Thứ Hai, 26 tháng 5, 2008

Tạp bút

NHỚ MỘT NGƯỜI BÁN RONG…

Tôi vẫn nhớ như in một người bán cá rong quanh vùng. Ông đi một chiếc xe đạp sườn ngang đã cũ, không có phanh và vè chắn. Để hãm xe, ông đạp vào một chiếc dép cũ để tạo sự ma sát trên lốp xe...
Hôm ấy, ông ta đi bán ngang nhà tôi. Con đường trước nhà nguyên là đường mòn do xe chở gỗ tạo nên, thường lầy lội và trơn trợt. Nghe tiếng rao, mẹ tôi gọi ông ta vào để mua cá. Vậy là sắp có một bữa khá hơn đây! Dù cá gì thì cũng vẫn là cá, vẫn hơn những “món” quen thuộc là đậu hủ, nước tương và... “thịt cọp”. Món sau cùng là một thức ăn phổ biến, bao gồm “hỗn hợp” muối hột và... ớt. Đem hai thứ ấy giã “cộp, cộp” để thành ra “thịt cọp”!
Hôm ấy ông ta bán cá sặt. Vì không có tiền lẻ nên hẹn với ông trưa ghé lại để trả tiền. Người đàn ông đi khỏi, mẹ tôi đem cá rửa sạch và để cả đầu mà bắc lên kho. Không có nước mắm nên mẹ tôi dùng muối hột và cho vào một chút nước tương làm nước màu. Đường và bột ngọt cũng chẳng có. Chưa ăn cũng biết là mặn lắm!
Lúc người bán cá trở lại, anh em chúng tôi đang ngồi chơi trên gác. Thấy sẵn đôi đũa trong nồi cá đang đặt trên bếp, ông đã gắp ăn vụng một con. Chúng tôi đều không lên tiếng và chỉ ngạc nhiên nhìn. Khi thối tiền xong, ông ta nói với mẹ tôi: “Chị cho em xin miếng nước”. Mẹ tôi lấy chén rót nước cho ông ta và không tỏ thái độ gì.
Khi người bán cá đi khỏi, chúng tôi mới tụt xuống kể lại chuyện “ăn vụng” cho mẹ nghe. Mẹ tôi thoáng cười và nói: “Mẹ biết rồi!”. Tôi ngạc nhiên vì làm sao mẹ biết thì mẹ nói: “Mẹ đoán được vì thấy chú ấy hơi lúng túng. Mà chắc cũng vì món cá kho mặn quá nên chú phải xin nước uống!” Hẳn người bán hàng rong kia đang đói bụng và không cầm lòng được trước mùi cá kho bốc lên hấp dẫn. Hẳn người ấy không thể biết rằng mẹ tôi có một sự nhạy cảm đặc biệt dựa trên một sự quen thuộc từ món cá kho mặn! Và hẳn người ấy cũng không ngờ món cá mặn như vậy…
Tôi nghe mẹ thở dài.
Đã hơn hai mươi năm từ những năm gia đình tôi sống rất chật vật nơi đất khách. Anh em tôi được học những bài học bổ ích từ sự gian khổ, đó là những bài học đầu tiên về sự chịu đựng, về ý chí vươn lên không ngừng. Và người bán rong đó là một hình mẫu sinh động.
Nhiều năm trôi qua, gia đình tôi có nhiều thay đổi. Đôi lần nhằm bữa ăn nêm mặn, tôi chợt nhớ câu chuyện về người đàn ông bán rong năm cũ. Hình ảnh người bán rong và câu nói: “Chị cho em xin miếng nước” lại hiện lên trong tâm trí. Câu chuyện của cái buổi sáng sình lầy và có mùi cá kho mặn xẵng ấy như diễn ra ngay trước mắt tôi. Tôi không bao giờ gặp lại người đàn ông đó nhưng câu chuyện này sẽ đi cùng tôi đến hết cuộc đời. Đó cũng là những khát vọng khôn nguôi, để giúp tôi có thêm động lực để phấn đấu không ngừng nghỉ vì một tương lai tốt đẹp hơn, không chỉ cho bản thân mình.

Tạp bút

NGỦ Ở QUÊ NHÀ

Từ hồi đi học đại học, rôi không có nhiều dịp ngủ ở nhà nữa. Có khi, những giấc ngủ ở quê nhà vội vã, thành ra tôi chưa kịp cảm nhận được đầy đủ sự ấm áp của quê nhà.
Đêm rồi gạt qua mọi phiền muộn, tất bật của thành thị, tôi có một đêm quê nhà thật sự đáng nhớ. Một giấc ngủ được ru êm êm bởi tiếng giun dế nỉ non khoan nhặt. Đệm vào đó là tiếng chó sủa ma từng nhịp một, xen những tiếng vọng từ xa là tiếng của bầy chó của nhà. Tiếng gió xạc xào ngoài bụi chuối đầu hè để hoàn chỉnh thêm bản hòa tấu của tự nhiên.
Nửa đêm trở mình, tôi phát hiện một màu bàng bạc lọt qua cửa sổ. Thì ra trăng trung tuần vành vạnh. Tôi khe khẽ mở cửa. Một mùi hương phảng phất ùa vào. Đó là hương thơm được trộn giữa hoa cà phê và hoa bưởi. Gió khuya se se. Tôi hít một hơi thật sâu đầy lồng ngực. Một cảm giác khoan thai, thư thái thật đặc biệt. Giá như là thi sĩ, tôi có thể viết những câu thơ trác tuyệt để miêu tả cảnh đẹp đêm nay và ghi lại cảm xúc của mình. Chợt nhớ “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cuối đầu nhớ cố hương”…
Tận hưởng khoảnh khắc tuyệt vời, rồi tôi cũng tìm lại giấc ngủ. Vẫn tiếng giun dế, vẫn tiếng sủa vang vang, vẫn tiếng xạc xào không ngừng. Như bất tận.
Khuya. Trong giấc ngủ chập chờn là tiếng gà eo óc gáy. Hai tiếng ò ó o xa xa, ba tiếng vỗ cánh phành phạch và sau đó là tiếng ò ó o ngay sau chái nhà. Tôi không biết khoảng cách giữa ba tiếng gáy này cách nhau bao xa và kéo dài bao lâu, nhưng cứ đều đặn lặp lại. Rồi có tiếng lục đục dưới bếp. Tôi biết ba mẹ đã dậy. Nấu nước, nấu nồi thức ăn cho bầy chó, sắc thuốc… là những việc đầu ngày của hai người. Giấc ngủ của tôi vẫn chập chờn, trong tiếng chuyện trò loáng thoáng. Tôi không rõ là chuyện gì nhưng tôi chắc rằng lại những chuyện xưa cũ. Ba mẹ đã vào tuổi “hồi đó” mấy năm rồi…
Khi tôi mở mắt, trời đã sáng trắng. Vậy là tôi đã có trọn một giấc ngủ êm đềm ở quê nhà. Hôm nay tôi lại trở về thành phố. Những giấc ngủ sẽ có tiếng xe rầm rập, tiếng còi tàu inh ỏi, tiếng hát karaoke từ hàng xóm vọng đến… Bất chợt nhìn ra cửa sổ, lúc nào cũng trăng trắng ánh đèn, không rõ đêm nào có trăng nữa… Mới nghĩ đến đó, tôi lại ước ao có thêm một đêm ngủ ở quê nhà nữa…

Thời sự và suy nghĩ

XIN ĐỪNG GÂY THÊM ÁP LỰC CHO NGƯỜI THẦY!

Tôi hoàn toàn không ủng hộ biện pháp giáo dục bằng bạo lực, cả trong gia đình và nhà trường. Ai đó đã nói rằng, dùng đến bạo lực tức là ta đã bất lực trong việc giáo dục. Trong thực tế, với truyền thống xã hội ta, biện pháp roi vọt với tính chất răn đe (hơn là nhục hình gây đau đớn thể xác và nhục nhã về tinh thần) vẫn còn tồn tại và xét ở góc độ nào đó vẫn có những kết quả nhất định. Dù vậy, việc thầy giáo Đoàn Hoài Thanh (Tiền Giang) đánh học sinh đến gãy xương là điều thật khó chấp nhận và tha thứ!
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng làm nghề giáo ở nước ta hiện nay có rất nhiều áp lực, đáng được sẻ chia, thông cảm. Gia đình tôi có nhiều anh em làm giáo viên nên tôi ít nhiều hiểu được tình cảnh “trên đe dưới búa” của nghề này. Không giống như nhiều nghề nghiệp khác, nghề giáo được xã hội kỳ vọng và trọng vọng nên xã hội cũng có yêu cầu, đòi hỏi không nhỏ đối với người thầy. Dạy học không đơn thuần là công việc kiếm sống mà là một thiên chức cao cả, có nhiệm vụ đào tạo ra những thế hệ người có đủ trình độ văn hóa, phẩm chất, đạo đức để tham gia xây dựng đất nước. “Theo dõi, giám sát” chức trách này của người thầy trực tiếp là các cơ quan quản lý hành chính về giáo dục (từ bộ, sở đến phòng) và các trường học (bao gồm cả hiệu trưởng, hiệu phó, tổ trưởng bộ môn). Ngoài ra, việc giám sát còn có công tác thanh tra chuyên môn (đều thực hiện hàng năm), kiểm tra chéo giữa các trường với nhau, giữa các giáo viên trong tổ bộ môn với nhau.
heBên ngoài trường và ngoài sự quản lý nhà nước là phụ huynh học sinh. Thông thường, con học giỏi thì thầy ít được tiếng thơm nhưng con học kém, không ngoan thì phụ huynh hay “bắt lỗi” người thầy. Khi con điểm cao, được khen thưởng, người ta dễ dàng nói là đó là vì con họ học giỏi; khi con điểm kém, nghịch phá, người ta vừa đi xin điểm, xin lên lớp vừa trách người thầy không nghiêm, không biết dạy… Có người đã nói thẳng: không có học trò dốt chỉ có thầy dốt. Xin khoan bình luận nhận xét này nhưng rõ ràng sau những biện pháp quản lý có tính pháp lý thì sự giám sát của phụ huynh cũng tạo ra áp lực không nhỏ cho người thầy.
Thậm chí, hiện nay, với các quy định về quyền trẻ em, về luật giáo dục, một số trẻ em vin vào đó mà thiếu sự kính trọng, thiếu sự vâng lời đối với thầy cô. Thậm chí có trường hợp còn vô lễ, thách thức thầy cô.
Như vậy, so với trước đây, người thầy cùng lúc chịu nhiều “tầng áp lực”. Thử hỏi trong xã hội có nghề nghiệp nào chịu nhiều áp lực như thế mà lại kém ưu đãi như nghề giáo?
Tôi không bênh vực cho thầy Đoàn Hoài Thanh nhưng tôi đồng cảm với thầy, rằng: “Phụ huynh của các em có biết con mình thường xuyên trốn học không? Có biết con mình đến lớp mà không thuộc bài không? Có biết con mình đến lớp mà không làm bài tập do thầy cô yêu cầu không? Có biết con mình vô lễ với các thầy cô dạy trên lớp không?” Tức là, phụ huynh không nên “giao khoán” việc học của con mình “trọn gói” cho thầy cô mà phải có sự phối hợp, kiểm tra thật chặt chẽ. Lý do hết sức cơ bản, mỗi cha mẹ có một hoặc vài đứa con nhưng người thầy thì có nhiều học sinh để lo nên không người thầy nào có thể quan tâm con người khác bằng chính cha mẹ các em được. Mặt khác, sau giờ học trên lớp, người thầy cũng có gia đình riêng để chăm sóc thì không thể (và cũng không có trách nhiệm) “quản” các học trò của mình được mà việc này phải do phụ huynh thực hiện.
Có lẽ còn một điều mà thầy Thanh chưa nói, đó là sự quan tâm của các cấp chính quyền, của các đoàn thể và cả ngành giáo dục đối với việc học tập của học sinh trên địa bàn, trong khu vực, trong lĩnh vực mình phụ trách. Đó là phải tạo môi trường giáo dục lành mạnh, không có tệ nạn xã hội, hạn chế những hình thức giải trí kém văn hóa; chương trình học phải phù hợp (với lứa tuổi, với vùng miền, với hoàn cảnh kinh tế…); có sự giúp đỡ thiết thực đối với những trường hợp khó khăn, “cá biệt”… Tức là, nếu cả xã hội “trông” vào người thầy thì xã hội cũng nên “đứng sau lưng” người thầy để động viên, tạo điều kiện, giúp đỡ người thầy hoàn thành nhiệm vụ chứ không phải tìm cách “bắt lỗi” (kiểm điểm, cắt thi đua, không cho đứng lớp…). Có như vậy, người thầy mới yên tâm công tác, tránh được những “phút sai lầm” gây ra “phút đau lòng”!

Bài thơ thứ 12

ĐÊM PLEIKU

Hành trình xuyên Việt
Dừng chân lại Pleiku
Nghe câu “Em Pleiku má đỏ môi hồng”
Lòng bâng khuâng
Chân không đành bước.

Men rượu cần dịu ngọt
Say sưa điệu múa tiếng đàn
Cái nắm tay truyền hơi ấm giữa đêm đông
Và nụ cười rất nhẹ
Vẫn ngọt hoài em ơi!

Đêm Pleiku vẫn nhớ hoài
Ấm áp tình bè bạn
(Tứ hải giai huynh đệ)
Ngọt ngào tình đất nước
Chân không đành bước.

Hành trình xuôi ngược
Nhớ hoài bài “Em đẹp lắm Pleiku ơi”
Không ánh mắt riêng ai
Không lời hò hẹn
Nhớ Pleiku, nhớ quê hương khắp nẻo.

