ĐẦU NẬU MÙA CẤY
Mùa cấy. Mới dợm dợm vô mùa thì đã có người đi từng nhà mời gọi. Họ – cả đàn ông lẫn đàn bà, nhưng đàn bà vẫn nhiều hơn – đến gặp các dì, các cô, các chị và cả các anh để lôi kéo vào đường dây của họ. Đó là đường dây công cấy. Họ là các đầu nậu. Mỗi ấp thường chỉ có một đến hai đầu nậu. Họ làm cầu nối giữa các công cấy và các chủ ruộng, mà ở vùng lúa thì ai cũng là công cấy và ai cũng là chủ ruộng. Đầu nậu thường mang tính “gia truyền”, gia đình kế nghiệp.
Đầu nậu là những người có uy tín trong vùng, có khả năng tập hợp được công cấy, có thể đảm bảo với chủ ruộng đủ số công cần thiết cho kịp con nước… Có thể ban đầu trong vùng có vài người cùng làm nghề này nhưng sau đó thường chỉ còn lại một hai người có uy tín nhất mà thôi. Đầu mùa, họ đi vận động các công vào dây của mình, thường vào khoảng 60 – 80 thợ cấy, có người làm đầu nậu có uy tín lớn ở vùng đông dân thì có thể tập hợp được nhiều thợ hơn. Thợ cấy không phải chỉ là những người làm ít ruộng, đi cấy lấy công (tiền công) mà cả những người nhiều ruộng. Họ đi cấy đổi công để cấy ruộng nhà, thông qua đầu nậu, đây là hình thức chủ yếu. Những “so le” còn lại (đi cấy nhiều công hơn công cấy ruộng nhà hoặc ngược lại) thì tính bằng tiền. Người ta đi cấy cả mùa, có thể kéo dài đến một tháng rưỡi, tùy con nước, tùy mạ, tùy vào vị trí của sở ruộng. Trong khi cấy ruộng nhà thường chỉ một vài ngày. Những ngày khác họ đi cấy trả. Đó là sự đổi chác mang tính tình cảm láng giềng, giúp đỡ lẫn nhau chứ không phải hình thức sản xuất lạc hậu. Làm đầu nậu thì được được hưởng một công trong suốt cả mùa cấy trên mỗi thợ cấy. Công ở đây là đơn vị tính giá trị sức lao động, có thể phiên thành một buổi cấy (thường khoảng 5 giờ – từ sáng sớm đến gần trưa, hoặc từ đầu chiều đến gần tối). Nếu mỗi ngày cấy một buổi thì được một công, gọi là công chiếc; nếu cấy hai buổi (có thể ở một hoặc hai sở ruộng) thì được hai công, gọi là công đôi. Trong cả mùa, dù thợ chỉ cấy được năm bảy công hay một hai tháng công thì đầu nậu cũng chỉ được hưởng một công. Do đó, nếu đầu nậu chỉ có vài ba chục thợ thì chỉ được vài ba chục công, trong khi cũng phải vất vả trong suốt cả mấy tháng; ngược lại, nếu có cả trăm thợ thì thật đáng cho những ngày thức đêm thức hôm đi vận động, đi gọi và suy tính để phân bổ thợ cấy sao cho hợp lý.
Vào mùa, chủ ruộng đến gặp đầu nậu để cho biết số thợ cấy và thời gian để đầu nậu "lên lịch". Nhằm lúc đông ken, theo con nước, đầu nậu phải bố trí những thợ giỏi đi công đôi ở cùng một sở ruộng hoặc những sở ruộng gần nhau, hoặc phải ước xem khả năng của từng thợ của mình mà phân phối đến những sở ruộng gò, trũng khác nhau nhằm phát huy hiệu suất làm việc tối đa của người thợ, hầu mong đáp ứng được yêu cầu của các chủ ruộng. Làm nhiều năm, đầu nậu biết tính của từng chủ ruộng, biết đặc điểm của từng sở ruộng và luôn có sự sắp xếp hợp lý để vừa lòng chủ ruộng mà không làm thợ cấy phàn nàn. Hoặc chị B cấy giỏi ở ruộng trũng và đi được công đôi thì xếp ở ruộng trũng, cấy cả ngày. Rồi nhằm lúc cần cấy nhiều công đôi thì phải bố trí sao cho các thợ đã ít cấy ít công đôi nhất được nghỉ, vừa đảm bảo năng suất, vừa có ý gìn giữ sức khỏe cho thợ, vì cả thợ và chủ ruộng đều không muốn có công đôi. Rồi phải tính sao cho các thợ đều có công, chứ không phải chỉ tập trung vào những thợ giỏi… Nói chung, đầu nậu là một nhà hoạch định, một người chuyên soạn kế hoạch, phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, không chỉ là chủ ruộng mà cả thợ cấy, nếu không mùa sau, họ sẽ tìm đầu nậu khác!
Nói theo ngôn ngữ hiện đại hơn thì đầu nậu là một “đại lý” công cấy. Muốn làm đại lý thì phải có vốn. Vốn ở đây là uy tín, là tinh thần trách nhiệm với người đi cấy và với người ăn công. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng ngày nay, với sự biến đổi nhiều mặt của xã hội, nghề này ngày càng mất dấu, ở nhiều nơi, đầu nậu chỉ còn là “ông X, bà Y” – những người từng mang danh đầu nậu – chứ chẳng ai còn thấy đầu nậu làm gì nữa!
Mùa cấy. Mới dợm dợm vô mùa thì đã có người đi từng nhà mời gọi. Họ – cả đàn ông lẫn đàn bà, nhưng đàn bà vẫn nhiều hơn – đến gặp các dì, các cô, các chị và cả các anh để lôi kéo vào đường dây của họ. Đó là đường dây công cấy. Họ là các đầu nậu. Mỗi ấp thường chỉ có một đến hai đầu nậu. Họ làm cầu nối giữa các công cấy và các chủ ruộng, mà ở vùng lúa thì ai cũng là công cấy và ai cũng là chủ ruộng. Đầu nậu thường mang tính “gia truyền”, gia đình kế nghiệp.
Đầu nậu là những người có uy tín trong vùng, có khả năng tập hợp được công cấy, có thể đảm bảo với chủ ruộng đủ số công cần thiết cho kịp con nước… Có thể ban đầu trong vùng có vài người cùng làm nghề này nhưng sau đó thường chỉ còn lại một hai người có uy tín nhất mà thôi. Đầu mùa, họ đi vận động các công vào dây của mình, thường vào khoảng 60 – 80 thợ cấy, có người làm đầu nậu có uy tín lớn ở vùng đông dân thì có thể tập hợp được nhiều thợ hơn. Thợ cấy không phải chỉ là những người làm ít ruộng, đi cấy lấy công (tiền công) mà cả những người nhiều ruộng. Họ đi cấy đổi công để cấy ruộng nhà, thông qua đầu nậu, đây là hình thức chủ yếu. Những “so le” còn lại (đi cấy nhiều công hơn công cấy ruộng nhà hoặc ngược lại) thì tính bằng tiền. Người ta đi cấy cả mùa, có thể kéo dài đến một tháng rưỡi, tùy con nước, tùy mạ, tùy vào vị trí của sở ruộng. Trong khi cấy ruộng nhà thường chỉ một vài ngày. Những ngày khác họ đi cấy trả. Đó là sự đổi chác mang tính tình cảm láng giềng, giúp đỡ lẫn nhau chứ không phải hình thức sản xuất lạc hậu. Làm đầu nậu thì được được hưởng một công trong suốt cả mùa cấy trên mỗi thợ cấy. Công ở đây là đơn vị tính giá trị sức lao động, có thể phiên thành một buổi cấy (thường khoảng 5 giờ – từ sáng sớm đến gần trưa, hoặc từ đầu chiều đến gần tối). Nếu mỗi ngày cấy một buổi thì được một công, gọi là công chiếc; nếu cấy hai buổi (có thể ở một hoặc hai sở ruộng) thì được hai công, gọi là công đôi. Trong cả mùa, dù thợ chỉ cấy được năm bảy công hay một hai tháng công thì đầu nậu cũng chỉ được hưởng một công. Do đó, nếu đầu nậu chỉ có vài ba chục thợ thì chỉ được vài ba chục công, trong khi cũng phải vất vả trong suốt cả mấy tháng; ngược lại, nếu có cả trăm thợ thì thật đáng cho những ngày thức đêm thức hôm đi vận động, đi gọi và suy tính để phân bổ thợ cấy sao cho hợp lý.
Vào mùa, chủ ruộng đến gặp đầu nậu để cho biết số thợ cấy và thời gian để đầu nậu "lên lịch". Nhằm lúc đông ken, theo con nước, đầu nậu phải bố trí những thợ giỏi đi công đôi ở cùng một sở ruộng hoặc những sở ruộng gần nhau, hoặc phải ước xem khả năng của từng thợ của mình mà phân phối đến những sở ruộng gò, trũng khác nhau nhằm phát huy hiệu suất làm việc tối đa của người thợ, hầu mong đáp ứng được yêu cầu của các chủ ruộng. Làm nhiều năm, đầu nậu biết tính của từng chủ ruộng, biết đặc điểm của từng sở ruộng và luôn có sự sắp xếp hợp lý để vừa lòng chủ ruộng mà không làm thợ cấy phàn nàn. Hoặc chị B cấy giỏi ở ruộng trũng và đi được công đôi thì xếp ở ruộng trũng, cấy cả ngày. Rồi nhằm lúc cần cấy nhiều công đôi thì phải bố trí sao cho các thợ đã ít cấy ít công đôi nhất được nghỉ, vừa đảm bảo năng suất, vừa có ý gìn giữ sức khỏe cho thợ, vì cả thợ và chủ ruộng đều không muốn có công đôi. Rồi phải tính sao cho các thợ đều có công, chứ không phải chỉ tập trung vào những thợ giỏi… Nói chung, đầu nậu là một nhà hoạch định, một người chuyên soạn kế hoạch, phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, không chỉ là chủ ruộng mà cả thợ cấy, nếu không mùa sau, họ sẽ tìm đầu nậu khác!
Nói theo ngôn ngữ hiện đại hơn thì đầu nậu là một “đại lý” công cấy. Muốn làm đại lý thì phải có vốn. Vốn ở đây là uy tín, là tinh thần trách nhiệm với người đi cấy và với người ăn công. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng ngày nay, với sự biến đổi nhiều mặt của xã hội, nghề này ngày càng mất dấu, ở nhiều nơi, đầu nậu chỉ còn là “ông X, bà Y” – những người từng mang danh đầu nậu – chứ chẳng ai còn thấy đầu nậu làm gì nữa!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét