Thứ Tư, 31 tháng 12, 2008

Thời sự và suy nghĩ

LÃNG PHÍ LÒNG TIN

Nói nhiều đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí..., thực tế có bao nhiêu lãng phí thấy được, biết được... Chẳng hạn, lãng phí về con người. Mỗi năm nước ta cho ra trường hàng vạn cử nhân kỹ sư nhưng liệu bao nhiêu người có được việc làm đúng chuyên môn, đúng sở trường để không mai một tài năng, kiến thức? Có bao nhiêu người có năng lực nhưng không nhưng vì những lý do khác nhau bị đặt ở những vị trí “ngồi chơi xơi nước”? Có bao nhiêu người Việt Nam ở nước ngoài có tài năng, có nhiệt huyết muốn đóng góp cho đất nước nhưng lại gặp những rào cản không phải do chính sách mà do chính những người thực hiện chính sách gây ra, mà không thể tham gia góp công góp của cho Tổ quốc?...
Tất cả những lãng phí đều được và có thể quy thành tiền, với một số tiền không nhỏ và tất nhiên là tiền của nhân dân. Sự lãng phí vẫn đang diễn ra hàng ngày hàng giờ. Đã có ai thống kê được thiệt hại từ những lãng phí đó chưa? Đã có ai nghĩ ra được cách hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại đó chưa? Và đã có ai quy được trách nhiệm của những người gây lãng phí và thiệt hại đó chưa?...
Lãng phí đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho xã hội. Nhưng điều nguy hiểm nhất lại là thiệt hại về lòng người, tức tình cảm và sự tin tưởng của người dân vào các cơ quan công quyền. Thiệt hại này không thể định lượng được và cũng rất khó khắc phục ngay trong ngày một ngày hai được. Lãng phí này không thể tính bằng tiền mà nó tỉ lệ nghịch với sự đồng thuận, tin tưởng của người dân vào các chính sách của nhà nước.
Thực tế cho thấy, khi chính quyền các cấp đề ra một chính sách gì thì luôn nhận được sự quan tâm và phản ứng của người dân. Điều đó cho thấy người dân luôn mong mỏi có những chính sách phù hợp – hợp tình, hợp lý, hợp với xu thế phát triển chung – và tiến bộ. Khi đã có chính sách phù hợp thì người dân sẵn sàng thực hiện. Chẳng hạn, năm 1994, Chính phủ ra chỉ thị cấm đốt pháo, thì từ đó đến nay việc đốt pháo chỉ còn diễn ra rất ít của một số người xem thường pháp luật. Chủ trương này dù làm thay đổi tập quán khá lâu đời và mang nét đặc trưng văn hóa nhưng tiến bộ nên được người dân hưởng ứng.
Sự lãng phí lòng tin tưởng của người dân vào các cơ quan công quyền đa phần xuất phát từ sự thiếu ý thức trách nhiệm và nhiệt tâm của một số cán bộ công chức chứ không phải do chủ trương, chính sách. Đó là biểu hiện mà gần đây được diễn đạt bằng từ “vô cảm”, tức người có trách nhiệm không quan tâm đến nỗi nhọc nhằn, bức xúc của người dân mà chỉ quan tâm đến việc tránh né hoặc vòi vĩnh. Cũng từ đây, những cán bộ tham mưu thiếu sâu sát, thiếu trách nhiệm đã tham mưu cho lãnh đạo ban hành những chính sách không phù hợp, vừa gây lãng phí lòng tin, vừa làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước. Nếu để đến mức trầm trọng, ngay cả khi có chính sách đúng đắn, người dân cũng dễ sinh ra từ tưởng ngờ vực mà thiếu ý thức chấp hành, cũng làm giảm hiệu lực tác động của chính sách đó. Cả hai trường hợp này đều nguy hiểm và cần nhanh chóng chấn chỉnh.
Và mặc dù đã xảy ra một số vụ việc tiêu cực, nhưng người dân vẫn tin tưởng rằng Đảng và nhà nước luôn kiên quyết và có những biện pháp hữu hiệu để bài trừ tận gốc tham nhũng, lãng phí. Nếu các biện pháp thực hiện này chưa mang lại hiệu quả thực tế tức là lòng tin của người dân đang bị lãng phí và sự lãng phí này sẽ không thể có một đại lượng nào để định lượng được. Bởi vì lòng tin của người dân là vô giá!

Câu chuyện thể thao

VIỆC BẦU CHỌN CẦN SÒNG PHẲNG HƠN!

Tôi rất tâm đắc khi đọc bài viết Tiếc cho bóng đá nữ của nhà báo Quang Huy (Thanh Niên 31-12-2008). Trong khi gần như mọi người đều say sưa với chiến thắng vang dội của đội tuyển bóng đá nam tại giải bóng đã vô địch Đông Nam Á thì việc bóng đá nam có đến 3 cầu thủ lọt vào danh sách 10 VĐV tiêu biểu của năm 2008 cũng là điều xứng đáng và hoàn toàn dễ hiểu.
Tuy nhiên, dường như cuộc bình chọn có cái gì đó chưa thật sòng phẳng. Dường như vẫn còn sự “quên nhớ” hay cảm tính khi bỏ phiếu. Điều dễ thấy nhất là khi cuộc bầu chọn diễn ra ngay trong thời điểm đội tuyển bóng đá nam thi đấu rất thành công nên được sự chú ý đặc biệt của các nhà báo. Trong khi đó, thành công của đội bóng đá nữ diễn ra trong nhiều tháng trước (dù thành tích cũng không hề kém cạnh, trong đó có chiến thắng nghẹt thở trước đại kình địch Thái Lan) nên có lẽ không còn được nhớ. Năm ngoái, trong khi lúc đầu năm và giữa năm, bóng đá nam dù rất thành công ở vòng loại Olympic và Asian Cup nhưng thất bại tại SEA Games 24 thì không còn cầu thủ nam nào được vinh danh trong cuộc bầu chọn cuối năm. Vì vậy, có thể nói, cuộc bầu chọn năm 2007 không đánh giá đúng sự đóng góp và chưa sòng phẳng cho bóng đá nam thì năm 2008 lại chưa sòng phẳng cho bóng đá nữ. Điều đó có thể là sự chưa trọn vẹn của cuộc bầu chọn uy tín nhất của thể thao nước nhà.
Vì lẽ đó, để tránh sự “quên nhớ” và giảm sự bầu chọn theo cảm tính, cung cách tổ chức cần chặt chẽ hơn nữa. Số lượng VĐV được đề cử nên nhiều hơn, thành tích trích ngang nên chi tiết hơn và toàn diện hơn. Tiêu chí bầu chọn cũng nên cụ thể hơn; trong đó, tính đóng góp của thành tích nên được xem trọng (mang tính đột phá hoặc tạo tiền đề để thúc đẩy sự phát triển của môn thể thao đó trong nước…)…
Đối với người bỏ phiếu bình chọn – là các phóng viên thể thao – cần có cái nhìn toàn diện hơn, xuyên suốt hơn toàn bộ một năm thi đấu, cả hoạt động và thành tích của VĐV, cả tư cách, đạo đức và sự nỗ lực của VĐV đó. Cần tránh tập trung “nhìn” vào những giải đấu cuối năm mà “quên” những giải đấu đầu năm, cũng như hạn chế việc quá đề cao những môn có nhiều sự chú ý mà ít tính thúc đẩy sự phát triển của môn thể thao đó trong nước…Tóm lại, cuộc bầu chọn – tuy không thể nói là không khách quan, thiếu công bằng – nhưng cần sòng phẳng hơn. Nhất là khi xuất hiện những hạn chế, bất cập trong thể lệ và cách thức bầu chọn (chẳng hạn không thể bầu chọn cho HLV người nước ngoài…) thì cần sớm nghiên cứu để điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2008

Thời sự và suy nghĩ

CHỈ SỐ HẠNH PHÚC

1. Tháng trước, cô em họ tôi từ Đài Loan về than thở: tưởng lấy chồng nước ngoài thì sống khá hơn, không ngờ bây giờ là lao động chính trong nhà, nuôi hai con trai với “thằng chồng” bị mất việc cả năm rồi. Cô bảo: “Bên đó giờ thất nghiệp nhiều lắm! Ai còn việc làm là may lắm rồi”. Chuyện của cô làm thằng em ở nhà hết sức thất vọng, vì anh chàng này đang hi vọng bà chị về cho vài chục triệu để cất nhà và cười vợ…
Tuần rồi, anh bạn học thời phổ thông của tôi từ Úc về Việt Nam cưới vợ. Du học tự túc rồi nhập tịch xứ chuột túi, anh định mua nhà xong sẽ lấy vợ nhưng chờ mãi không mua nổi nhà trong khi anh là con trai đầu, ba mẹ cứ hối anh lập gia đình để có cháu đích tôi... Năm ngoái, nói chuyện qua điện thoại, anh bảo một căn hộ “ở được” tại bang Victoria vào khoảng 3,5 – 4 tỉ đồng Việt Nam. Năm nay, tuy giá nhà có xuống thấp nhưng thu nhập của anh cũng xuống theo… Bây giờ, lấy vợ xong, đành sang bên đó ở trọ tiếp!
Trên báo chí, những vụ phá sản, vỡ nợ ở các nước phát triển xảy ra thường xuyên, kéo theo nhiều người bị mất việc, bị mất nhà cửa. Thế mới biết, trong thời buổi khó khăn này, người dân ở nước nào cũng có thể bị lôi vào vòng xoáy suy thoái kinh tế.
2. Theo thông tin của Liên đoàn Lao động thành phố, do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh nhân sự, trong năm 2008, tính đến giữa tháng 12, có khoảng 10.000 người mất việc làm. Con số này chắc không dừng lại ở đó và đằng sau nó là hàng chục ngàn người khác đang bị ảnh hưởng.
Trong những ngày cuối năm này, chuẩn bị Tết Nguyên đán, hoạt động kinh doanh có phần sôi động hơn ngày thường. Hàng hóa được bày bán nhiều hơn, giá cả cũng không quá đắt đỏ, nhất là khi chủ trương kiềm chế chỉ số tăng giá tiêu dùng của Chính phủ từ giữa năm bây giờ đã phát huy tác dụng rõ rệt. Tuy nhiên, trong khi thu nhập của đại bộ phận người dân không tăng thì tâm lý “phòng thủ” khiến nhiều người ít dám tiêu dùng. Vì vậy, hàng hóa bán nhiều nhưng mãi lực thấp, kể cả những chỗ bán hàng “xôn” hay “sale off” cũng khá ế ẩm. Nhiều người tranh thủ còn đi mua vàng để phòng thân, khiến giá vàng tăng mạnh…
3. Nhưng những ngày cuối năm, người Việt Nam trở nên phấn khởi cao độ bởi thành tích tuyệt vời của đội tuyển bóng đá. Nhiều người dù không quan tâm đến thể thao nhưng cũng cảm thấy hạnh phúc và tự hào với chức vô địch khu vực. Bỗng dưng, sự lo âu, căng thẳng với tình hình kinh tế khó khăn chung giảm đi nhiều. Nhiều người vẫn ví von rằng rồi ngày mai mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, cũng như đội tuyển bóng đá đã đi từ thất vọng não nề đến thành công rực rỡ. Phải biết kiên nhẫn chờ đợi nhưng cũng không được thôi cố gắng.
Sau trận chung kết lượt về, một bình luận viên trên truyền hình trong lúc cao hứng đã nói: có lẽ bây giờ người Việt Nam đang là những người hạnh phúc nhất thế giới… Có thể lắm chứ, nhất là khi mà các thăm dò về chỉ số hạnh phúc đều cho thấy dân ta luôn chiếm ở những hạng đầu…
4. Tôi không tin rằng vì lâu nay người Việt Nam chúng ta phải thường xuyên “đối phó” với nạn kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm môi trường… nên khi có bất kỳ niềm vui nào cũng “cường điệu” nó. Nói vậy chẳng khác nào đã xem nhẹ tinh thần vươn lên và khả năng chịu đựng của người Việt, chẳng khác nào đánh đồng sự “đồng cam cộng khổ” giữa cộng đồng dân cư với nhau, giữa người dân với nhà nước bằng phép thắng lợi tinh thần kiểu A.Q. Sự thật, người Việt chúng ta đã trải qua nhiều đau thương, mất mát, gian khó nên thêm một khó khăn nữa thì cũng không phải là bi kịch và cũng vì vậy mà càng chắt chiu, càng quý trọng những khoảng khắc ngọt ngào, những vận hội mới. Chính vì đã từng gian khó nên cảm giác hạnh phúc rất dễ đến và cũng rất mạnh mẽ, nó không “cầu kỳ” phải đạt được nhiều thứ. Dù vậy, hạnh phúc đã đến thì thường ở lại rất lâu…Trong bối cảnh đó, việc phát huy khả năng vượt khó vươn lên trong mỗi người dân của hệ thống chính trị là rất cần thiết và quan trọng. Khi đó, sẽ dễ dàng tạo ra một sức mạnh tổng hợp, như đã từng xảy ra trong thời kỳ kháng chiến. Những chủ trương như hỗ trợ người nghèo, kích cầu… nếu thực hiện đúng nơi, đúng cách trở nên có ý nghĩa sâu sắc, như là một hấp lực thúc đẩy mọi người chung vai sát cánh để cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách. Do đó, nếu thực hiện những chủ trương này một cách thật tốt thì cũng là một biện pháp “thu phục nhân tâm” đầy ý nghĩa.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

Câu chuyện văn hóa

TẢN MẠN VỀ “ĂN TẾT”

1. Dân gian lâu nay vẫn có từ “ăn tết” để chỉ sự thụ hưởng những ngày cuối năm cũ và đầu năm mới sau một năm lao động vất vả. “Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà”, đó là một sự “tiên đoán” của tay thầy bói “ra ma”; tức là, dù ai giàu nghèo gì ngày tết cũng có nồi thịt heo kho Tàu, thịt ướp muối sả treo trên giàn bếp, hay thịt gà thịt vịt làm sẵn để đãi khách.
Không chỉ vậy, ngày tết ngoài “thịt mỡ” còn có “dưa hành”. Trong Nam thường ăn bánh tét với dưa giá, củ kiệu muối chua; ngoài Bắc lại chuộng bánh giò bánh chưng với vài thứ rau cải muối mặn. Ngoài ra, còn có nhiều thứ bánh như bánh ít, bánh phồng, bánh tráng, bánh in, bánh đậu xanh…; các loại mứt như mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt hạt sen, mứt gừng… Dĩ nhiên, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương… luôn là món “khai vị”, vừa vui miệng, vừa mang dấu ấn đặc biệt của ngày tết.
Rồi còn trái cây nữa. Dưa hấu thì khỏi nói. Bởi nhà nào cũng có một cặp dưa tròn xanh đen, bóng vỏ để chưng trên bàn thờ. Nhà khá giả thì cặp dưa to, nghèo thì nhỏ hơn nhưng không nhà nào không có. Trong Nam vào dịp tết thường không có nhiều trái cây nhưng cũng vẫn có xoài, quýt, vú sữa, đu đủ… Dĩ nhiên, dừa tươi thì nhà nào cũng có sẵn, không chỉ để “cầu vừa đủ xài” mà còn để giải khát trong những ngày tết thường bị rượu “hâm nóng”.
Trong ký ức tuổi thơ nhiều người chắc chưa quên những tiếng “thậm… thình” giã nếp, giã khoai mì để làm bánh phồng, những chiếc chiếu phủ những chiếc bánh tròn phơi trước giậu râm bụt… Ta nhớ lại một thời ta “ăn tết” với niềm háo hức, say sưa, dù rằng cái “ăn” của ngày nào cũng còn đơn giản, dân dã hơn bây giờ rất nhiều.
2. Không chỉ có ăn, người ta còn chơi tết. Thời gian nghỉ dài nhất trong năm này thường trùng với đợt giãn ra giữa hai mùa vụ nên đồng áng khá thư thả. “Tháng giêng là tháng ăn chơi” mà! Thanh nhã thì có viết liễn với những câu đối đỏ bằng chữ Nho. Bây giờ còn có thêm viết thư pháp chữ Việt. Những câu răn dạy, nhắc nhở mọi người sống có nghĩa có tình, thủy chung, hiếu đễ thường được mọi người treo trang trọng ở gian giữa trong nhà. Nghệ thuật thư pháp thường chú ý mấy chữ “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”… để cầu năm mới mọi điều tốt lành đều tấn tới. Các kiểu hoa kiểng cũng mang “thế” của những chữ này hoặc ít ra cũng mang ý nghĩa tương tự. Sung, mai… được tạo thành những dáng đẹp, chăm chút để nở hoa đúng ngày tết nhưng vẫn tạo được dáng thanh thoát, ý nhị…
Bình dân thì có trò đốt pháo, nhất là với trẻ con. Đốt pháo theo quan niệm truyền thống là để xua đuổi ma quỷ đang ẩn nấp quanh chúng ta, chực chờ tàn hại con người sau khi nhiều vị thần tốt phù trợ dân gian phải về chầu Ngọc Hoàng. Tuy nhiên, càng về sau, khi nhiều người lạm dụng pháo thì nó trở nên nguy hiểm, vừa không an toàn cho chính người đốt và những người xung quanh, còn gây cháy nổ và cũng rất lãng phí. Vì vậy, gần đây, việc nhà nước đã cấm đốt pháo là điều cần thiết, trong điều kiện dân cư ngày càng đông, hình thức giải trí ngày càng phong phú.
“Máu me” hơn là có đá gà, lắc bầu cua, đánh bài… Các sòng gà thường thu hút nhiều người, vừa xem, vừa cá độ. Ở góc độ văn hóa, đá gà là một thú chơi dân gian độc đáo, tuy nhiên khi bị người ta lợi dụng để trở thành một môn cờ bạc sát phạt lẫn nhau. Nhiều người vì “vui vẻ” với các món cờ bạc trong mấy ngày tết mà trở nên tán gia bại sản, thiết nghĩ “vui chơi như thế bằng mười thiên tai”, vì thiên tai tuy mất nhưng còn được xóm giềng chia sẻ, bà con giúp đỡ còn thua cờ bạc thì chỉ có thêm sự dè bĩu, cười chê của mọi người!
Ở nông thôn, tết thường có các hội chợ, vừa trưng bày sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ vừa có các trò chơi dân gian. Lô tô, thả bọ, ném cổ vịt, thảy vòng… đều là những môn chơi hấp dẫn, hồi hộp, vui nhộn. Tuy nhiên, càng về sau các trò chơi này ngày càng biến tướng thành những thủ thuật lừa lọc mang tính cờ bạc, ít còn tính giải trí thuần túy như xưa.
3. Bây giờ, người ta vẫn còn dùng từ “ăn tết”. Tết thì phải có ăn, dĩ nhiên ăn nhiều hơn và ngon hơn ngày thường. Tuy nhiên cái ăn bây giờ cũng đã khác nhiều. Không còn cảnh các mẹ các dì lục đục chuẩn bị làm bánh, làm mứt như trước; cũng không còn cảnh các chú các anh vật heo, giết bò chia nhau trong xóm để dành ăn tết như ngày nào… Tất cả đều có thể ra chợ mua. Ngay trong mồng một tết vẫn có người buôn bán chứ không nghỉ đến chiều mồng ba tết như ngày nào. Công nghiệp hóa, chuyên môn hóa ít nhiều làm mất đi tính truyền thống của văn hóa nông nghiệp nhưng lại tiện lợi, kinh tế hơn nhiều.
Người ta vẫn còn “chơi tết”. Nhưng nhiều cái chơi bây giờ được tổ chức quy củ, đảm bảo tính văn hóa, tính thẩm mỹ. Những thú chơi tao nhã như viết câu đối, viết thư pháp, văn nghệ, chưng tỉa hoa kiểng… vẫn được giữ lại; các trò chơi mang tính cờ bạc thì bị nghiêm cấm. Cái chơi bây giờ được chuyển thành đi thăm thú bà con xa, đi du lịch, vì cả năm bận rộn không có thì giờ đi lại. Điều này khác nhiều so với trước đây, ngày tết vốn thường chỉ ở nhà tiếp khách và đi thăm viếng họ hàng gần mà thôi.
4. Tết Kỷ Sửu này trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Trong cái vui còn có nhiều cái lo. Vì vậy, chắc không ai bảo ai mà đều tự thực hiện tiết kiệm, vẫn ăn tết, vẫn chơi tết, vẫn vui tết nhưng sao cho giản tiện, để không phải “thâm hụt ngân sách”.
Không chỉ vậy, khó khăn chung đã làm nhiều gia đình nghèo hơn. Trong bối cảnh này mà ăn uống thừa mứa, tiêu xài hoang phí là có tội với người nghèo. Từng gia đình, từng người có thể nhín lại chút ít trong khoản tiêu pha cho ngày tết để góp nhau giúp đỡ những hoàn cảnh cơ nhỡ, neo đơn, hoạn nạn. Chủ trương “để mọi người đều được ăn tết” mang đầy tính nhân văn nhưng cần sự quan tâm, chia sẻ nhiều hơn của tất cả chúng ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, một miếng dành cho người nghèo của ngày thường đôi khi không quý bằng một miếng của ngày tết. Bởi vì, trong lúc mọi người đang hân hoan vui vẻ, những người khốn khó càng thấy chạnh lòng hơn; nếu nhận được sự chia sẻ của mọi người thì niềm vui của người tặng được nhân lên mà sự chạnh lòng của người nhận cũng giảm xuống.
Hẳn mỗi người đều tự tìm cho mình cách tận hưởng một cách tết vui tươi, ý nghĩa, không chỉ cho bản thân mình mà còn cho nhiều người khác!

Bài thơ thứ 16

XÚC CẢM MÙA XUÂN

Heo may
Gọi chúa xuân về
Chòm hoa dại
Nở bên hè rực hơn.
Líu lo
Chim rộn xa gần
Tươi thêm sắc áo
Trắng hồng chợ xuân.
Một nụ cười
Cũng bâng khuâng
Một ánh mắt
Cũng để lòng ai nao.
Nắng hoe
Vườn rộng xôn xao
Gió vờn khóm trúc
Rì rào chòm mai.
Gà đâu
Cuối xóm gáy dài
Đón năm mới
Chào tương lai rực hồng.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

Câu chuyện thể thao

Chung kết lượt đi Thái Lan – Việt Nam: 1-2:
ÔNG TÔ LÀM THẦY LANG!

Không còn gì bàn cãi, thành công của ĐT Việt Nam tại AFF Cup lần này phần lớn là từ HLV Calisto. Nói như vậy không có nghĩa là xem nhẹ sự trưởng thành và nỗ lực của các tuyển thủ nhưng vai trò “đầu tàu”, “bộ óc chiến thuật” của “thầy Tô” là rất lớn. Không chỉ thế, tôi cho rằng ông Tô còn là một thầy lang giỏi. Ông đã “bắt mạch”, tìm đúng bệnh và kê những toa thuốc hiệu nghiệm khiến đội tuyển và từng tuyển thủ gần như “lột xác” hoàn toàn.
Đối với tập thể đội tuyển, ông đã xây dựng một lối chơi thiên về kỹ thuật – chuyền ngắn, ít chạm, có nhiều “miếng đánh” – vừa trung lộ, vừa tấn công biên. Lối chơi này phù hợp với thể hình, thể lực và tố chất khéo léo của cầu thủ Việt Nam. Ở một tập thể không có một ngôi sao thực sự, không có một thủ lĩnh đúng nghĩa, ông Tô đã tạo sự gắn kết cần thiết để phát huy cao độ tính đồng đội, tính tập thể. Ở đó, mỗi người là một mắt xích trong một chuỗi, không có mắt xích nào quan trọng hơn mắt xích nào và nếu thiếu hoặc yếu ở một vị trí nào đó thì chuỗi sẽ bị hỏng. Điều đặc biệt, ông đã thổi vào đội tuyển tinh thần màu cờ sắc áo, niềm từ hào quốc gia, mà chính các trợ lý người Việt cũng chưa làm được tốt. Việc tặng mỗi cầu thủ một lá cờ nhỏ giấu trong giày là một sự khơi gợi tinh thần dân tộc tuyệt vời. Hay việc động viên để các tuyển thủ “thắng không kiêu, bại không nản”, đồng sức đồng lòng không để những chuyện “ngoài đời” (khen chê của truyền thông, sự khiêu khích của đối phương, kể cả tiền thưởng…) cũng là những “liều thuốc” chữa bệnh về tinh thần hết sức hiệu quả. Rõ ràng, trong trận thắng Thái Lan 2-1, người ta không còn thấy một tuyển Việt Nam e dè, run sợ trước người Thái nữa mà chỉ có sự sòng phẳng, quyết tâm cao độ.
Đối với từng cá nhân tuyển thủ, chắc hơn ai hết những Công Vinh, Quang Hải, Hồng Sơn… hiểu mình đã được thầy Tô “chữa bệnh” như thế nào. Tiền đạo số 9 nhiều trận không ghi bàn và chơi khá vật vờ nhưng vẫn được thầy Tô tin dùng để rồi tỏa sáng đúng lúc trong 2 trận cầu quan trọng gặp Singapore và Thái Lan. Quang Hải thì đùng đùng xin về một cách “chưa xứng là đàn ông” nhưng rồi trở thành người hùng bởi sự vỗ về, an ủi một cách chân tình của thầy Tô. Hồng Sơn nhiều khả năng trở thành thủ môn xuất sắc nhất giải cũng đã từng mắc những sai lầm đáng trách trong trận thua Thái Lan 0-2, thắng Malaysia 3-2 ở vòng bảng nhưng rồi liên tiếp trở thành lá chắn thép trước khung thành ĐT… Nếu thầy Tô cực đoan, thiếu kiên nhẫn và nhất là không có biện pháp chữa bệnh tâm lý kịp thời thì e rằng những “công thần” này đã phải ngồi ngoài rồi.
Nhiều người đã nhắc đến việc cần có một bác sĩ hay một chuyên gia tâm lý cho ĐT. Điều đó rất cần thiết. Thế nhưng trong lúc chưa tìm ra một vị trí như thế mà HLV Calisto đã “kiêm nhiệm” một cách xuất sắc thì quả không hổ danh ông là “phù thủy”. Có điều, sự kiêm nhiệm đó phải được VFF quan tâm hỗ trợ nhiều hơn, được sự đồng hành tích cực của các CLB hơn, được sự ủng hộ, hợp tác từ các tuyển thủ chặt chẽ hơn thì mới có hiệu quả dài lâu, mới tạo thành nền móng để phát triển nền bóng đá nước nhà!

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2008

Tạp bút

ĐẮNG HOÀI RAU ĐẮNG QUÊ NHÀ

Quê tôi có những vùng mọc rất nhiều rau đắng, nhất là ở các “rộc”. Về chữ “rộc”, một cuốn tự điển đã giải thích như sau: “Đất trũng ven các cánh đồng, hoặc giữa hai sườn đồi núi”. Đó là những ruộng cát, mùa nắng cũng có nước xâm xấp, còn mùa mưa thì nước ngập đầy, nhưng mùa nào nước cũng được cát lọc trong veo. Các rộc này được bao quanh cũng bằng những bờ cát mà người ta gọi là “giồng cui”, do có nhiều cây cui mọc hoang. “Giồng” được giải thích là “dải đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông”. Theo các cụ cao niên, rộc và giồng là kết quả của những đợt sóng biển lớn, cát bị hất từng đụn to vào đất liền, nhẹ nhàng như người ta vốc từng nắm cát mà ném vậy. Năm này qua tháng nọ, giồng và rộc cứ được xếp nối nhau, hết giồng rồi tới rộc. Từ đó có thể suy đoán rằng, nơi này ngày xưa rất gần biển, hiện nay, hoặc là biển đã lùi xa đất liền hoặc đất nơi đây đã được nâng cao trong quá trình vận động của vỏ quả đất. Nói vậy để biết rằng đây là nơi đất không màu mỡ. Có lẽ trong quá trình này, tạo hóa đã trộn lẫn vài hạt giống rau đắng hoặc một ít thân rau đang tua rễ trắng để làm bạn với những thứ cỏ dại như cỏ phụng, cỏ nước mặn, năn, lác… Đến giờ, nếu không hiểu bừa theo cách đó, tôi vẫn không hiểu vì sao ở những ruộng do phù sa bồi đắp, rau đắng lại không thèm mọc mà chọn những rộc cát ít dinh dưỡng là chỗ trú ngụ cho mình.
Trước mỗi vụ lúa hàng năm, sau những cơn mưa đầu mùa như trút nước và kèm theo sấm sét rền rĩ, dạo tháng tư tháng năm âm lịch, lúc mà các gốc rạ đã mục rũ cả, những rộc cát lại được phủ bằng những mảng rau đắng xanh mướt, nom có vẻ làm dịu cả cái nắng chói chang của mùa hè. Rau mọc dày nhưng cũng cho xen các loài cỏ dại lẫn, như thể chúng là bạn bè với nhau cả. Nhưng rau đắng không bao giờ bị lẫn hay bị chìm trong đám cỏ dại tầm thường ấy. Nó nổi bật lên bằng cái màu sắc của sự sống, của niềm tin, của hy vọng và đôi khi bằng những chiếc hoa trắng li ti mỏng mảnh, tinh khiết dễ thương lạ!
Lâu lâu, từng nhóm nhỏ các cô gái trẻ từ các xóm ríu rít cùng nhau đi hái rau đắng. Men theo những bờ cát mịn, phần đông vốn là dân ruộng nên ai cũng đi thoăn thoắt, nhưng cũng có cô lội bì bõm một cách rụt rè theo sau. Bàn chân con gái của những người đi sau này dù ngâm trong nước đã bị cát làm đục vẫn để lộ làm da hồng hồng. Các bàn chân ấy đã làm bật những sợi rễ trắng tinh của rau đắng mọc ven bờ cát. Họ vừa đi vừa nói, cả những chuyện con gái hay mắc cỡ, rồi cười vang, làm rung rinh những ngọn rau non tơ mơn mởn. Họ chọn những chỗ rau mọc dày nhất và cùng ngồi bệt xuống, túm lấy từng nắm ngọn rau mà dùng dao nhỏ xén ngang. Những cọng rau non vừa mập mạp vừa mềm mại lần lượt được cho cái bịch đệm (cói) – vốn rất phổ biến ở quê tôi dạo ấy – được buộc quai bằng dây lạt dừa mang theo sẵn bên người. Rồi cái màu xanh non dịu dàng ấy tương phản cũng theo một cách ngọt ngào sẽ còn lưu lại trong ký ức của các cô và của bao nhiêu người khác nữa.
Các cô là những người nhân lúc nông nhàn – ở quê tôi với chỉ một vụ lúa hàng năm thì khoảng nông nhàn dài lắm – mà tìm ít việc để làm thêm, kiếm mớ rau cho bữa cơm chiều, hoặc tìm vài đồng lẻ phụ vào tiền chi tiêu của gia đình, hoặc sắm vài thứ lặt vặt cho con gái. Có thể là một đôi guốc mộc, một chiếc vòng đeo tay, vài cái ống quấn để làm quăn tóc, một đôi hoa tai bằng nhựa, hoặc để dành lâu hơn mà mua hẳn một bộ quần áo mới… Đi hái rau, họ có nhiều niềm vui, vừa thành một nhóm tha hồ trò chuyện, vừa có thêm ít tiền tiêu vặt. Nhưng vui nhất không phải là mấy cô con nhà khá giả ít khi lội ruộng, mà vẫn là những người quen với công việc đồng án – họ xem những cọng rau là sự tiếp nối những thành quả lao động của mình, và họ sẽ rất buồn nếu không được làm việc gì! Và, có người còn vui hơn khi nghĩ đến món tiền bán rau đắng sẽ mua được một món trang sức nho nhỏ gì đó, để làm duyên trong buổi có đoàn dân công tỉnh về hát hoặc ít ra cũng gây được sự chú ý trong hôm cúng đình…
Nếu hái để ăn, thì chỉ một loáng là có đủ rồi. Nhưng có người muốn hái thêm một chút để mang về biếu hàng xóm, người ta hay biếu qua lại ít bánh trái, mớ rau, hay con cua con cá… Bạn đừng nghĩ đó là một sự đổi chác theo kiểu của nền kinh tế giản đơn thời sơ sử. Họ trao đổi ân tình đấy chứ! Họ đang cùng nhau thắt sợi dây xóm giềng thêm bền chặt bằng những thứ như rau đắng đó. Có người hái nhiều để ra chợ bán. Họ không chỉ bán phần rau của họ mà cả của những người bạn – họ gửi nhau một nửa hay cả bịch rau cho bạn mình bán, rồi hôm sau lại đến phiên họ làm người đi chợ. Họ giúp nhau như thế và hầu như không có tị hiềm hay nghi ngờ gì. Cũng có người “hái dùm” cho người khác để bữa sau có thể nhờ họ “trả công” lại.
Có lẽ vì thế mà rau đắng có được vị ngọt, đó là sự ngọt ngào của tình làng nghĩa xóm.
Rau đắng mang về rửa sạch. Những cọng rau xanh mởn đủ bắt mắt những ai đang… đói bụng. Người ta luộc rau đắng trong nước cơm mẻ, chờ nước sôi, đổ ào cả rổ rau vào, trộn sơ rồi nhắc xuống. Những cọng rau rũ xuống rất nhanh và ngả sang màu vàng nhạt, không biết vì nóng hay vì vị chua của cơm mẻ, nhưng sẽ có vị đặc biệt: vừa đắng đậm cũng vừa chua thanh. Bữa cơm với đắng luộc cơm mẻ chấm nước cá kho bao giờ cũng ngon, chẳng kém gì ăn với rau cải hay rau lụa bán ở chợ. Rau đắng có thể nấu canh chua lá me với cá chình hoặc với cá bống kèo, và sẽ còn ngon hơn với món nấu chua rau đắng với cá rô đồng như trong lời vọng cổ của bài “Còn thương rau đắng mọc sau hè”. Nhân nhắc đến bài hát này, người Tây Nam Bộ chúng tôi sẽ mãi nhớ ơn nhạc sĩ Bắc Sơn, người đã âm nhạc hóa và thi vị hóa về một món ăn dân dã, mà nếu không e rằng đến ngày nào đó người ta sẽ quên nó mất. Vì hiện nay, không phải rau đắng đang mất đi mà chính là tình cảm với nó đang cạn dần. Người ta ăn rau đắng như là một thói quen (ăn lẩu chua phải có rau đắng chẳng hạn), mà cũng là ăn một thứ rau xanh (đại loại) cho có chất xơ. Người ta đã quên rằng rau đắng là thứ mọc ở những nơi mà các loại rau khác khó sống được như ở các rộc vừa kể, ở ven bờ sông (nơi thường bị cỏ dại lấn chiếm và bị sóng vỗ mất gốc), ở “sau hè” như trong bài hát… Người ta đã quên rằng rau tuy đắng nhưng có vị ngọt (là thức ăn mát, giải nhiệt), và ngọt hơn là hương vị của quê hương, xứ sở. Và tệ hơn, ngày nay rau đắng được trồng theo kiểu “công nghiệp”, tẩm đầy hóa chất, tuy vẫn xanh tươi nhưng có cảm giác thiêu thiếu sự tự nhiên và nhất là không còn đắng như rau đắng ngày xưa nữa.
Buồn hơn, rau đắng khó còn tìm thấy vị ngọt của tình người xưa cũ nữa. Chúng ta đang tìm lại thời ấy hay đang đánh mất nó? Tôi nghĩ là cả hai. Cũng như rau đắng, nó đang đấu tranh cho sự sinh tồn của mình, thì chúng ta cũng đang đấu tranh để bảo vệ những gì thuộc về truyền thống, nguồn cội.
Nhưng có một điều đặc biệt. Cùng với rau nhút, rau dừa, rau cù nèo, bông súng, bông điên điển, bông so đũa, rau chóc, rau mã tiền, rau năn…, rau đắng ngày nay trở thành… hàng hiếm, là một món ăn thuộc loại… đặc sản ở thành phố, thường xuất hiện trong các món ăn hơi cách điệu, ở những quán xá sang trọng. Đó là một sự bù đắp cho loài rau dại này chăng? Tôi không cho là như vậy, mà nghĩ rằng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì người ta lại có xu hướng “hoài cổ”, ao ước được sống lại phần nào cuộc sống của những ngày xưa cũ. Nhưng dù vậy, chúng ta ngày càng xa rời cái ngày xưa đó hơn (cũng như rau đắng ngày càng… ít đắng hơn vậy!), bản thân ít còn có dịp để gần gũi, tìm hiểu về “một thời để nhớ” đó nữa.
Dù vậy, những ai đã từng có sống gắn bó với rau đắng thì sẽ còn nhớ hoài loài rau này, cũng như thương mãi quê nhà hương yêu dấu của mình.
Bài đã đăng báo Thanh niên ngày 6.10.2002

Câu chuyện thể thao

ĐIỂM YẾU KỶ LUẬT

Cuối cùng thì tuyển Việt Nam cũng vào bán kết của AFF Suzuki Cup – có vẻ là đội kém nhất trong 4 đội đấu ở vòng này! Có nhiều điều để bàn, để mổ xẻ từ kết quả này. Nhưng hình như điều ít được nói đến là tính kỷ luật của đội tuyển – của các tuyển thủ - trong quá trình tham gia giải.
Đã có những thông tin về các vụ va chạm, cãi vả giữa các tuyển thủ. Điều đó cho thấy tính đoàn kết, thống nhất của đội tuyển chưa thật cao. Đội vẫn cần một thủ lĩnh thực sự, cả trong và ngoài sân, để làm đầu tàu tập luyện, thi đấu và cả trong sinh hoạt. Dù HLV Calisto được cho là rất tâm lý nhưng dường như ông vẫn quá bận rộn và cũng khó có điều kiện để tham gia “trị liệu tinh thần” cho các tuyển thủ. Vì vậy, vai trò của các trợ lý người Việt và nhất là đội trưởng, đội phó cần thể hiện rõ hơn nữa, để hóa giải, dàn xếp các mâu thuẫn (nếu có) và nhất tạo ra sự nhất trí cao để đội tuyển trở thành một tập thể mạnh.
Một điểm yếu nữa, nghiêm trọng hơn, là tính kỷ luật trong việc tuân thủ ý đồ chiến thuật của ban huấn luyện. Gần như trong các trận gặp Thái Lan, Malaysia và cả trong hiệp 1 trận gặp Lào, đấu pháp không được các cầu thủ thực hiện một cách triệt để. Có lúc, mạnh ai nấy đá, dẫn đến sự gắn kết giữa các tuyến quá lỏng lẻo, dĩ nhiên là không phát huy được sức mạnh tập thể. Thất bại trong trận gặp Thái Lan, kể ra có nhiều nguyên nhân, kể cả tâm lý “khớp” trước người Thái, thì việc chấp hành đấu pháp nên coi là điểm then chốt. Nhất là trận gặp Malaysia, nhìn toàn cục, chính sự tỏa sáng của các cá nhân (cộng với sự may mắn) mới giúp chúng ta giành được chiến thắng. Các miếng tấn công thường khá đơn điệu, sự phối hợp không thể hiện rõ nét, vai trò của từng vị trí không phát huy đúng mức nên không những tạo ra ưu thế trước người Mã mà còn nhiều lúc bị động, bị vây hãm.
Ngoài ra, việc phạm lỗi liên tục cũng là một biểu hiện kém tính kỷ luật của các tuyển thủ. Những hình huống nhận thẻ vàng của Thành Lương, Việt Thắng (trận gặp Thái Lan), Quang Cường (trong trận gặp Lào)… đều rất đáng tiếc, hoàn toàn có thể tránh được nếu các cầu thủ bình tâm hơn, chuyên nghiệp hơn. Biểu hiện rõ nhất là trong trận gặp Lào, tuyển Việt Nam giành thắng lợi đậm đà 4-0 thì cũng áp đảo về số lần phạm lỗi. Rất nhiều tình huống không nhất thiết phải phạm lỗi nhưng dường như các tuyển thủ quá nặng nề về tâm lý nên thiếu biện pháp xử lý an toàn hơn. Chính điều đó cũng cho thấy các tuyển thủ chưa được hướng dẫn đầy đủ cách chơi fair-play.
Kỷ luật là sức mạnh. Tiếc rằng các tuyển thủ chúng ta chưa triệt để tuân thủ kỷ luật nên chưa phát huy đầy đủ sức mạnh cũng là điều dễ hiểu. Trước vòng bán kết, nhất thiết phải khắc phục được điểm yếu này, nếu muốn đạt thành tích tốt ở giải đấu năm nay. Và, vấn đề kỷ luật cũng đặt ra trách nhiệm ở các câu lạc bộ, để giúp cầu thủ chuyên nghiệp hơn, chơi hiệu quả và chơi đẹp hơn.
Bài đã đăng báo Tuổi trẻ, ngày 12-12-2008

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008

Câu chuyện thể thao

TÔI QUÁ XÚC ĐỘNG…

Thú thật, tôi không phải là người hâm mộ cuồng nhiệt của Công Vinh. Tôi không phủ nhận tài năng đá bóng của Công Vinh (dù nếu so sánh, Vinh còn kém xa Văn Quyến về độ tinh quái cũng như không thể bì được với Huỳnh Đức về độ cần cù) nhưng tôi không có cảm tình lắm với cách anh thi đấu. Người ta đã nhắc đến cụm từ “bệnh ngôi sao” khi chỉ về cầu thủ xứ Nghệ này. Tôi không chắc lắm, nhưng giá như anh chịu “cày ải” nhiều hơn – chạy nhiều hơn, tranh bóng tích cực hơn, chịu “xách xe không” nhiều hơn… - thì chắc Vinh sẽ chiếm được cảm tình của nhiều người nữa!
Dù thế nào Vinh vẫn là tiền đạo số một Việt Nam hiện nay. Nhưng sự xưng tụng này chẳng có ý nghĩa gì đáng kể nếu như Vinh không ghi được bàn thắng nào và không giúp tuyển Việt Nam giành kết quả tốt tại AFF Cup.
Nhưng ngay trước khi lên đường, Vinh đã kịp “ghi” một “bàn thắng” rất đẹp, có thể nói là một trong những “bàn thắng” đẹp nhất trong đời cầu thủ của anh, là nhận một cậu bé bị bệnh ung thư làm em nuôi. Cái nghĩa cử đó làm tôi quá xúc động đến rưng rưng nước mắt. Cái nghĩa cử nhân ái đó hẳn xuất phát từ cuộc giao lưu của đội tuyển với các trẻ em mắc bệnh trước ngày lên đường sang Thái Lan, nhưng tôi tin rằng nó còn xuất phát từ trái tim nhân ái của một cầu thủ. Đừng ai nói với tôi rằng đó là một “nghĩa cử tượng trưng”, bởi nó không chỉ dập tắt một cách thô bạo niềm xúc động mãnh liệt trong tôi mà còn giết chết một tâm hồn ngây thơ trong một cơ thể bệnh tật nữa. Chắc chắn không đâu, tình yêu bóng đá của Công Vinh, không thể tách rời tình nhân ái, bởi xét cho cùng, bóng đá cũng góp phần làm đẹp hơn cho cuộc sống, để phục vụ tốt hơn cho con người.
Tôi không muốn thấy “nhân” sự kiện này để các cầu thủ khác có hành động tương tự với mục đích đánh bóng hình ảnh. Tôi chỉ mong các cầu thủ khi rời khỏi quả bóng hãy nghĩ nhiều hơn đến những người đang dõi theo họ, trong đó có những hoàn cảnh bất hạnh, những số phận hẩm hiu. Và hãy dang tay với họ, không giúp được nhiều về vật chất thì ít ra cũng trao cho họ niềm tin yêu cuộc sống, nghị lực và sự quyết tâm vượt lên số phận của mình. Bóng đá, khi đó không còn là một trò chơi nữa, mà là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhân văn.
Sau pha “ghi bàn” ở nhà, tôi mong sao Công Vinh sẽ đều đặn “nhả đạn” tại đấu trường AFF Cup. Hẳn anh giờ đây có thêm trách nhiệm, không chỉ với Tổ quốc quá lớn lao, với hàng triệu cổ động viên quá đông đảo mà còn có sự cầu mong, hi vọng của em Hồng Quân, người em nuôi mới nhận.
Có lẽ phải cảm ơn người đã nghĩ ra “liệu pháp tâm lý” tuyệt vời này cho các tuyển thủ. Chính ý tưởng đó đã làm cho hình ảnh các tuyển thủ đẹp đẽ hơn bội phần, làm cho bóng đá trở nên gần gũi và nhân văn nhiều lần…

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2008

Thời sự và suy nghĩ

NGẬP LỤT TẠI TP.HCM:
TRÁCH NHIỆM CỦA CỘNG ĐỒNG Ở ĐÂU?

