần đi vào dịp cuối năm, giữa đất khách quê người, trong không khí rộn rã lúc đón xuân, lòng đã nao nao nhớ về quê cũ. Tình cờ bắt gặp những bờ lau sậy, cũng hoa màu khói – chẳng biết khói sóng hay khói hoàng hôn – nỗi nhớ quê càng da diết.
Bây giờ, sống giữa thị thành, chẳng có mấy dịp để thấy lau sậy nữa. Không ít lần thấy loài hoa dại này được tẩy trắng và bán dạo trên đường phố, tôi bất chợt nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của những bông lau sậy của thời nào. Những bông nhỏ như đầu tăm được gắn bông mềm mại có màu hung, màu bạc kết thành rừng hoa màu mây, màu khói. Loài hoa đó dường như không sắc, hoàn toàn không hương, chỉ mọc dại, chẳng ai trồng, chẳng ai thu hoạch nhưng đối với tôi là một trong những biểu tượng của quê hương. Vì vậy, bất cứ ở đâu, với tôi, lau sậy cũng đã thành miền, một miền ký ức, một miền quê hương.
Nếu Thôi Hiệu trong Hoàng hạc lâu đã viết:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai). (Tản Đà dịch)
Thì Huy Cận thì khác hơn:
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Tràng giang)
Khác ở chỗ, dù chẳng có khói (trên tràng giang) vẫn cảm thấy nỗi nhớ nhà dâng lên da diết; và, nếu có khói, biết đâu chẳng phải chỉ là khói sóng? Còn với tôi, màu lau sậy cũng là màu khói! Trong những ngày cuối năm, màu khói ấy càng thêm da diết khôn nguôi!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét