Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2008

Thời sự và suy nghĩ

PHẪN NỘ CŨNG PHẢI TRÚNG CHỖ!

Tôi có một con gái hơn 3 tuổi, đang đi mẫu giáo, nên rất quan tâm đến các trường hợp bạo hành trẻ em. Khi xem bản tin trên VTV về những hành động tàn nhẫn của bảo mẫu Quảng Thị Kim Hoa, tôi gần như bật khóc, vì thương những đứa trẻ vô tội, vì phẫn nộ cách hành xử vô tâm tính của một người vốn được cha mẹ tin tưởng giao giữ con trẻ cho mình. Ngay ngày hôm sau, nhiều bạn bè gửi đường link đoạn video hình ảnh này, tôi đã không dám xem lại.
Tôi chắc rằng nhiều bậc phụ huynh khác cũng bức xúc và căm giận hành động của bà Kim Hoa. Vì thế, gần 2.000 người đã theo dõi trực tiếp phiên xử lưu động này diễn ra ngày 18-3-2008 và hàng triệu người theo dõi qua báo chí. Ngay trong phiên tòa, nhiều người đã không đồng tình với bản án vì cho rằng nó quá nhẹ. Quả thực, sự phẫn nộ đã làm tính chất của vụ việc đi xa hơn nhiều so với thực chất của nó. Bởi vì, xét cho cùng, sự bạo hành này còn nhẹ hơn nhiều những hình thức bạo hành khác, như cha mẹ đánh đập con cái, bắt con cái đi ăn xin hoặc “nhượng” con để người khác bắt con mình đi ăn xin, thậm chí ngay cả việc ép con học tập quá sức của trẻ… Thế nhưng những sự việc này không được xử lý, thậm chí việc đánh đập con trái gây thương tích còn được che đậy bằng mỹ từ “thương”.
Tôi cho rằng sự phẫn nộ cần phải trúng chỗ. Phẫn nộ đối với hành động của Quảng Thị Kim Hoa là đúng, nhưng hình như chưa trúng. Cần phải phẫn nộ đối với hành động đánh đập trẻ của bất kỳ ai, kể cả người đó là cha mẹ ruột của trẻ, nhất là những người vốn đã “bất lực” trong việc dạy dỗ và xem đòn roi là phương thức sau cùng. Tức là, phải đấu tranh với chính cái thói quen, cái tâm lý dạy dỗ trẻ bằng roi vọt chứ không chỉ với hành động đánh đập cụ thể. Bên cạnh đó, cần đặt sự phê phán đối với chính quyền địa phương đã buông lỏng quản lý để xảy ra những sự việc đáng tiếc như vậy. Chẳng hạn, nên chuyển công tác khác đối với vị lãnh đạo phường Quyết Thắng, nên xảy ra vụ việc, khi vị này cho rằng trách nhiệm quản lý (cấp phép, theo dõi…) các nhóm trẻ gia đình thuộc về ngành giáo dục. Nói vậy, vị này không chỉ thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm mà còn không nắm vững quy định của pháp luật…
Tóm lại, cần có một sự bình tâm khi xem xét một sự việc. Nên tìm ra cội rễ của vấn đề và khắc phục nó từ gốc, hơn là chỉ giải quyết phần ngọn. Đối với các cơ quan truyền thông, khi thông tin cần có sự định hướng rõ ràng, tránh định hướng sai, để dư luận quan tâm nơi không cần thiết, hoặc “đánh trống bỏ dùi”…
HỌC TẬP GƯƠNG BÁC HỒ VỀ SỰ LO CHO CÁI CHẾT

Trong Di chúc, Bác Hồ căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Trong bảo thảo di chúc viết trước đó, Người còn nêu rõ: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn. Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây một một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ để nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão”.
Cao cả thay vị cha già dân tộc. Con người ấy không đòi hỏi bia đá tượng đồng, không yêu cầu phải xây lăng tẩm. Con người ấy chỉ mong sao tiết kiệm tiền của của nhân dân. Con người ấy suốt đời hi sinh cho dân tộc, cuối đời chưa hoàn thành mục tiêu thống nhất nước nhà, vẫn muốn gửi tro cốt yên nghỉ ở 3 miền của đất nước. Phải chăng để đồng bào 3 miền đều có dịp viếng Người? Hay chính Người muốn nằm trong lòng của 3 miền Bắc Trung Nam ruột thịt?
Chủ tịch Hồ Chí Minh cao thượng mà giản dị là thế!
Người Việt Nam quan niệm “sống có nhà thác có mồ”. Mồ được xem là mái nhà thứ hai của người khuất. Nhiều người khi còn sống chuẩn bị sẵn lăng mộ cho mình. Người giàu có thường xây mộ nguy nga. Con cháu họ cũng lấy việc xây mộ to là có hiếu, là giúp con cháu làm ăn hưng thịnh. Xưa, các bậc vua chúa còn huy động nhiều người để làm sẵn vài lăng mộ, để che giấu mộ thật của mình.
Dân gian lại có câu “ma chê cưới trách”, hàm ý trong đám tang, nếu không khéo, không đủ lễ nghi cầu kỳ, không rình rang thì người đời chê là con cháu bất hiếu. Do đó, có người dù khó khăn cũng cố làm đám tang cho người thân thật lớn, cho dài ngày để “con cháu nở mặt nở mày”, để được tiếng là có hiếu. Xưa, nhà giàu hoặc nhà quyền quý còn chôn theo cả người sống để “hầu” người chết ở thế giới bên kia.
Bao nhiêu đó để thấy rằng trong tâm thức người Việt ta, tang lễ là một việc hệ trọng, phải làm cầu kỳ, thậm chí hoành tráng. Đến bây giờ, điều này vẫn chưa thay đổi: tang lễ kéo dài ngày, kèn trống rộn ràng thâu đêm suốt sáng, nhang đèn luôn nghi ngút khói, khóc thuê inh ỏi, hàng mã đốt và rải dọc đường vô số… Thậm chí có người cậy thế lực, quyền hạn, coi việc tang là một hình thức kinh doanh bằng cách kéo dài để thu tiền phúng điếu. Việc coi ngày coi giờ cũng nhiều phức tạp. Ở thành phố, động quan vào giờ tốt nhằm vào giờ cao điểm, gây ách tắc giao thông… Tốn kém đã đành, còn ảnh hưởng đến sức khỏe và làm phiền hà nhiều người khác.
Năm 1997, Bộ Chính trị chính trị ban hành Chỉ thị 27 của về văn minh trong việc cưới, việc tang. Từ đó đến nay, nhìn chung, sự chuyển biến trong việc thực hiện cưới tang chưa rõ rệt. Nay học tập gương Bác Hồ, nên có những quy định mang tính “đột phá”. Chẳng hạn, đám tang không kéo dài quá 48 giờ; không thu tiền phúng điếu (nếu có thì dùng để làm từ thiện); nên thực hiện hỏa táng (điện táng) và cán bộ, đảng viên phải làm gương…
Hiện nay, nhiều người bệnh cần bộ phận cơ thể để cấy ghép; sinh viên ngành y thiếu xác để thực tập. Vì vậy, nên thực hiện cuộc vận động mọi người để di chúc hiến tặng cơ quan để cứu người và hiến xác cho y học. Việc làm này vừa làm giảm sự lãng phí, kéo dài ở các đám tang vừa giúp đỡ cho nhiều người khác. Xác sau khi hoàn thành việc nghiên cứu được hỏa táng, giúp đảm bảo vệ sinh môi trường.
Quan niệm của nhân dân về việc tang vẫn nặng lối truyền thống nhưng trong điều kiện hiện nay là không phù hợp. Vì vậy, các tổ chức đảng và các cấp chính quyền cần tuyên truyền rộng rãi những quy ước mới trong việc tang. Điều rất cần thiết là cán bộ, đảng viên phải đi đầu, cần để lại di chúc hiến tạng, hiến xác, hỏa táng sau khi qua đời. Có vậy, nhân dân mới mạnh dạn làm theo.
Bác Hồ là bậc vĩ nhân nhưng cuối đời vẫn có những mong muốn hết sức giản dị. Điều đó càng khiến Người trở nên cao quý hơn, khiến chúng ta khâm phục hơn. Học tập Người, không chỉ “nói” mà còn “làm”, không chỉ trong “sống” mà cả “sau khi chết”!

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

Thời sự và suy nghĩ

GIÁO DỤC YÊU NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI:
CẦN CỞI MỞ VÀ THẲNG THẮN!

Gần đây, liên tục xảy ra nhiều sự kiện mà theo nhận xét của nhiều người là đã “chạm niềm yêu nước” của một bộ phận không nhỏ người dân. Vấn đề về Hoàng Sa, Trường Sa tuy không mới nhưng đã được khuấy động bởi những động thái của phía Trung Quốc, làm dấy lên sự phản ứng của nhiều thanh niên trong và ngoài nước. Đã có một số hành động biểu tình mang tính tự phát. Sự việc này tất nhiên không làm thay đổi thực tế, thậm chí ít nhiều gây những khó khăn về ngoại giao, nhưng dường như đã “khuấy động” lòng yêu nước trong nhân dân, nhất là giới trẻ. Trên nhiều diễn đàn, các nhật ký điện tử, không ít ý kiến bày tỏ thái độ tích cực của thanh niên đối với đất nước. Tất nhiên, không phải qua sự kiện này mới có sự tích cực đó, nhưng rõ ràng đây là một chất xúc tác quan trọng để khơi gợi, làm rõ thêm tinh thần, trách nhiệm công dân của mỗi người dân, đặc biệt là thanh niên. Tức là, qua sự kiện này, người ta quan tâm đến vấn đề yêu nước hơn, có suy nghĩ và hành động cụ thể, thiết thực.
Ngay sau đó, báo Thanh niên đã đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, cũng gây xôn xao dư luận. Những vấn đề mà ông Lê Mạnh Thát nêu ra vẫn còn đang tranh cãi, có thể chưa thuyết phục được các nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng rõ ràng cũng đã khơi gợi lòng tự tôn, tự hào dân tộc. Chẳng hạn, vấn đề nhà nước, chữ viết, văn học… của người Việt trước thời kỳ nước ta bị nhà Đông Hán đô hộ (năm 43 sau công nguyên), tầm vóc trí tuệ và bản lĩnh của người Việt trong lịch sử… đều khiến người ta quan tâm. Có thể những cái gọi là “phát hiện” này chỉ dừng lại là suy luận nhưng rõ ràng cũng đã gợi mở cho mọi người nên nhìn nhận lịch sử bằng nhiều chiều hơn, đồng thời mạnh dạn nêu những khúc mắc, thậm chí “phản biện” lại những gì được cho là đã bị “đóng khung”. Rõ ràng sự kiện này đã làm nhiều người quân tâm đến lịch sử hơn, kích thích họ tìm hiểu lịch sử nhiều hơn.
Trở lại những vấn đề thực tế, Hoàng Sa và Trường Sa là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Vì một số lý do khách quan trong lịch sử, cha anh ta tạm thời không thể giữ trọn vẹn phần đất thiêng liêng này. Trách nhiệm của chúng ta bây giờ là không để mất thêm bất kỳ tấc đất nào, đồng thời kiên trì đòi lại những phần đất đã bị chiếm đóng.
Cũng trên tinh thần đó, tìm hiểu lịch sử, thậm chí là tìm hiểu lại lịch sử, không phải là để “bới tung” lịch sử, cũng không phải nhằm “đánh bóng” tên tuổi cá nhân nào, mà chính là để hiểu đúng lịch sử, từ đó rút ra những bài học tích cực cho hiện tại và tương lai. Càng tiếp cận với sự thật lịch sử, càng hiểu rõ nguồn cội của mình hơn, từ đó càng có trách nhiệm hơn trong việc gìn giữ và phát huy những vốn quý của dân tộc. Những điều đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển đất nước tích cực hơn.
Hiện nay, nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với thế giới. Đôi lúc, người ta có cảm giác vấn đề kinh tế quan trọng hơn truyền thống; việc của hôm nay cần thiết hơn chuyện ngày hôm qua. Nếu không chấn chỉnh nhận thức này sẽ thật nguy hiểm bởi đến lúc nào đó, một thế hệ người Việt quên mất nguồn cội, đánh mất bản sắc.
Trong điều kiện thế giới hiện nay, rõ ràng chúng ta không thể dùng biện pháp quân sự để lấy lại phần đất tạm thời mất, cũng như không thể chỉ trông cậy vào vũ lực để giữ những phần đất khác. Do đó, việc giáo dục tinh thần yêu nước cho người dân là điều hết sức quan trọng, để làm vũ khí gìn giữ cương thổ của cha ông, đồng thời tìm cách phục hồi chủ quyền những khu vực tạm thời mất quyền kiểm soát. Chính vũ khí yêu nước mới có sức mạnh gấp bội những phương tiện quân sự hiện đại. Để từ đó, mười năm, một trăm năm hay lâu hơn nữa, các thế hệ con cháu chúng ta, với truyền thống yêu nước nồng nàn được hun đúc từ ngàn đời qua và được các thế hệ hiện tiếp nối, sẽ bảo vệ được lãnh thổ mà hàng ngàn năm qua cha ông đã đổ máu để gìn giữ.
Trong bối cảnh đó, việc báo chí tiếp tục cung cấp những bằng chứng xác thực và khoa học để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là hết sức cần thiết. Cũng như việc nêu nhiều vấn đề lịch sử cần làm rõ để một mặt tiếp tục nghiên cứu, mặt khác cũng để giúp mọi người quan tâm và có hứng thú với lịch sử hơn. Tuy nhiên, bao nhiêu đó vẫn chưa đủ. Các cơ quan nhà nước trong hoạt động của mình cần thể hiện một cách triệt để tính lợi ích của quốc gia, của dân tộc, thay vì lợi ích cục bộ của mình. Báo chí, phim ảnh, văn học nghệ thuật, sân khấu… cần tăng cường khơi gợi, phát huy lòng yêu nước của người dân một cách mạnh mẽ hơn nữa.
Đặc biệt, chương trình dạy lịch sử trong nhà trường phải có sự thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp. Về nội dung, việc dạy sử không phải chỉ để các em nắm bắt các sự kiện, mà thông qua đó, cần khơi gợi tinh thần tự tôn, tự cường dân tộc, cần giúp các em học được các bài học giữ nước của cha ông, chứ không đơn thuần học các trận đánh. Về phương pháp, cách học đọc chép cần sớm thay đổi, vì học sinh sẽ chóng quên vì không có tính gợi mở cao. Cần kết hợp nhiều biện pháp, phương tiện như sách giáo khoa, phim ảnh, truyện lịch sử, âm nhạc… để phát huy thế mạnh của từng biện pháp, từ đó mới có tác dụng tổng hợp. Cần chú ý, thay vì chỉ giới thiệu những “điểm hay”, “một chiều” kiểu như “dân tộc Việt Nam có tính cần cù, siêng năng”, “dân tộc ta có tinh thần yêu nước thương nòi” hay “nước ta rừng vàng biển bạc”…, thì cũng cần “điểm qua” những “mặt trái” của lịch sử. Ví như, những sự kiện mất nước, những tấm gương xấu về phản quốc, những kinh nghiệm lịch sử từ những sai sót của tiền nhân…; qua đó ắt hẳn sẽ khơi gợi sự khám phá, sự nghiên cứu sâu hơn trong học sinh, đồng thời giúp các em có cái nhìn đa diện hơn về lịch sử. Đây là cách mà người Nhật Bản giáo dục con cái của họ, để bây giờ họ vẫn tự hào là quốc gia có tinh thần dân tộc cao và sự vượt khó đáng nể.
Tóm lại, giáo dục yêu nước trong điều kiện mới không nên đi theo lối cũ. Phải thay đổi tư duy, đề cao sự cởi mở, thẳng thắn, trao đổi nhiều chiều; kết hợp thuyết phục với khơi gợi; kết hợp hội nhập, tiếp thu với gìn giữ và phát huy. Cần vận dụng “dĩ bất biến ứng vạn biến”, yêu nước là bất biến nhưng trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh có cách thức thể hiện yêu nước khác nhau, sao cho phù hợp nhất, hiệu quả nhất.

Câu chuyện văn hóa

TRÒ CHUYỆN BẰNG… NGÓN TAY!

1. Cô bạn tôi là giảng viên một trường cao đẳng có lần kể: “Lãnh đạo phân công em làm việc cùng với một giảng viên trẻ khác nhưng hai người hầu như chưa có dịp nào nói chuyện. Hôm nào có giờ cô vào trường, gật đầu chào mọi người nếu không lên lớp thì cô ngồi rịt ở máy tính, không nói gì với ai cả, chỉ nghe những ngón tay gõ xuống bàn phím rào rào. Muốn trao đổi gì cũng ngại quá! Tình cờ một lần, em đang online thì cổ gửi tin nhắn: “Hôm nay L. có mấy tiết?”, thế là em biết chỉ có thể “trò chuyện” với cô bằng cách… chat”.
Một anh bạn tôi làm việc ở sở nọ nhân chuyện này cười nói: “Tớ mới về, những ngày đầu vào cơ quan đều thấy mọi người ngồi chăm chú bên máy tính, tưởng họ làm việc tích cực lắm, ai dè đang chát chít!”…
Trong thời buổi này, đố mấy người làm việc mà không gắn với máy tính và những chức năng online của nó. Đọc báo, nghe nhạc, xem phim, tìm kiếm thông tin là phổ biến. Internet cũng là phương tiện để mọi người trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau qua các công cụ như chat, gửi thư điện tử, thậm chí qua các trò chơi game trực tuyến. Rõ ràng phương thức giao tiếp truyền thống đã thay đổi, có hình thức đã mờ nhạt nhiều (như gửi thư tay), có hình thức đang “biến tướng” (như chat là trò chuyện trực tiếp nhưng phải thông qua một chiếc máy tính)…
2. Mấy năm trước, người ta đã nói nhiều đến “thế hệ ngón tay cái”, “hội chứng ngón tay cái”… để chỉ một thế hệ người xem việc sử dụng điện thoại di động cần thiết và bình thường như việc ăn uống, hay những “tật” liên quan đến việc sử dụng ngón tay này quá nhiều… Với chiếc điện thoại di động, phương thức giao tiếp và thông tin liên lạc đã đạt đến một “tầm cao mới”, vì gần như có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi, mọi hình thức. Nếu ngày xưa, muốn ngỏ lời yêu với cô bạn ở nơi xa một cách cầu kỳ, lãng mạn thì có thế gửi cánh hoa hồng ép khô cùng bức thư qua đường bưu điện thì ngày nay chỉ cần vài thao tác, một bông hồng xinh xắn sẽ được chuyển đến “đối tác” trong tích tắc, cước điện thoại đôi khi còn rẻ hơn tiền dám tem…
Hồi còn đi học, đến sinh nhật, tôi hay được tặng những cánh thiệp xinh xinh, có hình ảnh, hoa văn đẹp mắt, có khi được chính người bạn thiết kế theo đúng “gu” của tôi. Những cánh thiệp đó tôi luôn cất kỹ, lâu lâu mở ra xem, một thời tuổi trẻ với bao nhiêu kỷ niệm đẹp bỗng ùa về. Còn bây giờ, đến sinh nhật, “tính tinh tình tình tinh”, mở tin nhắn trong điện thoại, lời chúc năm này cũng như năm trước, chắc của tôi cũng như của người khác! “Đồng phục”, “cào bằng”! Hay mở mail, thể nào cũng có vài cái e-card được gửi tới, có hình, có nhạc nhưng tay tôi chẳng sờ tới, đôi khi muốn áp vào ngực thì cũng chẳng được!
3. Con người đã “đi ngược” không ít điều. Ngày xưa nghèo khó phải ở nhà tranh, nhà lá, tiến dân đến nhà ngói, nhà tôn, nhà mái bằng… Bây giờ nhiều người chọn nhà lá theo kiểu truyền thống cho mát, cho… sành điệu. Cách đây trên dưới 20 năm, những chiếc mobylette thường dành cho những người có tuổi hay những người chưa đủ tiền mua được xe cub đèn vuông thì bây giờ ai chạy những chiếc xe cổ điển này cũng là sành điệu.
Trong giao tiếp, cũng có một sự “đi ngược”. Khi ngôn ngữ con người chưa phát triển, họ dùng tay để ra ký hiệu, hoặc vạch trên mặt đất, đánh dấu ở cây rừng… để trao đổi thông tin. Bây giờ, ngôn ngữ phát triển vượt bậc, con người lại dùng tay để “ra dấu” trên những công cụ hiện đại để truyền tin cho nhau. Chỉ có sự khác biệt: ngày xưa người ta buộc phải làm thế vì không có cách nào khác, còn ngày nay con người có nhiều cách lựa chọn nhưng họ đã chọn cách này vì sự tiện lợi của nó. Rõ ràng, nếu đặt sự tiện lợi làm tiêu chí hàng đầu, ta không thể đòi hỏi những sự giao tiếp, sự thông tin thực sự có “hồn” được!

Thứ Ba, 11 tháng 3, 2008

Tạp bút

HỌP ĐỒNG HƯƠNG

Tuần rồi, đồng hương Bến Tre tại TP.HCM lại tổ chức họp mặt như thông lệ. Bến Tre là một tỉnh nghèo, bà con tứ tán khắp nơi, thành ra họp đồng hương lần nào cũng đông cả. Ngoài sảnh, từng nhóm người trò chuyện rôm rả. Họ là vốn cùng ấp cùng xã, lâu ngày do làm ăn, công tác định cư ở nơi khác, nay có dịp gặp lại. Có những người vốn không biết nhau ở quê nhưng lại gặp nhau ở nơi ở mới. Và có cả những người chỉ quen nhau qua những lần họp trước.
Ngay trước cửa vào hội trường, ban liên lạc đồng hương 8 huyện thị đặt bàn chào đón. Nhiều người đăng ký tên họ, địa chỉ để lần họp sau hoặc có việc gì thì liên lạc. Nhiều người khác đến đóng góp ủng hộ quê nhà. Không ít người chỉ len vào xin một tờ Đồng khởi xuân hoặc mấy bản tin của các huyện thị. Nom ai cũng vui vẻ, phấn khởi.
Trong hội trường, mọi người vừa xem văn nghệ vừa chuyện trò. Các ghế đã kín chỗ, lãnh đạo tỉnh từ Bến Tre lên cũng đã có mặt, nhưng buổi họp vẫn chưa bắt đầu có lẽ vì ban tổ chức muốn cho bà con có thêm thời gian hàn huyên. Rồi buổi họp cũng bắt đầu. Đại diện ban liên lạc đồng hương báo cáo tóm tắt những hoạt động của năm 2007. Bà con đồng hương huyện thị nào cũng có nhiều đóng góp xây dựng quê hương. Không chỉ qua số tiền quyên góp, những đợt khám chữa bệnh miễn phí, những phần quà, những cây cầu, những phòng học… mà còn cả tấm lòng qua những lời phát biểu hay bài thơ chân tình đầy xúc động. Rồi lãnh đạo tỉnh phát biểu. Ông chủ tịch nêu bật tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và định hướng phát triển trong thời gian tới. Khi ông nói đến công trình cầu Rạch Miễu, mọi người im lặng lắng nghe, sau đó nhiều tiếng thì thầm tỏ ra thông cảm với sự chậm trễ của cây cầu này. Cuối cùng, bằng lời lẽ rất khiêm nhường, ông cảm ơn tình cảm quý báu của bà con đồng hương và mong mỏi bà con tiếp tục giúp đỡ tỉnh nhà ngày càng phát triển…
Đợi lúc mọi người ra về và nhận lấy một phần quà là bánh tráng sữa và kẹo dừa hiệu Thanh Long nổi tiếng, tôi chú ý quan sát, dường như tuyệt đại đa số là người lớn tuổi, từ trung niên trở lên, rất hiếm thanh niên. Tôi băn khoăn, không biết có phải thanh niên vì bận rộn làm ăn mà ít quan tâm đến họp đồng hương chăng, hay vì tình đồng hương của những người trẻ tuổi mờ nhạt quá, hay đến đó cũng chẳng gặp ai quen, hay nghĩ rằng họp đồng hương chẳng qua là để tỉnh vận động đóng góp? Chắc điều nào cũng có. Riêng tôi, niềm vui của buổi họp đồng hương thật đặc biệt, nó trộn lẫn cảm xúc khi nhìn thấy xe biển số 71 của tỉnh nhà, thấy tờ báo Đồng khởi, nghe giọng nói chân phương, mộc mạc… Thú thật, dự họp đồng hương, tôi không có đóng góp gì cho quê hương mà chỉ để có được giây phút trong không gian của bà con đồng hương, cho thỏa nỗi nhớ quê của mình!
Tôi ước sao có thể truyền được tình cảm này cho con tôi, một đứa bé sinh ra ở thành phố!

Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2008

Kỷ niệm gia đình

BÀI HỌC CHƠI CỜ

Ba tôi hay mượn chuyện cũ để dạy con. Một trong những chuyện mà tôi nhớ nhất là bài học về đánh cờ tướng. Hồi còn thanh niên, ba tôi chơi thân với chú Hòa. Hai người hay đánh cờ với nhau. Sức cờ của ba tôi không bì được với chú Hòa nên đánh thua luôn, có khi ba bốn ván liền. Thậm chí có ván còn bị ăn hết quân. Ván nào may lắm thì mới cầm hòa hoặc thắng được thì cũng may thôi! Thắng trận, chú Hòa thường “gáy”, ba tôi rất tức tối.
Một bữa sang nhà không gặp chú Hòa mà có bác Hai, anh của chú ở nhà. Anh em vui vẻ đem cờ tướng ra chơi. Bác Hai chơi rất kỹ, chậm rãi, nước nào cũng chắc chắn. Bữa đó hòa, mỗi người thắng một ván. Những lần sau, đánh với bác, ba tôi thua nhiều hơn thắng, nhưng chỉ thua sít sao, 2-1 hoặc 3-2, thường chỉ hơn một vài quân chốt. Ba tôi tuy thua nhưng cũng lên cờ và thấy rất hài lòng. Một lần cao hứng ba tôi nói: “Sức cờ của anh chắc không bằng thằng Hòa?”. Bác Hai cười ngất: “Trời, cờ thằng đó mới sạch nước cản. Sách cờ ở nhà nó mới đọc được có một nửa hà!” Nói rồi bác chỉ chồng sách cờ về khai cuộc, cờ thế, cờ tàn, các ván cờ hay để trên đầu tủ cho ba tôi xem. Ba tôi không tin: “Anh nói sao chứ thằng Hòa nó ăn tôi như ăn gỏi”. Bác Hai lại cười: “Chú không tin hả, tôi chấp chú con xe đánh thử”. Ván đó, tuy nhiều hơn quân xe nhưng cờ ba tôi kẹt cứng, chẳng triển khai tấn công được, muốn thí quân cũng không xong, đành thúc thủ. Ba tôi phục sát đất.
Ba tôi bảo: qua đánh cờ mà biết tính người; chơi cờ cũng là thể hiện cách sống. Khó khăn không lùi bước, mạnh dạn tiến lên nhưng cũng có lúc biết lui về phòng thủ; thắng không kiêu, bại không nản; gặp kẻ mạnh không sợ, thấy kẻ yếu không khinh… Có lẽ vì học được điều này, tôi giống ba ở chỗ đánh cờ hay lên tượng trước, rồi thả mã lên lần lần, giăng pháo hai bên, đưa xe giữ hà, một cách chậm chạp, khá chắc chắn. Nhiều người bảo đó là kiểu “cờ già”. Có lẽ đúng!
Ba tôi cũng hay nhắc chuyện chú Hòa. Chú rất giỏi võ, có lần ở bến xe, hai tay ôm hai con gà đá mà đánh nhào hai gã móc túi. Ngoài món đá gà, chú cũng mê đánh bài nữa. Ba nói: “Nó luôn muốn thắng và háo thắng để lấy phần của người khác thành ra cuộc đời sướng ít buồn nhiều, vui ngắn sầu lê thê…”
Tôi rất tâm đắc bài học làm người từ chuyện đánh cờ này!

Thời sự và suy nghĩ

ĂN VÓC HỌC HAY!

Cha ông ta đã đúc kết được một kinh nghiệm rất hay về học tập. Đó là “ăn vóc học hay”, tức là ăn khỏe thì mới học giỏi, hàm ý là phải ăn cho no mới có sức học tập. Dân gian cũng có không ít chuyện về điều này.
Thế nên chẳng có gì lạ khi nhiều nơi học sinh phải bỏ học vì thiếu ăn. Dù người ta đã đưa ra nhiều lý do, như chương trình học quá nặng, biện pháp “siết” chất lượng nên nhiều học sinh học không nổi, sự thiếu quan tâm của gia đình, giáo viên chưa sâu sát… Tất cả những lý do đó đều có, đều đúng (nhưng với từng nơi thì có mức độ khác nhau) nhưng dường như chưa thuyết phục bằng lý do thiếu ăn. “Có thực mới vực được đạo”, “dĩ thực vi thiên” (hoặc “tiên”)… chẳng phải cũng là những đúc kết thuyết phục khác về tầm quan trọng của cái ăn hay sao? Bởi vậy, khi cái bụng chưa no thì thật khó mà nghĩ ngợi đến việc học chữ, đến tương lai.
Thực ra “thiếu ăn” không đơn giản chỉ là vấn đề thiếu cơm gạo để cho no bữa. Đó là sự nghèo khó, tuy đã giảm nhiều nhưng không phải là đã hết phổ biến hiện nay, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ở đó, bà con chỉ chăm bẳm vào ruộng vườn nhưng nhiều nơi nông dân thiếu đất canh tác, thiếu vốn để đầu tư, thiếu cán bộ hướng dẫn kỹ thuật... Ở đó, giá cả nông sản bấp bênh, có khi thu không đủ bù chi hoặc lời lãi rất ít… Ở đó, sự quan tâm, định hướng, hỗ trợ của chính quyền địa phương còn hạn chế, thậm chí còn nông dân buộc phải đóng nhiều khoản phí bất hợp lý… Ở đó, do cơ sở hạ tầng còn thấp kém, sự đầu tư của các doanh nghiệp còn ít, mức sống và chất lượng sống của người dân thấp, dẫn đến dân trí cũng chưa cao… Tất cả những điều đó ít nhiều làm người dân xem nhẹ việc học tập của con cái, coi việc học biết chữ hoặc học cao hơn cũng vô ích, hoặc không có ý nghĩa bằng việc kiếm sống. Đã vậy, đầu tư cho con em đi học không chỉ vừa tốn kém mà còn mất đi một người lao động trong gia đình. Tức là, việc đi học vốn đã không có lợi mà còn trở nên có hại.
Nêu ra những điều đó không phải đổ lỗi cho người dân, mà lẽ ra lỗi này thuộc về chính quyền các cấp ở địa phương. Chính Bác Hồ đã nói: Nếu dân đói thì chính phủ có lỗi… Lỗi ở đây không chỉ sự yếu kém, hạn chế trong việc quản lý, định hướng để nâng cao đời sống của người dân mà còn có sự quan liêu, xa dân. Thử hỏi, có phải chủ tịch xã nào cũng nắm rõ xã nhà có bao nhiêu hộ nghèo, nắm rõ hoàn cảnh của từng gia đình để có biện pháp hỗ trợ cho phù hợp, biết có bao nhiêu trẻ trong độ tuổi đi học, có bao nhiêu trẻ có nguy cơ bỏ học…? Thử hỏi, vai trò của hội đồng giáo dục địa phương, vốn luôn có người đứng đầu địa phương làm chủ tịch hội đồng, phát huy đến đâu trong việc giúp trẻ em trên địa bàn học tập tốt (thay vì chỉ làm mỗi việc vận động suông)? Thử hỏi, có lãnh đạo địa phương nào từ chức hay cảm thấy có lỗi khi trên địa bàn có nhiều trẻ em thất học hoặc phải bỏ học giữa chừng? Thử hỏi, việc thực hiện khẩu hiệu “giáo dục là quốc sách hàng đầu” được các địa phương thực hiện ra sao, hay chỉ cứ nêu trong các văn bản, nghị quyết rồi để thực tế ra sao thì ra?...
Sẽ tạo ra một vòng luẩn quẩn: nghèo đói thì thất học, thất học lại dẫn đến nghèo đói. Sẽ thật khó chấm dứt cái vòng này nếu không có sự chủ động, tích cực và đột phá của chính quyền các cấp. Trước hết phải giải quyết cái ăn của bà con, đừng để trẻ bụng đói đến trường, cũng đừng để cha mẹ nhịn đói mà cho con đi học. Khi đó cái chữ thật khó “vào”, mà cũng khó trở thành động lực mang tính phổ biến để nâng cao chất lượng giáo dục, tức đó thúc đẩy nâng cao đời sống kinh tế.
Chuyện ngụ ngôn kể rằng tên phú thương đã quát mắng con lừa thậm tệ vì y cho rằng chỉ có bỏ chiếc áo lên lưng mà con lừa đã sụm. Hắn ta không thèm để ý rằng trước đó hắn đã chất lên con lừa đủ thứ cho vừa lòng tham của mình. Căn bản là con lừa đã bị quá sức. Tôi tin rằng bao nhiêu khó khăn của người dân hiện nay là có thực (nhất là trong lúc giá cả đang leo thang như hiện nay), nên thêm một khoản học phí cho con em (mà học phí cũng đang có đề án tăng) cũng đã quá sức với họ.
Hãy giúp sức cho người dân của mình. Hãy cho trẻ được ăn no trước khi đến trường. Chẳng phải ngay cả Phù Đổng là con nhà trời khi vươn vai trở thành người khổng lổ cũng phải ăn một lúc mấy nồi cơm, mấy nong cà đó sao?

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2008

Thời sự và suy nghĩ

TỪ CHUYỆN TĂNG GIÁ BÁO

Từ tháng 3, đồng loạt các nhật báo Tuổi trẻ, Thanh niên và Người lao động tăng giá bìa từ 1.300đ/tờ lên 1.800đ/tờ, tức là 500đ/tờ. Xét về mức tăng, đây là sự tăng “chóng mặt”, với tỉ lệ 38,46%, tức cao hơn nhiều so với giá vàng, giá xăng dầu hay nhà đất trong một lần tăng! Tuy nhiên, nếu chia bình quân cho 10 năm (thời gian tồn tại giá 1.300đ của báo Tuổi trẻ) thì mỗi năm chỉ tăng có 3,846%, tức thấp hơn nhiều so với lạm phát, càng thấp hơn nhiều so với giá nhà đất, giá vàng, hay giá xăng dầu. So sánh vậy để thấy, sự trượt giá là không hề nhỏ, cũng như tính ổn định của giá các tờ báo này.
Điều đáng nói là khi quyết định tăng giá báo, BBT các báo đều có thư gửi bạn đọc “xin phép được tăng giá” với tinh thần mong được sự thông cảm và ủng hộ của người đọc. Các báo cũng không “hồi tố” đối với những người đã đặt báo dài hạn mà vẫn giữ giá cũ. Trong khi đó, giá cả những mặt hàng, các dịch vụ thiết yếu lại tăng theo kiểu “đùng một cái”, hoàn toàn bất ngờ khiến không ai trở tay kịp. Chẳng hạn giá xăng dầu, có khi chính lãnh đạo Bộ Tài chính còn tuyên bố chưa tăng giá thì “đùng một cái” giá tăng mười mấy phần trăm ngon ơ, làm hàng loạt hàng hóa khác cũng “nhảy theo”.
Dẫu biết nền kinh tế nước ta đang mang tính thị trường, giá cả vận động theo thị trường, với quy luật cung cầu khắc nghiệt. Nhưng thực tế, mức thu nhập của người lao động lại không theo quy luật cung cầu ấy, cứ “tà tà tiến”, năm này tháng nọ mà chẳng lên được bao nhiêu. Chẳng hạn, một chuyên viên (trình độ đại học), lương khởi điểm là 2,34 (đã qua tập sự), 3 năm sau mới tăng được một bậc nữa, lên 2,67, 3 năm tiếp theo tăng lên 3,06. Nếu tính trong 6 năm ấy, kể từ năm 2001, lương tối thiểu tăng từ 210.000 lên 540.000đ, thì người ra trường lãnh lương từ 390.600đ (thời điểm năm 2001, hệ số khởi điểm chỉ có 1,86) thì năm 2008 lĩnh được 1.652.400 đ, tăng 4,23 lần, bình quân 70% năm. Mức tăng này tưởng là cao nhưng kỳ thực không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống. Có thể thấy sự cố gắng của chính phủ rất lớn đối với người lao động trong khu vực nhà nước, thế nhưng người lao động tự do, người làm việc ở khu vực tư nhân, nông dân… thì ai quan tâm đến họ? Vai trò điều tiết của nhà nước càng lúc phải càng thể hiện rõ nét hơn, để không chỉ người dân không bị sốc với những sự tăng giá đột ngột mà chính là giúp họ có tích lũy, nâng cao chất lượng cuộc sống, tái sản xuất và học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
Xét kỹ, tăng giá báo thêm 500đ (mua lẻ sẽ là 2.000 – 2.500đ) thực ra không đáng kể. Nhưng đó là một “giọt nước làm tràn li” trong cơn bão tăng giá hiện nay. Dường như đã đến lúc ta phải sống chung với bão, có điều ta không hề biết bao giờ cơn bão này sẽ tan vì không có cơ quan dự báo nào có khả năng dự đoán tình hình giá cả của ngay mai!

Thời sự và suy nghĩ

CỰC ĐIỂM GIÀU – NGHÈO

Thông tin ông chủ của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đang xúc tiến mua cổ phiếu và trở thành cổ đông lớn nhất CLB bóng đá Arsenal đã làm không ít người phấn khởi. Sau hình ảnh quảng cáo Hoàng Anh Gia Lai – Việt Nam xuất hiện thường xuyên trong trận đấu ở sân Emirates của Arsenal, sắp tới nhiều người sẽ càng tự hào hơn khi một người Việt Nam có thể tham gia ban lãnh đạo thậm chí là chủ tịch CLB hàng đầu của nước Anh này.
Trước đó, trong bảng xếp hạng 100 người giàu nhất Việt Nam theo giá trị cổ phiếu do báo điện tử VnExpress thực hiện, đã có nhiều sự xáo trộn lớn, với không ít sự “đổi ngôi” ngoạn mục. Trong đó, vị trí “giàu nhất” với hơn 6.000 tỉ đồng (gần 400 triệu USD) là ông Đặng Thành Tâm – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC), thành viên HĐQT Công ty Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo (ITA), khiến người ta dễ dàng suy ra rằng ở nước ta hiện nay có thể đã có tỉ phú đôla, khi mà ai cũng biết rằng ngoài tài sản bằng cổ phiếu thường họ có không ít bất động sản hoặc vàng. Hầu như không “đại gia” nào không đầu tư vào nhà đất; còn trong lúc này, cơn sốt của nhà đất và vàng chưa biết khi nào sẽ hạ nhiệt, tức là giá trị của khối tài sản này sẽ còn tăng nữa. Tức là, sẽ còn nhiều người chẳng làm gì cả nhưng tài sản vẫn lớn thêm từng ngày. Và, sự lớn thêm này hoàn toàn không nhỏ.
Trong khi đó, giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu và nhiều loại dịch vụ vẫn không ngừng tăng mỗi ngày. Thép xây dựng, phân bón, cước vận chuyển… là những thứ tăng “phi mã”. Giá vàng và giá nhà đất liên tục tăng cũng tạo ra hệ quả dây chuyền cho nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác. Thêm vào đó, mỗi khi giá xăng dầu “hắt hơi” thì hàng loạt mặt hàng và dịch vụ phải “cảm cúm”. Chẳng hạn, với mức tăng từ 1.500đ đến 3.700đ/l xăng dầu từ ngày 25-2 vừa qua, hàng loạt mặt hàng và dịch vụ cũng tăng giá theo, với mức ít nhất cũng vào khoảng 10%. Những mặt hàng “chưa kịp” tăng giá thì chất lượng cũng giảm đi so với trước đây. Với thu nhập của đại bộ phận người lao động (công chức, công nhân, nông dân, người làm nghề tự do…) hầu như không tăng, thì qua đợt tăng gia xăng dầu này, thu nhập của họ bỗng nhiên mất đi thêm ít nhất 10%. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống cũng như nguồn vốn để đầu tư tái sản xuất và kinh phí để học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, tay nghề của một bộ phận không nhỏ người dân.
Ngay cả những người đầu tư chứng khoán theo kiểu “cò con” hoặc “ăn theo” cũng gặp khó khăn do thị trường chứng khoán bị các thị trường vàng, nhà đất và cả tiền gửi ngân hàng “qua mặt”. Nhiều người do vay mượn tiền để đầu tư cổ phiếu, nay càng nguy hiểm hơn.
Ngoài những “đại gia”, nhiều người làm thương mại, dịch vụ tuy có bị động nhưng có thể có lợi từ sự tăng giá chung. Bởi vì sự tăng giá hàng hóa và dịch vụ của họ ít nhiều mang tính chủ động, theo kiểu “nước lên thuyền lên”. Không chỉ vậy, một bộ phận còn biết “đón gió” mua dự trữ hoặc ép giá người bán hoặc tăng giá đột biến với người mua thì lợi nhuận của họ còn cao hơn. Thiệt thòi hơn cả là những người nghèo, vì họ không có sản phẩm đến bán ra đề hưởng sự tăng giá trong khi phải mua với giá cao. Trong đó, một bộ phận nông dân phải gặp rất nhiều khó khăn do nông sản của họ không phải là mặt hàng được tiêu thụ mạnh nhưng phải mua vừa vật tư nông nghiệp vừa hàng tiêu dùng với giá cao. Những người này hiện nay có rất nhiều…
Không khó để nhận ra rằng người giàu – người có tiền, có vốn, có vàng, có bất động sản… - là những người được lợi và họ ngày càng giàu hơn. Những người nghèo thì càng khó khăn hơn khi không những không tích lũy được mà còn phải chi tiêu nhiều hơn cho sinh hoạt hàng ngày. Tức là khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng giãn ra, với mức cực điểm từ trước đến nay và chắc chắn sẽ không dừng lại. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề xã hội khó lường trước.
Trong tình cảnh này, các chính sách vĩ mô để điều tiết giá cả và ổn định nền kinh tế là rất quan trọng. Về lâu dài, cần có sự phân phối lại thu nhập xã hội thông qua chính sách thuế thu nhập cá nhân, để người giàu phải đóng thuế nhiều hơn bù đắp cho những thiệt thòi của người nghèo. Có thể thấy Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực từ năm 2009 nếu áp dụng ngay từ bây giờ cũng đã thấy kém tính khả thi bởi khả năng dự báo thấp của nó. Vì vậy, các nhà làm luật cần có sự nghiên cứu thấu đáo hơn để sớm sửa đổi luật này thành một luật mang tính nhân văn và chiến lược hơn.