Hàng năm, cứ vào dịp triều cường trong những tháng cuối năm, một số quận huyện ở TP.HCM (nhất là khu vực vùng ven) lại xảy ra tình trạng ngập lụt. Năm nay, mức độ ngập lụt còn nghiêm trọng hơn các năm trước. Tình hình này không thể không đặt ra trách nhiệm của cộng đồng, để từ đó có biện pháp phòng ngừa, hạn chế và ngăn chặn ngập lụt tiếp tục xảy ra trong các năm tới.
Việc ngập lụt dù diễn ra trong thời gian không dài nhưng cũng gây nhiều thiệt hại cho xã hội. Đó là gây trở ngại việc đi lại, sinh hoạt của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của một bộ phận cư dân vùng bị ngập, làm hư hỏng hệ thống đường sá, đê bao, nhà cửa, gây tổn thất về tài sản của người dân (hư hỏng đồ đạc, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi…). Đó là tạo ra hình ảnh không đẹp về một thành phố văn minh, hiện đại, một trung tâm kinh tế - văn hóa cùa cả nước nhưng hàng năm bà con phải chống chọi với ngập lụt chẳng khác vì vùng đồng bằng. Nhưng thiệt hại lớn nhất có lẽ là sự giảm sút lòng tin của người dân vào khả năng quản lý, bảo vệ tài sản và tính mạng nhân dân đối với sự quản lý của chính quyền các cấp.
Trong thực tế, triều cường là hiện tượng tự nhiên khi nước ở đầu nguồn các sông lớn về nhiều, gây ngập úng cục bộ. Tuy nhiên, triều cường có quy luật của nó và con người hoàn toàn có cách “khắc chế” hoặc “sống chung” với nó. Việc để xảy ra tình trạng ngập lụt một cách thụ động với nhiều thiệt hại trước hết là do yếu kém về quản lý của một số cơ quan quản lý nhà nước. Chẳng hạn, công tác dự báo đã thực hiện hết trách nhiệm chưa? Công tác kiểm tra, sửa chữa, gia cố các đê bao đã được thực hiện nghiêm túc, chính xác? Việc khơi thông các cống thoát nước, kênh thoát nước… đã được thực hiện thường xuyên? Việc tuyên truyền nâng cao ý thức phòng chống ngập lụt và hạn chế thiệt hại do ngập lụt gây ra đã được tiến hành đến nơi đến chốn? Việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm (nhất là các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính về phòng chống ngập lụt ở thành phố, quận huyện) được thực hiện nghiêm túc?... Tất cả những điều này dường như lâu nay chưa được quan tâm thực hiện một cách đúng mức.
Ngay cả người dân, ý thức tự bảo vệ tính mạng, tài sản của chính họ trong việc cũng không triệt để. Điều này thể hiện rõ trong việc lấn chiếm hàng lang bảo vệ đê bao, gây ảnh hưởng đến khả năng chịu lũ của các đê bao; tình trạng xây cất ảnh hưởng đến dòng chảy và khả năng thoát nước; tình trạng xả rác bừa bãi làm nghẹt các cống thoát nước dẫn đến giảm hiệu năng hoạt động của hệ thống thoát nước… Bên cạnh đó, việc theo dõi tình hình dự báo và thực hiện các biện pháp phòng tránh ngập lụt cũng chưa được thực hiện đầy đủ…
Chính vì vậy, nếu những hạn chế trong công tác phòng chống ngập lụt của năm nay không được khắc triệt để thì tình hình sẽ càng trầm trọng hơn trong các năm tới. Cần xác định đầy đủ trách nhiệm của từng thành viên, từng tổ chức trong cộng đồng để cùng nhau thực hiện việc phòng chống ngập lụt có hiệu quả.

Thời sự và suy nghĩ


NẾU BẠN LÀ CÔ GIÁO MẦM NON...

Trên trang VnExpress (hồi tháng 11-2007), tôi khá ngạc nhiên khi có hơn một nửa số người tham gia trả lời câu hỏi “Bạn nghĩ gì về hành động dọa trẻ mầm non?” đã cho rằng “không chấp nhận được”. Có khoảng dưới 20% số người cho rằng đó là “bình thường” và trên 20% thì cho rằng “không nên” (tức là không tán đồng một cách khá dùng hòa). Bản thân tôi cũng nghĩ rằng vấn đề này thực là không nên, chúng ta chỉ nên phản ứng mạnh trừ khi sự đe dọa đó (bằng lời nói hoặc hành vi) quá nghiêm trọng.
Trong thực tế, có lẽ hầu hết các bậc cha mẹ đều “dọa” con cái của mình khi chúng không vâng lời và xem đó là một cách giáo dục khá bình thường. Chẳng hạn, “nếu con không chịu ăn, mẹ cho bạn X ăn hết nhé!”, hoặc, “nếu con không ăn nhanh, mẹ không cho con…. (làm điều gì đó mà trẻ thích)”, hay, “con mà còn hư như vậy, mẹ bỏ con luôn”… Đó là những cách dọa, vì thường chúng ta không thực hiện điều đó, chẳng qua muốn trẻ sợ mà vâng lời thôi. Tôi tin rằng nhiều giáo viên mầm non cũng thực hiện theo cách dọa tương tự, như dọa sẽ “méc ba mẹ”, “không cưng nữa”, “không cho ăn”, “đánh đòn”… Xét về tâm lý, khi một đứa trẻ (3 – 5 tuổi) chưa có đầy đủ nhận thức về những điều nên – không nên, phải – không phải, đúng – sai thì việc làm cho chúng thấy trước một “nguy cơ” nào đó liên quan đến quyền lợi, tình thương, sự quan tâm… đối với chúng sẽ có những tác động nhất định đến hành vi của chúng. Tôi cho rằng không nên lạm dùng việc dọa dẫm trong cách giáo dục trẻ. Vì điều đó diễn ra thường xuyên khiến trẻ cảm thấy “nguy cơ” về điều không tốt xảy đến với mình một cách thường trực, làm chúng hoang mang, lo lắng. Hơn nữa, khi vượt qua “ngưỡng” chịu đựng, sự dọa dẫm sẽ không còn tác dụng nữa (“muốn ra sao thì ra” hoặc “đó là dọa, thực tế không xảy ra đâu”…).
Trở lại sự việc của các cô giáo mầm non, tôi nghĩ rằng không nên quá khắt khe, nặng nề với các cô. Bản thân tôi, nhiều lúc trông cô con gái còn rất vất vả, bởi sự nghịch ngợm của nó, hết buông cái này lại bắt cái kia, hết phá bên này lại nghịch bên kia… Những lúc như vậy, thật khó mà kiềm chế để không lớn tiếng, thậm còn phát vài cái vào đít để nó vâng lời. Tôi không bào chữa cho cách giáo dục chưa thực sự khoa học của mình, nhưng nói vậy để thông cảm cho các cô. Về tình cảm, dĩ nhiên là chúng ta thương con mình hơn các cô thương học trò; về trách nhiệm, các cô chỉ có trách nhiệm với trẻ trong thời gian học, còn chúng ta có trách nhiệm thường xuyên với con cái của mình; về thời gian, các cô bị thời khóa biểu gò bó, giờ nào việc ấy, khác với chúng ta thoải mái hơn nhiều; về số trẻ, rõ ràng mỗi cô phải chăm cả chục cháu, trong khi mỗi cha mẹ chỉ chăm một vài cháu; về sự ràng buộc pháp lý, nếu các cô để trẻ bị xây sát hoặc bị thương thì rõ ràng là “có chuyện” (với phụ huynh, với nhà trường, đôi khi với pháp luật), trong nếu có sơ sẩy, chúng ta đau lòng hơn là phải gánh trách nhiệm pháp lý… Ngoài ra, sự tăng giảm cân hay biến động sức khỏe bất thường cũng có liên quan đến vai trò của cô giáo.
Nếu đặt mình vào vị trí của cô giáo mầm non, chúng ta quả là có rất nhiều áp lực. Tôi cho rằng, ngoài chuyên môn, nếu không có tình thương trẻ, tình yêu nghề, hay sự thiếu trách nhiệm, thì có lẽ các cô rất khó hoàn thành nhiệm vụ của mình. Điều đó cho thấy, nghề giáo viên mầm non phải chịu đòi hỏi nhiều hơn nhiều nghề nghiệp khác, trong khi lương bổng không phải nơi nào cũng khá.
Vì vậy, các bậc phụ huynh chúng ta nên có sự hợp tác chặt chẽ với nhà trường và các giáo viên, thay vì chỉ xem họ là người được chúng ta trả tiền để trông trẻ rồi không cần quan đến những điều khác. Không thể phủ nhận được sự tác động của cô giáo mầm non đối với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Vì thông thường, trẻ ở cô giáo khoảng 10 tiếng mỗi ngày, trong khi 14 tiếng còn lại, đã có đến 8 – 10 tiếng để trẻ ngủ, thời gian còn lại 4 – 6 tiếng không phải lúc nào chúng ta cũng ở bên trẻ. Chúng ta cũng cần có sự thân mật cần thiết với các cô, không chỉ đơn giản qua quà tặng, mà còn có sự thăm hỏi, động viên, thậm chí các sự giúp đỡ cần thiết.
Thiết nghĩ, chúng ta luôn muốn các cô giáo đối xử với con em chúng ta có tâm, với một tấm lòng “cô giáo như mẹ hiền” thì các cô cũng cần được một sự tôn trọng xứng đáng!

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2008

Thời sự và suy nghĩ

CHUYỆN NĂM “NHÀ” VÀ NHÀ NÔNG

Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải từng chỉ đạo các “nhà” phải hợp tác lại với nhau. Đó là “nhà khoa học”, “nhà nước”, “nhà doanh nghiệp” và “nhà nông”; sau thêm một “nhà” nữa là “nhà băng”. Xem ra, nếu năm nhà này mà hợp tác chặt chẽ thì cả năm nhà đều được lợi, người dân đều được sung sướng và tất nhiên nước nhà cũng thêm phát triển.
Có lẽ nhà nông chưa bao giờ nhận được sự hợp tác đầy đủ và bình bẳng với bốn nhà còn lại. Rõ nhất là nhà nước. Nhà nước ở đây có thể hiểu là chính quyền ở địa phương (cấp xã, huyện chẳng hạn), hoặc cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý nông nghiệp của vùng (phòng nông nghiệp/phòng kinh tế, trung tâm khuyến nông…). Nhà nước nhiều khi nói hoạch định này khác nhưng hình như mang tầm rất vĩ mô chứ ít khi đi vào cụ thể. Nông dân X. có miếng đất ở vị trí A. muốn trồng cây N. thì ông ta phải tự nghĩ, rồi tự đi mua giống, tự trồng, tự bán chứ hiếm khi nhận được ý kiến gì của nhà nước rằng với thổ nhưỡng đó thì nên trồng loại cây gì, mua giống ở đâu, kỹ thuật ra sao, bán cho ai và nếu thiếu vốn thì làm sao… Nếu có thì cũng chỉ những khuyến cáo chung chung. Nhà nước có chức năng quản lý và điều phối các hoạt động của xã hội nhưng lại gần như không tham gia đáng kể vào việc sản xuất của người dân (như trong ví dụ ở trên) thì quả là đã chưa làm tròn chức trách của mình. Vì vậy, nhà nước phải đứng ra làm cầu nối giữa nhà nông với các nhà khác, vì có tiếng nói của nhà nước thì hiệu lực và hiệu quả mới cao. Trong quá trình đó, thế nào cũng phát sinh những yêu cầu như cái cần văn bản pháp lý, cái cần uy tín, cái cần chính sách… thì chỉ có nhà nước mới giải quyết được.
Vì vậy, định kỳ hàng năm, nhà nước (tức chính quyền hoặc cơ quan quản lý về nông nghiệp) tổ chức họp mặt giữa các “nhà” lại. Trong cuộc họp đó, nhà nước sẽ trình bày về các chủ trương, định hướng cơ bản về phát triển nông nghiệp để tránh đầu tư tràn lan, không hiệu quả, ảnh hưởng lợi ích địa phương về lâu dài…; nhà khoa học sẽ nêu tình hình thời tiết, thổ nhưỡng, các loại giống cây trồng vật nuôi và đưa ra lời khuyên nông dân nên trồng loại cây gì, nuôi con gì trong điều kiện đất và thời tiết như thế; nhà doanh nghiệp sẽ cho biết thị trường đang cần loại nông sản nào, giá cả và hiệu quả ra sao; nhà băng sẽ đưa ra những lời hứa giúp vốn cho đối tượng nào, với loại hình đầu tư gì… Trên cơ sở đó, nhà nước sẽ cụ thể hóa chủ trương bằng những chính sách như nếu trồng loại cây M. đúng như nhà khoa học đề nghị thì sẽ tác động bên ngân hàng cho vay vốn lãi suất ưu đãi, cấp giấy phép cho các cơ sở cung cấp cây giống, vật tư nông nghiệp, cơ sở thu mua… Và với những điều đó có lẽ nhà nông sẽ hết sức hoan nghênh vì có cơ hội thoát cơ bản tình trạng đầu tư tự phát, không biết có trúng mùa thất giá hay không; đương nhiên là hiệu quả sẽ tăng lên.
Đó mới là cách giúp nông dân thiết thực nhất!

Thời sự và suy nghĩ

Có những hôm không còn đường đi!
(Nhân đọc bài “Mưa như Hà Nội, TP.HCM ngập nặng hơn”, Tuổi Trẻ ngày 6-11)
Cách đây khoảng mười năm, khi tôi còn sống tại P.13, Q.Bình Thạnh (TP.HCM), vào đợt triều cường gần như không còn đường nào để vào trung tâm TP. Đường Nơ Trang Long bị ngập sâu từ ngã ba Nguyễn Xí kéo dài đến cầu Băng Ky; đường Nguyễn Xí ngập đến cầu Đỏ, qua khỏi cầu Đỏ lại ngập tiếp đến ngã năm đài liệt sĩ; đi vòng qua cầu Bình Lợi thì bị ngập trên đường Đinh Bộ Lĩnh…
Xe máy chết máy đã đành, ôtô con cũng không thể đi. Tình trạng này đến nay cũng chưa được cải thiện triệt để.
Hiện nay tôi sống tại P.Tam Phú, Q.Thủ Đức. Trong đợt triều cường, muốn đi vào trung tâm TP khó khăn vô cùng. Các tuyến đường quanh P.Tam Phú như Tô Ngọc Vân (tỉnh lộ 43), Tam Bình… đều ngập. Nhưng thoát ra khỏi đây để đến được đường Kha Vạn Cân thì cũng không còn đường đi vì đường này có nhiều chỗ ngập, sâu nhất là ở hai đầu của cầu Gò Dưa. Mọi người chỉ còn cách len lỏi trong các đường nhỏ rồi ra Võ Văn Ngân, vòng ra xa lộ Hà Nội mới có thể chạy đến cầu Sài Gòn, để rồi… chịu ngập ở đường Điện Biên Phủ!
Chiều tối 1-8-2008 (tôi nhớ chính xác vì hôm đó diễn ra trận đấu giữa đội tuyển VN và Olympic Brazil), tôi đi từ Q.3 về Thủ Đức. Hôm đó trời mưa rất to. Vì sợ đường ngập nên tôi cố tình về muộn, khi trời đã ngớt mưa. Nhưng ở đường Đinh Tiên Hoàng, dòng người ngoi ngóp dắt xe dưới dòng nước ngập đến nửa mét đi giữa những dãy “lô cốt” xiêu vẹo. Mọi người vừa đi vừa nhắc nhau coi chừng rơi xuống hố!
Qua khỏi đường này, tôi chạy vào đường Nơ Trang Long nhưng đến cầu Băng Ky thì bị kẹt xe vì phía trước cũng bị ngập. Vất vả lắm tôi mới quay xe lại được, chạy qua đường Bạch Đằng thì chịu một chỗ ngập khác dài đến tận ngã tư Hàng Xanh. Rẽ ra Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng phải vượt qua nhiều chỗ ngập nhẹ khác mới về đến cầu Bình Triệu… Hôm đó đường Điện Biên Phủ, đường đi hằng ngày của tôi, cũng trở thành dòng sông!
Sống chung với ngập đã trở thành chuyện thường ngày ở TP này. Hiện chắc không ai không chịu cảnh ngập, đến độ gần như không muốn than vãn nữa! Nhưng ngập đến độ muốn đi đến một nơi nào đó mà không còn đường để đi thì thật quá bức xúc! Do vậy, chống ngập úng phải xem là vấn đề cấp bách của thành phố hiện nay. Là một trong 12 công trình, chương trình trọng điểm được nêu ra từ Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ VII (2001), nhưng đến nay công tác chống ngập không có tiến triển tích cực. Đã đến lúc lãnh đạo thành phố cần đẩy mạnh công tác chống ngập với những biện pháp quyết liệt và căn cơ. Nếu không, nguy cơ thành phố “chỉ còn một điểm ngập” sẽ không còn xa nữa!
Bài đã đăng Báo Tuổi trẻ, ngày 9-11-2008.

Thời sự và suy nghĩ

Công tác quy hoạch, quản lý ở các đô thị phải mang tính định hướng, tính chiến lược cao

Với đặc thù của các đô thị là khu vực đông dân cư, mật độ dân số dày, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung đều cao hơn mức bình quân của cả nước, việc quy hoạch và quản lý các đô thị cũng phải phù hợp với đặc thù đó. Không thể đem mô hình quản lý khu vực nông thôn và cách nghĩ của một người ở nông thôn để quản lý đô thị được.
Thứ nhất, công tác quản lý đô thị phải mang tính định hướng và lấy xây dựng chiến lược làm trọng tâm, thay vì chỉ tập trung giải quyết vào các sự vụ hoặc các công việc trước mắt. Chẳng hạn, ngành giao thông công chính không phải chỉ lo xử lý các điểm ngập nước, các điểm kẹt xe mà phải vạch ra chiến lược và lộ trình trong một khoảng thời gian tới mang tính khả thi và hiệu quả để chống ngập cho toàn đô thị, chống kẹt xe trong nội thị… Ngành tài nguyên môi trường không phải chỉ xử lý số rác trên địa bàn mà phải vạch ra chiến lược xử lý rác, tái chế rác, sử dụng rác trong 5 – 10 năm tới. Ngành giáo dục không phải chỉ lo việc dạy và học của con em trên địa bàn mà phải xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng dạy và học sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị nói riêng và có sự phát triển cao hơn mức bình quân chung của cả nước… Tóm lại, các cơ quan tham mưu của đô thị phải thường xuyên phác họa khả năng phát triển của đô thị trong 15 – 20 năm tới để có những định hướng phát triển và chuẩn bị cho sự phát triển đó một cách phù hợp, tránh những tầm nhìn ngắn hạn, đưa ra những quyết sách thiếu tính dự báo dài lâu.
Thứ hai, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực ở đô thị phải gắn với những tầm nhìn chiến lược trong công tác phát triển đô thị cho 15 – 20 năm nữa, thay vì chỉ quan tâm vào những công việc hiện tại hoặc tầm nhìn không mang tính chiến lược. Trên cơ sở những định hướng phát triển trong 15 – 20 năm tới, các cơ quan, các ngành cần phải đưa ra chiến lược phát triển và chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển đó trong phạm vi ngành mình. Trong công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan đào tạo, sử dụng, sao cho nguồn nhân lực được đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn cụ thể.
Nhìn lại các đô thị lớn như Sài Gòn (TP.HCM hiện nay), Hà Nội, người Pháp đã quy hoạch mang tầm dự báo rất cao. Vì thế, các thành phố này đã “thoải mái” phát triển cao gấp nhiều lần so với khởi điểm. Thế nhưng hơn 30 năm qua, việc quy hoạch còn loay hoay với các phương án trong khi thành phố thì liên tục “nở nồi”, hậu quả là xảy ra quá nhiều sự bức xúc về giao thông, cấp thoát nước, hệ thống điện – viễn thông… Chính vì vậy, các đô thị đã “lỡ” vướng vào quy hoạch cũ và mới thì nên mạnh dạn làm mới, chấp nhận tốn kém và mất thời gian, còn hơn là tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” rồi cứ dây dưa, lần lữa mãi, không dứt ra được. Hậu quả của tình trạng đó sẽ còn kéo dài nhiều năm nữa, thiệt hại sẽ khó lường!

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2008

Thời sự và suy nghĩ

GIÁ XĂNG DẦU GIẢM CÒN QUÁ ÍT!

Giá xăng lại giảm thêm 500đ/l. Như vậy là đã có “bốn bước lùi ngắn vẫn không so được với một bước tiến dài”! Quyết định giảm giá được đưa ra trong bối cảnh giá dầu thế giới đã có lúc xuống dưới 70 USD mỗi thùng. Chốt phiên giao dịch 16-10 tại New York, giá dầu giao tháng 11 xuống 69,85 USD mỗi thùng, thấp nhất kể từ 23-8-2007. Giá xăng A92 đóng cửa ngày 16-10 tại thị trường Singapore ở mức 73,3 USD mỗi thùng, về đến Việt Nam vào khoảng 76 USD. Với giá này, sau khi tính thuế và tất cả các khoản phí khác, xăng sẽ là 12.000đ/l, tức là doanh nghiệp vẫn lãi 4.000đ/l, tương đương 25%, một mức lãi đáng mơ ước! Với đông đảo người dân, việc mua xăng dù đã có nhiều doanh nghiệp nhưng không hề có cạnh tranh, vẫn phải chấp nhận gần như tình trạng độc quyền (mua mà không được quyền “trả giá”, không được kiểm tra chất lượng, không biết chính xác số lượng…). Dù vậy, đã giảm vẫn là tốt rồi!
Trên thực tế, giá cả tăng cao trong thời gian qua có một phần là do giá xăng dầu (tác động đến việc sản xuất, vận chuyển, nguyên liệu đầu vào…). Giá xăng dầu tăng từ 14.500đ/l lên 19.000đ/l cách đây 3 tháng, tức 31%, thì nhiều mặt hàng khác cũng tăng xấp xỉ mức đó, dù xăng dầu chỉ là một phần trong giá thành. Thành ra người dân đã không chỉ phải bỏ thêm 31% cho việc đi lại mà còn gần như nhiều khoản khác nữa. Thế nhưng, qua 3 lần giảm giá xăng dầu trước đây, hầu hết giá cả của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác gần như “bình chân như vại”, không thèm giảm! Đó là điều bất hợp lý, thể hiện sự bất chấp quy luật thị trường của nhiều doanh nghiệp và nhất là sự thiếu chặt chẽ, quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bình ổn giá cả. Như vậy, giá xăng dầu giảm, được người dân hoan nghênh nhưng thực ra chưa giảm đáng kể được gánh nặng chi tiêu trong từng gia đình. Tức là chỉ vui về tâm lý thôi!
Trong tình hình hiện nay, đặc biệt là với sự giảm giá của xăng dầu thế giới (hiện chỉ còn hơn 50% giá so với lúc doanh nghiệp tăng giá từ 14.500 lên 19.000đ/l), các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu cần tính toán để tiếp tục giảm giá bán. Chính sách giá theo thị trường xăng dầu thế giới của Chính phủ phải được thực hiện cả ở 2 chiều, chiều tăng và chiều giảm, chứ không thể lúc tăng thì vội vã, tăng cao, lúc giảm thì chậm chạp lại giảm ít. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết, bình ổn giá cả thị trường, tức là phải có tăng có giảm ở mức tương xứng với điều kiện thị trường và điều kiện đầu vào (giá thành). Có như vậy, đời sống người dân mới giảm bớt khó khăn do giả cả sinh hoạt tăng cao như hiện nay.
Ngoài ra, biện pháp điều tiết thu nhập bằng các biện pháp đánh thuế với người có thu nhập cao và hỗ trợ người có thu nhập thấp cần được thực hiện quyết liệt hơn nữa. Chẳng hạn, cần nghiên cứu tăng thuế đối với các mặt hàng xa xỉ nhưng giảm thuế và có biện pháp trợ cấp đối với các mặt hàng phục vụ sản xuất… Về lâu dài, đây cũng là cách hạn chế sự giãn cách giàu nghèo trong xã hội.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2008

Câu chuyện thể thao

HÃY THOẢI MÁI ĐI!

Tuyển Việt Nam đã có trận hòa hòa đầu tiên dưới thời Calisto, trong một trận đấu không có bàn thắng nhưng có hàng loạt cơ hội bị bỏ lỡ. Có thể người hâm mộ chưa hài lòng. Riêng tôi cho rằng, chúng ta nên thoải mái đi!
Áp lực thành tích dường như đã trở thành rào cản cho sự phát triển của bóng đá Việt Nam, bởi các HLV thì chỉ tính những bước đi ngắn, theo kiểu “ăn xổi ở thì”, các tuyển thủ thì phải căng sức ra đá, lãnh đạo VFF thì vất vả ngược xuôi để “dàn xếp” mỗi khi đội tuyển thất trận, còn người hâm mộ thì thất vọng, phản đối khi đội nhà chơi không thành công… Bóng được chơi (và được chỉ đạo, cổ vũ) bằng những cái đầu nặng trĩu thì không thể hay, đẹp được! Vậy sao ta không thoải mái và bằng lòng đi với cái mình đó, rồi vạch ra những chiến lược để có kết quả tốt hơn trong thời gian tới, thay vì cứ vướng vào cái vòng luẩn quẩn thành tích trước mắt?
Xét về thực lực, tôi không cho là đội tuyển Việt Nam bây giờ mạnh hơn đội thời Calisto lần đầu nắm tuyển cách đây 6 năm. Hồi đó, trong đội hình có một thủ lĩnh là Lê Huỳnh Đức, có những nhân tố có thể gây đột biến thực sự là Minh Phương, Xuân Thành, Văn Quyến…, khi đó đều là những người mới lên tuyển. Ngoài ra, sau vụ Letard, đội tuyển gặp nhiều bất ổn, nhưng tinh thần thi đấu của các tuyển thủ nhìn chung là thoải mái, vì không có áp lực thành tích.
Còn hiện nay, sau sự trở lại xuất sắc của Hồng Sơn, nhưng chốt chặn cuối cùng của đội tuyển cũng còn là ẩn số, vì những Santos hay Quang Huy đều chưa thể an tâm. Tuyến hậu vệ thì còn nhiều lắp ghép và có vẻ là điểm yếu nhất của tuyển Việt Nam hiện nay và là hàng hậu vệ kém nhất của tuyển trong nhiều năm qua. Tuyến tiền vệ thì chơi thiếu kết dính và ít sáng tạo, không hỗ trợ nhiều cho hàng công lẫn hàng thủ. Hàng tiền đạo thì vẫn phải trông cậy nhiều vào Công Vinh nhưng Vinh không phải là Văn Quyến, càng không phải Huỳnh Đức, hơn nữa hiện cũng không có phong độ tốt nhất. Đã vậy, đội tuyển dường như chưa là một khối thống nhất, trong khi không có một thủ lĩnh thực sự. Trong tình hình đó, đòi hỏi thành tích cao càng tạo thêm áp lực cho các cầu thủ mà thôi! Theo tôi, nếu đội tuyển vào đến bán kết ở AFF Cup sắp tới cũng nên xem là thành công rồi.
Một đất nước 85 triệu dân nhưng đội tuyển bóng đá không thắng được một đảo quốc có hơn 3 triệu dân như Singapore có phải là đáng buồn không, khi cả hai nước không có sự khác biệt lớn về văn hóa, dân tộc? Có lẽ đã đến lúc các nhà hoạch định bóng đá Việt Nam cần can đảm chọn những mũi nhọn thực sự để hướng tới thay vì cứ giải quyết những vụn vặt cụ thể (những giải giao hữu chẳng hạn). Thoải mái, không đặt nặng thành tích nhưng phải đặt ra những mục tiêu rõ ràng và nỗ lực (đầu tư) đạt được. Thiết nghĩ, điều này không đơn thuần là làm người hâm mộ hài lòng mà là cách để phát triển nền bóng đá nước nhà.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2008

Tạp bút

CÁNH HOA DẦU

Thành phố bây giờ vẫn còn nhiều hoa dầu lắm. Đường Trần Quốc Thảo, Nguyễn Chí Thanh, Hùng Vương, Ba tháng Hai… tuy không rợp kín bóng cây dầu nhưng nhiều đoạn vẫn còn sừng sững những tán dầu hằn dấu thời gian. Bao thăng trầm, bao thay đổi của đất Sài Gòn này được những bóng dầu ghi nhận tất cả, kể đã hơn trăm năm và trải qua ba thế kỷ. Nó không những tạo nên một thành phố xanh, mát mẻ mà còn ra dáng cổ kính, uy nghiêm. Và đầy xúc cảm.
Mùa mưa. Gió lắc lư những cành cây phần nhiều đã được cắt tỉa gọn để tránh gãy đổ. Từng đợt hoa dầu xoay tít trong không trung rồi từ từ rơi xuống. Hoa rơi trên những mái nhà cao tầng, trên những tấm bạt di động, trên những tán cây thấp hơn, xuống mặt đường và cả trên tóc những cô gái Sài Gòn đang hối hả tránh mưa. Hoa rơi vô tình. Nhưng người ngắm nó thì chẳng vô tình. Nó gợi bao xúc cảm trong tâm hồn những ngươi đã một ngày bận bịu với công việc. Giờ những cánh hoa gợi một cảm giác thanh bình, dịu dàng, êm ả dù giông gió đang gào thét trên đầu và mưa đang chực đổ xuống. Cái điều gì đó bất thường cũng đáng chú ý. Cái gì đẹp thì nó dẫu trong một không gian đầy mưa gió cũng đẹp.
Mùa nào hoa cũng rụng. Mùa nào hoa cũng vương trên tóc một đôi người. Mùa nào cũng có người lặng lẽ viết những vần thơ về hoa dầu và khe khẽ hát vài câu của một bài hát. Ở thành phố này, sẽ buồn và lạ lắm nếu không còn hoa dầu.
Đêm. Phố phường lên đèn. Người ta có thể đang suy tư với cánh hoa sắp chết. Nhưng thành phố đang bước vào một cuộc sống khác. Những nhát chổi lấp loáng cùng ánh bạc của chiếc áo phản quang đưa đi đưa lại. Hoa giờ lẫn trong rác rưởi. Hoa giờ là rác rưởi. Người ta phải quét cật lực để dọn hết số hoa rụng vương vai, để làm sạch thành phố. Người đi đường không còn biết gì đến một kiếp hoa đã rụng, cũng không để ý gì đến những nhát chổi đều đều xào xạc nữa. Hoa đã chết. Hoa đã làm tròn sứ mệnh của mình. Đã bắt đầu một cuộc song khác.
Chỉ mùa mưa, thành phố mới có hoa dầu mới rụng. Nhưng đêm nào thành phố cũng có những ánh bạc lấp lánh.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

Tạp bút

NHỚ MỘT “ĐÊM HIẾN MÁU”

Mười giờ một đêm cuối năm 2002. Tôi chuẩn bị đi ngủ thì có điện thoại. Bệnh viện Chợ Rẫy đang có mấy ca mổ, cần máu gấp, mời các thành viên của Đội Hiến máu dự bị có cùng nhóm máu đến ngay Trung tâm Hiến máu nhân đạo thành phố để tiếp máu. Tôi vội vã phóng xe đến, lòng hồi hộp không biết mình có đến trễ không... Người nhận máu thì có thể không được phép chờ đợi...

Tôi đến Trung tâm, đèn mở sáng choang. Ngoài cổng cũng có mấy người hối hả dắt xe vào. Tôi nhận ra ngay họ cũng như tôi, là những người đến hiến máu đột xuất.
Khám xong, uống vội ly trà đường, tôi nằm vào giường để cho máu. Đã nhiều lần hiến máu, nhưng đây là lần thứ hai tôi cảm thấy rất vui khi nằm vào chiếc giường trải drap trắng có cô y tá ngồi bên cạnh cầm chiếc kim thật to để rút máu. Lần trước cách đó vài năm, khi tôi hiến máu lần đầu, lúc tôi còn là sinh viên, nhằm đúng vào sinh nhật của người bạn thân nhất của tôi. Ngay buổi trưa hôm đó, tôi viết thư cho bạn tôi ngay để kể lại câu chuyện lần đầu hiến máu và không quên nói rằng: “Tao hiến máu là để chào mừng sinh nhật mày đó!”. Vừa viết tôi vừa nghĩ ngay đến nụ cười của thằng bạn khi đọc những dòng thư này. Tôi cảm thấy mình đã làm việc có ý nghĩa lần đầu tiên trong đời!
Đã có “kinh nghiệm”, nên tôi cảm thấy rất tự nhiên. Nhìn xung quanh, mấy người khác cũng cười cười nói nói vui vẻ. Tôi để ý thấy một người đàn ông vóc người trung bình, khuôn mặt cương nghị đi lại như con thoi để nhắc người này, động viên người kia. Tôi thầm đoán, chắc là “sếp”, chí ít cũng là người trực chính đêm nay, một đêm bình thường của Trung tâm nhưng lại rất quan trọng đến nhiều số phận con người. Một lúc sau, tôi khẽ hỏi cô y tá. Cô nở nụ cười rất tươi bảo: “Bác Mẫm đó!”. Tôi “à” lên một tiếng, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, Giám đốc Trung tâm Hiến máu nhân đạo, một con người “khét tiếng” mà tôi từng ngưỡng mộ đây mà! Lòng tôi chợt lại hồi hộp lạ thường.
Lấy máu xong, tôi ấn ngón cái vào vết thương đi đi lại lại rồi sà vào câu chuyện của “bác Mẫm” với mấy người nữa. Tôi nghe đến đoạn một người đàn ông – một kiến trúc sư, nhà ở Gò Vấp – tự nhận mình cũng từng tham gia phong trào học sinh sinh viên ở Sài Gòn những năm trước 1975. Tôi nghe chăm chú. Họ đang ôn lại câu chuyện về một thời tuổi trẻ hào hùng và oanh liệt. Tôi buột miệng hỏi: “Chú Mẫm tham gia vậy chứ có lần nào bị bắt không?” “Có chứ!” Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm trả lời rất nhanh, rồi ông cũng tự giải thích: “Tôi bị bắt 11 lần, có năm bị bắt mấy lần. Tôi bị giam đủ nơi hết, Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bình Tuy, Vũng Tàu, Gò Công, Tân An... Tất nhiên là cũng nếm đủ mùi tra tấn hết. Mà nhằm nhò gì, vì bây giờ tôi vẫn còn mạnh đùng đây!” Mười một lần bị bắt. Đã từng nghe những thủ đoạn tra tấn rất tàn bạo của các nhà tù chế độ cũ, tôi không khỏi rùng mình khi biết đến một người từng mười một lần bị bắt, tất nhiên mười một lần bị tra tấn. Đi tàu bay, lộn mề gà, chích điện, trấn nước... hay đánh bằng chày vồ, ma trắc, dùng kim chích trên mười đầu ngón tay... là những cách dã man nhất mà con người có thể nghĩ ra để hành hạ đồng loại mình. Mà nạn nhân của những trò dã man đó là ai? Là những thanh niên nhiệt tình, hừng hực lửa đấu tranh, dạt dào tình yêu nước, là những sinh viên, học sinh của các trường học ngay tại Sài Gòn. Họ đã làm gì? Thì có phải đâu làm những việc bình thường, họ biểu tình chống chế độ, đốt xe Mỹ, xé cờ Mỹ... Chế độ ấy thì, ôm chân quan thầy Mỹ để duy trì quyền lực trên máu của đồng bào. Còn người Mỹ là những kẻ xâm lược từ bên kia đại dương mang bom đạn giết hại đồng bào ta. Là người có lòng yêu nước, có lương tri hầu như ai cũng đứng lên chống Mỹ và chế độ đó. Huỳnh Tấn Mẫm cũng vậy. Dù biết rằng phải đối mặt với bắt bớ, tù đày, giết chóc...
Tôi nhớ lại một dòng tư liệu. Ngày 10-2-1972, Nguyễn Thái Bình, người thanh niên yêu nước được Mỹ cấp học bổng du học tại xứ cờ hoa, cùng 9 sinh viên khác đã chiếm Văn phòng Tòa Lãnh sự chính quyền Sài Gòn tại thành phố New York, phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn bán nước. Bản tuyên bố gồm 3 nội dung chính, trong đó có nội dung: “Trả tự do tức khắc cho những tù nhân Việt Nam như bà Ngô Bá Thành, ông Huỳnh Tấn Mẫm, ông Lê Văn Nuôi, Linh mục Chân Tín, ông Nguyễn Xuân Lập, ông Vũ Sĩ Hùng và hơn 100.000 tù chính trị khác”. Đọc các tư liệu khác, tôi được biết Huỳnh Tấn Mẫm được các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước nói đến rất nhiều về những hành động quả cảm của mình. Con người đó không chỉ là nhà tranh đấu mà còn là bác sĩ, là phó tiến sĩ triết học ở Liên Xô... Con người đó tôi may mắn có dịp trò chuyện trong một đêm hiến máu thật đáng nhớ.
Trước đây tôi cũng từng “bị rủ rê” đi hiến máu. Vài lần tôi đã từ chối. Tôi ngại đau, ngại cây kim to, ngại... mất máu. Giá như có dịp gặp và trò chuyện về những ngày tù đày của Huỳnh Tấn Mẫm sớm hơn, thì tôi đã trở thành người hiến máu sớm hơn rồi. Nghĩ lại thật xấu hổ, có những con người dũng cảm tranh đấu không hề sợ bắt bớ, tra tấn, tù đày, thậm chí cái chết. Còn tôi, tôi lại sợ… cây kim rút máu! Nhưng tôi tự an ủi mình, dù sao, lần hiến máu thứ 10 trong đêm đó đối với tôi thật có ý nghĩa. Tôi ra về mà lòng rộn niềm vui, không chỉ vì tôi đạt được “huy chương bạc”, vì tôi đã làm một việc có ích mà còn tôi được gặp bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm! Đó là “đêm hiến máu”!

Câu chuyện văn hóa

NGƯỜI CÓ VĂN HÓA LÀ NGƯỜI BIẾT NGHĨ ĐẾN NGƯỜI KHÁC

Thành phố ta đang xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Sống văn minh thì không thể không có văn hóa. Môi trường xã hội nào cũng cần có văn hóa nhưng môi trường đô thị thì tính văn hóa càng đòi hỏi nhiều hơn. Bởi vì, bất kỳ một hành vi thiếu văn hóa nào cũng có ảnh hưởng xấu đến nhiều người khác. Chẳng hạn, ở nông thôn, việc bỏ rác hay phóng uế bừa bãi của một vài người có ảnh hưởng không đáng kể đến môi trường và người khác, nhưng ở đô thị thì đó trở thành vấn đề lớn.
Trên thực tế, thành phố ta nói riêng và người Việt nói chung còn nhiều biểu hiện chưa có văn hóa, văn minh. Việc lưu thông trên đường, xả rác, phóng uế… có thể dễ thấy nhưng những hành vi khác thường không “bị” xem là biểu hiện đáng lên án, như chen lấn nhau ở nơi công cộng, không giúp đỡ, nhường nhịn người già, trẻ em, phụ nữ, ăn mặc không lịch sự, nói năng thô tục… Những hành vi này không chỉ tạo ra một cái nhìn xấu đối với bản thân người có biểu hiện thiếu văn hóa mà còn tạo ra hình ảnh không đẹp cho môi trường đô thị và nhất là ít nhiều tác động xấu đến từng cá nhân trong cộng đồng.
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng được một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Có lẽ ở xã hội nào và thời nào, mỗi một cá nhân dù có quyền tự do, dù có được tôn trọng sở thích cá nhân đến đâu cũng không thể tự tách mình ra khỏi xã hội, ra khỏi cộng đồng. Do đó, trong mối quan hệ giữa người với người, yêu cầu quan trọng nhất để mỗi cá nhân tồn tại được và có thể khẳng định được mình phải có sự ràng buộc với người khác. Để mối ràng buộc được bền chặt, gắn bó thì mỗi người phải tôn trọng người khác (để được người khác tôn trọng lại), mỗi người phải biết nghĩ đến quyền lợi chính đáng của người khác (để được tôn trọng lại). Tức là mỗi người có “vì mọi người” thì mới mong mọi người “vì mình”. Đó chính là tính văn hóa, nhân văn của từng cá nhân và của cả xã hội.
Để góp phần vun đắp tính “vì mọi người” trong từng cá nhân, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần có nhiều biện pháp giáo dục truyền thống. Bởi vì trong văn hóa truyền thống, người Việt Nam luôn thể hiện tính cố kết cộng đồng bền chặt, không chỉ trong chống giặc ngoại xâm mà còn trong sản xuất, trong đời sống bình thường. Việc tiếp thu những tinh hóa văn hóa phương Tây là cần thiết nhưng nếu quá đề cao quyền lợi cá nhân, vai trò cá nhân mà không đặt trong sự hài hòa với quan hệ cộng đồng, lợi ích cộng đồng là không chỉ đi ngược lại bản sắc văn hóa truyền thống mà còn góp phần tạo ra những cá nhân vị kỷ. Không đề cao việc tuyên truyền, giáo dục bản sắc, khi xã hội phát triển đến trình độ cao, có thể có tính văn minh cao nhưng không thể coi là có tính văn hóa cao nếu xã hội chỉ là một “túi khoai tây”, mỗi người là một thực thể độc lập. Mỗi người không nghĩ đến người khác, không tôn trọng quyền và lợi ích của người khác thì chính bản thân người đó cũng không thể đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền và lợi ích của mình. Một xã hội với những con người đó có thể gọi là xã hội gì, chắc chắn không phải là xã hội của dân tộc Việt Nam!

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI TÔN TRỌNG NGƯỜI TÀI ĐÚNG MỨC!

Lâu nay ta đã nghe những từ “chiêu hiền đãi sĩ”, “trải thảm đỏ”… để mời gọi nhân tài đến với địa phương, đến với cơ quan, đến với ngành mình. Trên thực tế, dù nước ta hiện không phải “nhân tài như lá mùa thu” nhưng nhiều nơi vẫn than thiếu người có năng lực, người có tâm huyết đến làm việc. Như vậy, liệu có phải có điều gì đó chưa ổn trong chính sách thu hút nhân tài? Hỏi tức là trả lời. Dường như tình trạng này nằm ở chỗ người tài chưa được tôn trọng đúng mức. Có mấy biểu hiện:
Thứ nhất, việc tuyển dụng, bổ nhiệm có lúc có nơi còn chưa công khai, minh bạch, bình đẳng. Lâu nay, khi có 2 người đến xin tuyển vào 1 vị trí (nhất là ở khu vực công), người ta hay dựa nhiều vào lý lịch, gốc gác, thân thế hơn là năng lực thực tế và người có “thế” hơn, có “mối quan hệ” tốt hơn thường được chọn. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi trong một cuộc khảo sát của báo điện tử Việt Nam net, với câu hỏi “Theo bạn, điều gì có thể giữ chân và thu hút người tài vào khu vực công?” thì 43,95% trong tổng số 28.401 phiếu cho rằng cần phải “tuyển dụng và bổ nhiệm công khai, minh bạch”. Thực tế cho thấy, nếu ngoài miệng cứ hô hào khuyến khích, thu hút nhân tài mà bên trong lại áp dụng “lý lịch chủ nghĩa”, “gia thế chủ nghĩa”, “gửi gắm chủ nghĩa” thì thật khó để có thể thu hút được đông đảo người giỏi.
Thứ hai, chính sách đãi ngộ chưa thật sự thỏa đáng. Ở khu vực công hiện nay, gần như có sự cào bằng trong chính sách đãi ngộ đối với mọi thành phần, không phân biệt người tài hay không phải là người tài, tức là người tài cũng không được tôn trọng gì hơn so với những người khác. Chẳng hạn, một công chức “làm cho có” (nhưng chưa đến mức kỷ luật, sa thải) với một công chức năng nổ, có nhiều sáng kiến thì gần như vẫn được trả lương như nhau, thậm chí nếu công chức “làng nhàng” mà có thâm niên thì lương còn cao hơn. Như vậy không khuyến khích được người giỏi đến với đơn vị, càng không động viên họ ra sức cống hiến. Từ đó, hoặc là họ tìm nơi khác làm việc hoặc họ chịu ở lại nhưng “chân ngoài chân trong” hoặc họ chịu thui chột năng lực. Bởi vậy, trong cuộc khảo sát nói trên, có đến 41,6% đề nghị phải cải cách lương bổng, thực chất là trả lương theo năng lực và hiệu quả công việc chứ không phải theo hệ số.
Thứ ba, vướng những “rào cản” ngoài năng lực. Hiện có những vấn đề có thể làm trở ngại việc thu hút và sử dụng người tài. Chẳng hạn, việc một người có tham gia các tổ chức chính trị hay không lại có tính quyết định để người đó được nhận vào làm việc ở một cơ quan khu vực nhà nước hoặc được đề bạt giữ một nhiệm vụ nào đó. Thực tế hiện nay hầu hết các vị trí lãnh đạo đều đòi hỏi phải là đảng viên nhưng bên cạnh nhiều người có năng lực, có điều kiện đã tự nguyện xin vào Đảng thì vẫn có không ít người giỏi khác vì nhiều lý do lại không vào Đảng, thành ra họ không được giao những công việc phù hợp với năng lực của họ. Ngoài ra, điều kiện làm việc đôi khi quá chặt chẽ lại không hẳn phù hợp với tất cả người giỏi. Chẳng hạn, không nhất thiết buộc mọi cán bộ phải có mặt tại cơ quan đủ 8giờ vàng ngọc thì mới làm được việc. Nhất là trong điều kiện tiến bộ của công nghệ thông tin hiện nay, nhiều người có thể làm việc từ xa mà vẫn đảm bảo yêu cầu công tác…
Ngoài ra, môi trường làm việc cũng rất quan trọng. Nói ví von, người tài như con cá phải được thả trong một môi trường nước phù hợp và đủ rộng để vùng vẫy. Hiện nay, trong không ít cơ quan, mọi người làm việc phải “ngó trước ngó sau”, phải “đoán ý của lãnh đạo”, tức là phải “thủ thế” nhằm tránh bị “bắt giò”, như vậy người có sáng kiến cũng ít dám bộc lộ sáng kiến, bởi dễ bị “dập” trước khi sáng kiến có thể phát huy kết quả tích cực, thậm chí đã được phát huy rồi thì cũng bị “búa rìu” vì sự “trội” hơn người khác!
Do đó, cần phải có sự tôn trọng người tài đúng mức, tức là phải khắc phục những hạn chế trên. Trên hết là phải phát huy dân chủ, dân chủ trong việc tuyển chọn, đề bạt, bổ nhiệm; dân chủ trong chính sách đãi ngộ; dân chủ trong điều kiện và môi trường làm việc… Người tài phải được nói những tâm tư, nguyện vọng, những đề xuất của mình và những ý kiến này phải được lắng nghe một cách cầu thị. Thành ngữ “tam cố thảo lư” nên hiểu là ngoài việc ba lần hạ mình đến lều cỏ để mời cho được người tài còn có việc chịu lắng nghe và thực thi những gì đúng, những gì có lý.
Người có tài thường có lòng tự trọng. Bản thân họ thường tôn trọng người khác và cũng muốn người khác tôn trọng mình. Vì vậy, muốn họ phát huy năng lực, tâm huyết của mình đối với công việc, đối với đơn vị thì rất cần thể hiện sự tôn trọng một cách thực sự đối với họ. Nếu nói việc tìm kiếm nhân tài như việc “đãi cát tìm vàng”, phải rất cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì thì cũng cần phải tôn trọng từng bụi vàng. Đó cũng chính là tôn trọng thành quả sự tìm kiếm của mình.

Câu chuyện thể thao

Đội tuyển Việt Nam tại Cúp bóng đá TP.HCM:
THUA CÓ LỢI GÌ KHÔNG?

Sau 2 trận thua, đội tuyển Việt Nam gần như nắm chắc vị trí cuối cùng trong 4 đội dự Cúp bóng đá TP.HCM. Đó là điều nằm ngoài dự đoán của gần như tất cả mọi người. Đã có nhiều phân tích, lý giải nguyên nhân thua trận. Điều đó là cần thiết, để có thể tìm ra điểm yếu, điểm mạnh nhằm chuẩn bị tốt hơn cho Suzuki Cup vào cuối năm. Nói cách khác, việc thất bại tại giải giao hữu này có lợi gì không? Chắc chắn là có lợi, nếu ta nhìn ở góc độ tích cực của hiện tượng tiêu cực bằng thái độ bình tĩnh, cầu thị.
Thứ nhất, về tinh thần thi đấu. Dù thất bại trong một giải giao hữu nhưng đã tạo ra áp lực cho đội tuyển, do đó càng kích thích các tuyển thủ tinh thần khát khao chiến thắng. Vì vậy, cần có biện pháp động viên tinh thần nhằm không để các tuyển thủ rơi vào tình trạng “ì” hay “chai” về tâm lý, khiến họ mất động lực thi đấu. Lúc này, vai trò của “bác sĩ tâm lý” là rất cần thiết. “Bác sĩ tâm lý” có thể là bác sĩ chuyên khoa tâm lý mà cũng có thể là lãnh đạo Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, gia đình, dư luận… Kể cả báo chí cũng nên đóng vai trò tích cực hơn cho đội tuyển, thay vì chỉ trích thì nên có những phân tích, góp ý với tinh thần xây dựng, động viên toàn đội.
Thứ hai, về đấu pháp. Đối đầu với các đội bóng có lối chơi khác nhau, thể hình thể lực khác nhau cũng có thể giúp ban huấn luyện xây dựng được những đấu pháp biến hóa, phù hợp với từng loại đối thủ, từng hoàn cảnh thi đấu. Nói chung, một đội bóng thi đấu tốt phải có nhiều “miếng” chiến thuật, áp dụng trong từng tình huống cụ thể, trên một nền tảng nhất định về thể lực, kỹ thuật, tư duy chiến thuật… Qua thất bại tại giải này, chắc chắn sẽ “vỡ” ra nhiều vấn đề để giúp ích ban huấn luyện có thể xây dựng đấu pháp.
Thứ ba, kiểm tra năng lực của từng vị trí. Đối với những tân binh thì đây là dịp rèn luyện bổ ích, cả trong thể hiện năng lực và khả năng phối hợp với đồng đội. Chẳng hạn với Phước Tứ, Hoàng Vương, Chí Công… thì đây rõ ràng là cơ hội tốt để họ tự thể hiện mình, đồng thời vừa thích nghi với các đồng đội vừa với cường độ thi đấu căng thẳng. Với các cựu binh, họ cũng phải nỗ lực để khẳng định mình và làm động lực phấn đấu cho các cầu thủ trẻ. Từ đó có thể chọn được đội hình mạnh nhất. Ngoài ra, giải đấu cũng giúp các tuyển thủ cọ xát với nhiều loại đối thủ, nhiều “miếng” thi đấu, kể cả các tiểu xảo…
Thực ra, những ích lợi vừa kể có thể tích lũy được qua một giải đấu thành công. Nhưng khi đó, bên cạnh tâm lý “say sưa” còn có sự chủ quan mà ít tìm thấy những hạn chế, khuyết điểm. Khi thất bại, người ta thường có xu hướng “mổ xẻ” nên những hạn chế dễ được phát hiện hơn.
Do đó, nhiệm vụ sắp tới của đội tuyển là phải tìm ra được những hạn chế và có biện pháp khắc phục hợp lý. Nếu “thất bại là mẹ thành công” thì rõ ràng sẽ rất cần những “bà đỡ” “mát tay”, có năng lực, có kinh nghiệm và cả có tâm huyết!

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2008

Tạp bút

ĐẶT CỌC” HAY “ỨNG TRƯỚC”?

Cô bạn tôi là một chủ vựa tôm khá lớn ở huyện Bình Đại (Bến Tre). Một lần gặp nhau, cô bảo tôi phải “làm chủ” cho cô một việc mà cô cho là “chưa từng gặp”. Số là, lần đó cô thỏa thuận được với một chủ vuông tôm giá cả và ngày đến bắt tôm. Đợt đó, tôm đang “nhũng” nên vuông nào có “lái” đến mua là rất mừng. Nhưng để “chắc ăn”, cô bạn tôi đưa cho chủ vuông tôm 10 triệu đồng và nói: “Em đưa trước anh mười triệu, giá cả vậy, đúng ngày tụi em sẽ đến thu”. Không ngờ, chỉ sau đó hai ngày, tôm chợt lên giá, ông chủ vuông tôm kia liền bán cho người khác. Đúng hẹn, cô bạn tôi cho xe cộ và người đến thu tôm thì chỉ có… ao không. Chủ vuông tôm chỉ gãi đầu gãi tai nói: “Tôi kẹt nợ quá nên bán cho vựa khác rồi. Tiền ứng trước của cô, tôi xin trả đủ, cộng thêm một triệu bù đắp công sá anh em đến đây, mong cô thông cảm”. Cô bạn tôi giận run môi. Hai bên tranh cãi một hồi, bạn tôi đòi phải bồi thường tiền đặt cọc. Đến đây, ông chủ vuông tôm rất tự tin: “Tôi không trả thêm đồng nào hết, vì tiền cô đưa cho tôi là tiền ứng trước, không phải tiền đặt cọc, hơn nữa cũng không có giấy tờ gì làm bằng cả!” Bạn tôi cuối cùng phải ngầm bồ hòn ra về, đành mất mấy chục triệu tiền lãi của ba tấn tôm!
Đây chắc là không phải chuyện hiếm xảy ra. Có điều xuất hiện một ông chủ tôm “cao tay” là hiếm! Bởi vì, ông ta đã nắm khá chắc luật dân sự. Trong Bộ luật Dân sự, không có điều nào quy định việc bồi thường người đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với việc “ứng trước” mà chỉ có bồi thường cho việc “đặt cọc”. Hai hành vi này dường như chỉ khác nhau cách gọi và văn bản (hoặc chứng cứ khác có giá trị pháp lý) làm bằng. Vì vậy trong giao dịch dân sự, nếu chỉ không rõ ràng cách gọi tên (và cả thiếu bằng chứng) thì dễ xảy ra tranh chấp. Trong thực tế, nhiều người mặc nhiên cho rằng “ứng trước” là “đặt cọc” và ngược lại. Do đó, đôi khi xảy ra nhầm lẫn. Bên cạnh đó, hai bên thường chỉ “giao dịch miệng” – một tồn tại từ nền sản xuất nông nghiệp truyền thống – nên không ít khi lâm vào cảnh “lời nói gió bay” khi một bên “quên” hoặc cố tình lật lọng.
Với các hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, bên cạnh việc giữ chữ tín, việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật là rất cần thiết. Tất nhiên các nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận phải được đặt lên hàng đầu nhưng những yêu cầu khác về hình thức cũng không kém phần quan trọng. Đó là phải sử dụng đúng hình thức hợp đồng (đối với các giao dịch có trị trị lớn hoặc điều khoản hợp đồng chi tiết thì nên (thậm chí là phải) làm thành văn bản, đôi lúc cần phải có công chứng), câu chữ sử dụng phải rõ ràng, dễ hiểu, tránh hiểu mập mờ hoặc hiểu theo cách nào cũng được!
Bởi vậy, tôi chỉ có thể khuyên cô bạn, nên in sẵn “giấy đặt cọc” hoặc “giấy tạm ứng” để sử dụng trong những trường hợp cụ thể, có nội dung rõ ràng, chi tiết, có chữ ký của hai bên để không xảy ra tranh chấp hoặc khi có tranh chấp cũng dễ “xử”!

Ảnh


Thu

hoạch quýt

Ảnh


Thu hoạch quýt

Tạp bút

MỘT THỜI… CON CÚI

Cảm thương những nông dân đã hy sinh khi vì thù nhà nợ nước mà bất đắc dĩ thành chiến binh, mà đúng hơn là những nghĩa binh vô cùng dũng cảm, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu đã dành những lời hết sức xúc động. Từ những người quen tay cày tay cuốc, họ đã trở thành chiến sĩ với những vũ khí thô sơ mà như Nguyễn Đình Chiểu đã viết:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng giết xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đao làm bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Có lẽ đối với những người đã từng sống ở nông thôn, nhất là vùng trồng lúa, mới có thể biết “con cúi” là con gì hay cái gì. Con cúi ở đây là một vật dụng bện bằng rơm (đan theo kiểu như tóc thắt bính hay tết đuôi sam), có rất nhiều công dụng. Con cúi bện chặt dùng để giữ lửa. Ngày trước tìm được lửa và giữ nó là rất khó khăn, không phải lúc nào thần Promethée cũng dễ tính. Ở nông thôn, người ta giữ lửa bằng cách để lửa cháy âm ỉ trong củi ướt hoặc than. Ngoài ra còn có thể giữ lửa bằng con cúi như trong một quyển tự điển tiếng Việt, con cúi đã được giải thích là “cuộn rơm tết, dùng để giữ lửa”. Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra lửa ngày trước (độ mười lăm hai chục năm trước đây thôi) là khá vất vả. Ngoài diêm, người ta thường dùng hộp quẹt (bật lửa) đánh lửa bằng viên đá nhỏ xíu để bắt lửa vào một mồi bông gòn có tẩm dầu hỏa hoặc xăng. Những người cẩn thận luôn trữ sẵn rất nhiều đá lửa trong nhà để đề phòng bất trắc. Dù vậy, nếu lỡ mồi bông gòn bị ướt thì để “quẹt” ra được lửa cũng gian nan vô cùng, có khi phồng cả ngón tay cái!
Con cúi để giữ lửa được đánh rất chặt bằng rơm hơi ướt một chút. Có ba lọn rơm, tùy theo yêu cầu cần con cúi to hay nhỏ mà chọn lọn to hay nhỏ, nhưng mỗi lọn đều được xoắn chặt và khi bện vào nhau cũng xiết hết tay để chiếm hết những khoảng không dù nhỏ nhoi trong con cúi, để tránh lửa bùng cháy. Lửa được giữ cháy âm ỉ trong lòng con cúi và lúc nào cũng ngún khói. Để con cúi không tắt, thỉnh thoảng người ta thổi cho những đóm lửa sáng lên hoặc treo ngược nó lên.
Nhưng con cúi không chỉ có chức năng đó thôi. Ở quê tôi, vùng duyên hải Tây Nam Bộ, cứ sau Tết là đến mùa nước kém và cũng là mùa nước mặn. Dòng kênh nước tràn bờ trong mùa nước nổi được thay bằng những ngày nước kém khô cạn tận đáy. Nước cạn, không có xuồng, đi bộ hoặc băng qua kênh rạch khá dễ dàng nhưng ai cũng ngại ra đồng vì ngại một thứ côn trùng bé tẹo: đó là con bù mắt – người địa phương quê tôi gọi thế – tôi không biết nó còn tên gọi nào khác không. Loại côn trùng này, (xuất hiện trong câu thành ngữ “cọp ăn bù mắt”), đốt rất ngứa và khó chịu hơn bị muỗi đốt rất nhiều, đến nỗi không ai không thể không gãi. Mà đã gãi thì đến mê mệt, xước da rướm máu mới thôi. Có người thì dùng khăn trùm kín mặt lại, mặc áo dài tay. Nhưng lội đồng thì không thể mặc quần dài được nên người ta có sáng kiến là thoa bùn non lên đầy chân, từ bàn chân cho đến… quần. Bù mắt đánh hơi có máu là xông vào nhưng bị lớp bùn non giữ chặt lấy nó, thế là… tàn đời. Nhưng cũng chưa phải toàn vẹn, vì còn tay, cổ, mặt,… chẳng lẽ thoa bùn khắp cả? Nhiều người dùng con cúi hun khói để đuổi chúng. Vậy là con cúi còn có thêm một chức năng nữa là để… đuổi bù mắt!
Tôi nhớ, ngày nhỏ, sáng sáng trước khi đi học, ba đánh sẵn cho anh em tôi mỗi đứa một con cúi nho nhỏ. Cứ huơ đi huơ lại trước hai chân và khắp người, bù mắt nghe khói không dám xông vào đốt. Cứ như vậy cho đến khi nắng lên cao không còn bù mắt thì chúng tôi vứt con cúi đi hoặc có khi, con cúi cháy hết thì tôi đã qua khỏi đám ruộng. Con cúi của ba tôi làm bao giờ cũng đẹp, cũng gọn, hun khói nhiều và không sút đổ. (Tôi cũng thử làm nhưng những lần đầu đều không thành: lúc thì chặt quá không cháy được, lúc lỏng quá, rơm rơi vãi). Vì vậy, tôi nghĩ rằng đối với cụ Đồ Chiểu hay nhiều người con cúi có thể trở thành một thứ vũ khí, một công cụ giết giặc, thì với chúng tôi, con cúi là bạn đồng hành trong những ngày đi học.
Ngoài ra, con cúi còn được dùng trong nhiều việc khác nữa. Người ta bện một con cúi dài rồi quấn quanh chân bồ lúa để tránh bị chuột khoét. Con cúi còn được dùng làm ổ gà đẻ. Đơn giản hơn là người ta đánh rơm thành những con cúi để dễ trữ, dễ vận chuyển. Và vì vậy, nếu giải thích như cuốn tự điển kia thì e rằng con cúi còn thiếu nhiều chức năng quá!
Con cúi ngày càng xa vời. (Gia đình tôi sau chuyển đến sống ở một vùng cao nguyên. Từ đó, con cúi rơm không còn hiện diện trong đời sống chúng tôi nữa. Lâu ngày con cúi chỉ còn là một hình ảnh phai mờ). Ở nông thôn, ngày nay chẳng ai phải giữ lửa nữa. Hộp quẹt ga không ngại bị ướt. Hiện đại hơn là đã có biogas, chẳng cần đến hộp quẹt nữa! Còn đồng ruộng đã được hiện đại hóa, có thể cưỡi xe máy đến tận nơi, không lo bị bù mắt đốt. Sang hơn có thể dùng thuốc bôi ngoài da. Lúa làm ra cũng không nhất thiết phải giữ trong bồ nữa, mà năng suất ngày càng cao, cũng không phải nhà nào cũng quây được bồ to mà vựa. Lúa đã trở thành hàng hóa, nếu không thì cũng đã có nhiều chỗ để gửi, không cần phải mang về nhà cho tốn sức. Còn nuôi gà đẻ công nghiệp thì chẳng ai cần đến một cái ổ “cầu kỳ” như thế. Và rơm ngày nay được chuyên chở trên những xe công nông mạnh bằng sức của cả chục con trâu, con bò cộng lại. Tóm lại, con cúi đối với nhiều người chỉ là kỷ niệm và đối với nhiều người khác thậm chí nó còn chưa bao giờ xuất hiện trong ý nghĩ của họ.
Nhưng đối với tôi, con cúi sẽ còn mãi trong tâm trí, không phải chỉ vì ba tôi đã từng đánh con cúi cho anh em chúng tôi đi học với biết bao tình cảm và hy vọng chất chứa trong ấy, mà còn vì nó đã gắn bó suốt một thời làm nông của tôi, gia đình và họ hàng nhà tôi. Bởi vậy, không phải chỉ có ba và mẹ mới là bạn đồng hành với chúng tôi trong cuộc đời, mà những con cúi giản dị cũng đã từng cùng sống với chúng tôi trong những ngày đi học, đi làm đồng…
Tôi không chắc mình bây giờ có còn làm được những con cúi nữa không nhưng có lẽ mãi mãi tôi không bao giờ quên được những con cúi đơn giản, mộc mạc của một thời thơ ấu, một thời còn là một “tiểu nông dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nhớ con cúi nhưng tôi mừng khi thấy người ta cũng đã quên dần nó. Đơn giản vì con cúi đã đi cùng với nông dân ta trong thời kỳ gian khổ, nghèo khó nhất, mà tôi thì muốn nó đi qua càng nhanh càng tốt!
Bài đã đăng trên Thanh niên chủ nhật, ngày 21.7.2002

Thời sự và suy nghĩ

Phải hạn chế tình trạng thất nghiệp trá hình trong các cơ quan nhà nước


Hiện nay, thất nghiệp trá hình trong các cơ quan nhà nước là có thực, có thể nói ở mức khá phổ biến. Điều này thể hiện, ở nhiều cơ quan, nếu giảm đi một số người thì công tác vẫn đảm bảo, vẫn hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn của mình; hoặc khi khuyết đi một số vị trí (không kể trường hợp đột xuất) thì những người còn lại vẫn có thể choàng gánh để làm tốt những phần việc của những người không có mặt. Thông thường, hiện tượng này biểu hiện ở sự làm-không-hết-sức-mình của các cá nhân trong cơ quan, đúng hơn là mỗi người làm chưa hết năng suất lao động của mình. Tình trạng thất nghiệp trá hình tồn tại trong nhiều năm qua và ở khá nhiều các cơ quan và tỉ lệ người bị coi là thất nghiệp trá hình ở các cơ quan thường chắc không dưới 10%. Như vậy có một số người không làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, hoặc họ không được phân công, bố trí công việc phù hợp, hoặc không được tạo điều kiện để làm tốt nhiệm vụ.
Thất nghiệp trá hình gây ra nhiều hệ quả xấu.
Thứ nhất, làm tăng quỹ lương của cơ quan; đối với những đơn vị đã thực hiện khoán quỹ lương thì làm giảm thu nhập của những người “lao động chính” – cách tạm gọi để phân biệt với những người thất nghiệp trá hình.
Thứ hai, gây lãng phí cho nhà nước và cho chính người lao động. Nếu không tuyển dụng những người thuộc diện thất nghiệp trá hình, những người này sẽ tự tìm việc khác để kiếm sống, có thể có những đóng góp tích cực cho xã hội mà cơ quan nhà nước cũng không phải tốn thêm một khoản lương nữa.
Thứ ba, không tạo ra động lực làm việc tốt trong toàn cơ quan. Vì tâm lí “làm nhiều hay ít cũng hưởng bao nhiêu đó lương” nên sẽ có những người không dốc hết sức làm việc vì thấy sự cố gắng của mình cũng không được đền bù xứng đáng. Ngoài ra, tình trạng này cũng tạo ra “sức ì” trong mỗi cán bộ công chức vì không có sự phấn đấu và cạnh tranh lành mạnh.
Thứ tư, không tạo ra một không khí làm việc tốt và sự đoàn kết tốt trong cơ quan. Từ chỗ có nhiều người “rảng rang” nên hay tụm năm tụm ba để chuyện phiếm, dễ gây xào xáo nội bộ, thay vì mỗi người chỉ quan tâm đến công việc của mình.
Như vậy, thất nghiệp trá hình gây tác hại cho cơ quan nhà nước và cả người lao động.
Điều đáng buồn là tình trạng thất nghiệp trá hình tồn tại ở các cơ quan nhà nước nhiều hơn hẳn ở các doanh nghiệp tư nhân hoặc có vốn của nước ngoài. Tâm lý “làm nhà nước thì nhàn” hoặc “tốt số mới được làm nhà nước” tồn tại nhiều năm qua và gần như là một “quy luật”. Hàm ý của những nhận xét này rất rõ ràng: làm trong các cơ quan nhà nước thì ít phải cạnh tranh, ít phải phấn đấu, nỗ lực, ít bị mất việc, ít lương như đôi khi có nhiều bổng… Nhiều người do “gửi gắm”, thậm chí “chạy chọt” lọt được vào cơ quan nhà nước nhưng không phù hợp vị trí công tác, không đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ. Tình trạng này cần sớm chấm dứt, thì tình trạng thất nghiệp trá hình mới giảm. Do đó, nên:
Thứ nhất, tuyển dụng phải theo yêu cầu công việc. Cơ quan có nhu cầu ở vị trí, bộ phận nào thì tuyển ở bộ phận đó, không nên “tạm tuyển” vì “quan hệ” để lấp chỗ nhưng thực tế không đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Thứ hai, có sự phân công công việc rõ ràng, hợp lý và tương đối đồng đều giữa các cán bộ công chức để mỗi người phải luôn nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, tránh cảnh người không có việc trong khi người khác thì quá nhiều việc.
Thứ ba, kiên quyết loại những cán bộ công chức không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức. Nên xây dựng một thói quen: các cơ quan nhà nước không nên nhận cán bộ công chức từ cơ quan nhà nước khác đã có “tì vết”, có kỷ luật (ở mức độ nào đó, cần có quy định cụ thể).
Thứ tư, xây dựng chế độ khen thưởng hợp lý, khoa học dựa trên sự đóng góp và mức phấn đấu của từng cán bộ công chức, thay vì “ưu tiên” cho lãnh đạo hoặc cào bằng mọi người như nhau để lấy tiếng là cả cơ quan đều làm tốt.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2008

Tạp bút

MỘT BỮA NGHE CẢI LƯƠNG

Nhiều năm rồi tôi chưa có dịp nào ngồi nghe hay xem trọn vở cải lương nào. Cuộc sống bận rộn, dành 90 phút để xem một tập phim, một tuồng cải lương thật khó. Bình thường, thèm nghe giọng ca của nghệ sĩ nào đó, tôi chỉ dám bỏ ra mươi phút để nghe một bản tân cổ giao duyên. Vậy là đủ rồi. Muốn thưởng thức cải lương phải thật thư thái, không bận tâm điều gì khác. Có như vậy mới hiểu đầy đủ nội dung, nghe đủ và thấm từng làn hơi, từng câu hát…
Bữa rồi tôi tình cờ tìm thấy một cái đĩa MP3 cũ có một số vở cải lương cũ. Tôi chọn vở
Tiêu Anh Phụng loạn trào. Chuyện kể về một nữ tướng cướp tên là Tiêu Anh Phụng (do nghệ sĩ Mỹ Châu đóng) vì có tình cảm với công chúa cải trang thành nam nhân (do NSƯT Lệ Thủy đóng) đã quy thuận triều đình và làm một võ quan cao cấp. Công chúa bèn tác hợp Anh Phụng với hoàng tử (NSƯT Minh Vương). Nhân có giặc xâm phạm, viên tể tướng (NSND Diệp Lang) có lòng đố kị nên đã tâu rỗi để nhà vua truyền Tiêu Anh Phụng làm nguyên soái. Ở nhà, tể tướng lập mưu tạo chứng cứ giả rồi vu cáo nàng có ý thoán nghịch. Nhà vua lập tức triệu hồi Anh Phụng. Giữa triều đình, tình ngay lý gian, Tiêu Anh Phụng bèn nổi loạn. Trong lúc rối ren, tên thừa tướng lật đổ nhà vua để tự lập. Hoàng gia bôn đào, hoàng tử phải lên sơn trại xin lỗi Tiêu Anh Phụng để nàng đưa binh về thảo phạt kẻ soán vị. Nhờ người con gái có công cứu giá nên viên tể tướng không bị chém, chỉ bị giáng làm thứ dân. Những người có công đều được đãi ngộ xứng đáng…
Đó là một vở cải lương có hậu. Con người trong nghịch cảnh không được buông xuôi mà phải không ngừng đấu tranh, thậm chí có khi phải làm điều vượt qua quy tắc xử sự thông thường. Câu chuyện khá hay nhưng không phải là một tuồng tích của Việt Nam. Chẳng hề chi, thưởng thức cải lương, nội dung là thứ yếu, nghe ca mới là chính. Những Mỹ Châu, Lệ Thủy, Diệp Lang, Minh Vương, Thanh Kim Huệ, Văn Chung, Kim Ngọc… đủ làm nên một tác phẩm lớn nếu xét về mặt ca diễn. Từng tiếng than của Mỹ Châu, của Thanh Kim Huệ, lời chia tay quyến luyến của Minh Vương, tiếng cười nham hiểm của Diệp Lang… đều toát lên tính cách của nhân vật và phản ánh được diễn biến của câu chuyện. Người nghe vừa thương vừa giận vừa bật cười với từng lớp diễn, từng lời hát nên vở hát như thấm vào lòng người nghe…
Tiêu Anh Phụng loạn trào đâu phải là vở hay nhất của cải lương Việt Nam. Đó chỉ là vở tôi tình cờ nghe lại sau nhiều năm không nghe. Vậy mà hồn cải lương vẫn còn rung động với từng lời ca tiếng hát. Chắc lòng yêu mến bộ môn nghệ thuật đặc trưng của Nam bộ này trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, chỉ tạm thời bị cái tất bật của thời gian che lấp mà thôi. Tôi mong sao có thể truyền được tình yêu này cho con cái, để nó không chỉ hiểu thêm những câu chuyện hay, có ý nghĩa qua các tuồng tích mà còn có thể truyền được tình yêu này cho các thế hệ sau nữa. Sẽ thật buồn nếu ngày nào đó người ta chỉ biết cải lương qua sách vở và chỉ nghe cải lương trong các viện bảo tàng!

Thời sự và suy nghĩ

ĐỪNG XEM VEDAN LÀ VẬT “TẾ”!

Có thể nói, hành vi gây ô nhiễm môi trường của Vedan là trường hợp đặc biệt: mức độ vi phạm rất nghiêm trọng, hậu quả rất nặng nề; thời gian vi phạm kéo dài; vi phạm có quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi; bản thân đơn vị vi phạm là một doanh nghiệp có uy tín, có chỗ đứng khá ổn định trên thị trường. Điều đặc biệt hơn cả là Vedan là trường hợp gây ô nhiễm môi trường lớn nhất bị phát hiện từ trước đến nay.
Chính vì vậy, công luận đang phẫn nộ với hành vi vi phạm của Vedan. Những ý kiến đề nghị tẩy chay sản phẩm của Vedan, truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân vi phạm, thậm chí rút giấy phép hoạt động… đã phản ánh sự quan tâm và bức xúc trước vi phạm này. Nhưng dường như không chỉ có bao nhiêu đó. Đằng sau và bên trong sự việc này còn ẩn chứa nhiều sự việc khác, cũng đáng để quan tâm, xử lý, nếu không muốn mọi việc bị nhìn nhận phiến diện, thiếu khách quan. Dù có thể xem vụ việc này là “điểm” nhưng cũng không nên xem Vedan là vật “tế”, vật “hi sinh” bởi việc bảo vệ môi trường phải là việc làm thường xuyên, liên tục và của toàn dân, chứ không phải xử lý Vedan xong là đã dứt điểm.
Thứ nhất, hiện nay, không chỉ có Vedan là doanh nghiệp duy nhất gây ô nhiễm môi trường tại Việt Nam. Các cơ quan chức năng chắc không khó liệt kê ra danh sách các doanh nghiệp không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường ở mỗi tỉnh, mỗi thành phố. Có lẽ không tỉnh thành nào dám đảm bảo các khu công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp ở địa phương mình hoàn toàn không gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, cần tiếp tục kiểm tra, xác định tính chất mà mức độ vi phạm để có biện pháp xử lý tiếp theo ở tất cả các địa phương.
Thứ hai, các cơ quan chức năng đã ở đâu và làm gì trong suốt 14 năm vi phạm của Vedan và nhiều doanh nghiệp khác đã và đang gây ô nhiễm môi trường? Nhiều người đã nói đến sự mưu mô và tinh vi của Vedan trong vi phạm có tính hệ thống này. Điều đó đúng nhưng không thể nói các cơ quan chức năng về bảo vệ môi trường đã làm tròn chức trách của mình. Liệu đã có kiểm tra thường xuyên hay không? Liệu các biện pháp kiểm tra có thực chất không? Chính sự lỏng lẻo, yếu kém của các cơ quan bảo vệ môi trường, từ địa phương đến trung ương, Vedan mới có thể vi phạm trong suốt ngần ấy năm như vậy. Nay chờ xử lý Vedan thì cũng không thể bỏ qua trách nhiệm của các cơ quan này với do sự thiếu trách nhiệm.
Thứ ba, việc xử lý Vedan là điều đương nhiên, kể cả đồng thời kết hợp nhiều biện pháp (truy tố hình sự, rút giấy phép, phạt tiền, buộc khắc phục hậu quả…), vậy doanh nghiệp vi phạm nào là đối tượng bị xử lý tiếp theo? Và thiệt hại cho môi trường sống, cho người dân sẽ được tính toán và bù đắp như thế nào? Không xem Vedan là vật “tế” nhưng nên xem đây là trường hợp “mở màn”, là một “tiền lệ”, thậm chí là một trường hợp “điểm” hay “chuẩn” để từ đó tích lũy thêm “kinh nghiệm” và làm căn cứ để xử lý các trường hợp tiếp theo. Tuy nhiên, việc xử lý Vedan phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành chứ không vì sự phẫn nộ hay áp lực của công luận. Nếu pháp luật chưa đủ điều chỉnh hoặc mức điều chỉnh chưa thật hợp lý hay đủ sức răn đe thì đây cũng là dịp để các nhà làm luật có thể tiếp tục hoàn thiện các luật về bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy, cần có một quan điểm rõ ràng về bảo vệ môi trường cũng như đấu tranh chống các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Các quan điểm cho rằng tập trung phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu cần được thay đổi. Thậm chí, phải đấu tranh chống lại quan điểm vì mục tiêu kinh tế mà bất chấp hậu quả về môi trường, hoặc vấn đề môi trường là chuyện của ai đó chứ không phải của người quản lý, của bản thân doanh nghiệp. Do đó, cần thống nhất một quan điểm là phải phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sống. Đó chính là một trong những yêu cầu của phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho toàn dân, trong đó có các doanh nghiệp, là điều rất quan trọng và cần thiết. Khi ý thức bảo vệ môi trường trở nên thường trực trong mỗi người dân thì khả năng đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm môi trường mới được nâng cao. Dĩ nhiên, việc đấu tranh này phải tuân thủ các quy định của pháp luật và cần thiết có sự hướng dẫn, tổ chức của các đoàn thể chính trị - xã hội đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của người dân.