Còn đọng những tiếng cười trong trẻo
Như sóng xao mặt Biển Hồ
Nhớ ân tình cao như ngọn Chư Yang Sin
Thì đó em ơi tình đất nước
Có khi nồng nàn tựa ché rượu đêm đông!
16-12-2004

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2008

Câu chuyện thể thao

Sự việc trên sân Chi Lăng (ngày 11-5-2008):
TÔI THẤY XẤU HỔ!

Tôi cảm thấy rất xấu hổ khi xem trận SHB Đà Nẵng – GĐT Long An.
Tôi xấu hổ vì một ông “vua” sân cỏ lại có quyết định “đổi trắng thay đen” dẫn đến thay đổi cục diện trận đấu. Đâu rồi bản lĩnh của “vua” vốn được tôn trọng và bảo vệ?
Tôi xấu hổ vì sau trận đấu, một số người lại chơi trò “thí chốt”, đổ toàn bộ trách nhiệm lên đầu trọng tài Hòa. Đó có phải là mối quan hệ người với người, khi mà những người “cùng hội cùng thuyền” không những không bảo vệ mà còn “đạp” nhau như thế?
Tôi xấu hổ vì các vị giám sát, thành viên ban tổ chức giải lại tham gia “tác động” để trọng tài phải thay đổi quyết định. Nếu vậy thì các trận đấu có cần trọng tài nữa không, hay các đội cứ đá rồi “ai đó” quyết định kết quả ra sao cũng được?
Tôi xấu hổ vì một số vị lãnh đạo đội bóng (có cả quan chức nhà nước), huấn luyện viên không tôn trọng luật chơi, lại hành xử rất “con nít”. Một nền bóng đã được điều hành, tham gia của những người như vậy liệu có phát triển được?
Tôi xấu hổ vì những điều hi hữu và đáng tiếc đó lại diễn ra trên một sân bóng của Việt Nam, đất nước vốn được xem là có tinh thần thượng võ, có nghĩa khí, có tình cảm. Phải chăng bóng đá là một cuộc chơi khác, không có yếu tố văn hóa, bản sắc, dân tộc ở đây?
Liệu có chấm dứt được những sự việc tương tự khi mà cũng những con người đó với cách điều hành đó, cách chơi đó, cách nghĩ đó, cách hành xử đó tiếp tục hiện diện trên sân cỏ Việt Nam, trong nền bóng đá Việt Nam? E rằng tôi lại còn nhiều lần xấu hổ nữa!

Câu chuyện thể thao

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH “LẠI” Ở MỘT TRẬN ĐẤU

1. Quyết định lại từ chối bàn thắng của Dourado (GĐT-LA) của trọng tài chính Nguyễn Xuân Hòa ở phút 74 thực sự đã gây kinh ngạc cho người xem trận SHB-ĐN và GĐT-LA. Kinh ngạc không phải việc thay đổi quyết định mà ở chỗ bị áp lực của khán giả và hành động bỏ sân của các cầu thủ chủ nhà. Nếu như qua khiếu nại của SHB-ĐN, trọng tài chính hội ý với các trợ lý, thậm chí với trọng tài bàn, để dẫn đến việc không công nhận bàn thắng thì dễ chấp nhận. Trọng tài là con người nên rất có thể có sai lầm và việc sửa chữa sai lầm cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng sự quyết định lại này dường như thể hiện sự kém bản lĩnh của trọng tài Hòa trước hành động sai trái của đội chủ sân Chi Lăng. Chính điều đó đã dẫn đến việc bỏ sân của đội khách, khiến trận đấu suýt đổ vỡ.
Như vậy, hành động vô kỷ luật này là nguyên nhân dẫn đến hành động vô kỷ luật khác. Tất cả đều bắt nguồn từ một quyết định lại có phần khó hiểu của trọng tài Hòa.
2. Chấp nhận trở lại tiếp tục thi đấu của lãnh đạo đội bóng miền Tây dường như đã cứu cho trận đấu khỏi sự đổ vỡ. Quyết định này có vẻ làm đội khách “thua thiệt”, không chỉ mất một bàn thắng quý giá mà còn phải lép về tâm lý khi đội chủ nhà vừa phấn khởi sau khi không chịu bàn thua vừa “thắng” được trọng tài. Dù trước đó, Gạch luôn ở tư thế khá thoải mái, không chỉ trong lối chơi, mà cả trong việc họ thay Dourado bằng Tshamala và đủng đỉnh chờ tiếng còi tiếp tục trận đấu khi các cầu thủ chủ nhà bỏ trận. Thật khó kết luận rằng có phải vì không có bàn thắng của Dourado mà họ chịu thua 2-3 nhưng rõ ràng nếu họ được tiếp tục trận đấu bằng tỉ số 2-1 thì rất có thể kết quả trận đấu đã khác đi.
Qua 2 lần bỏ sân của hai đội bóng, người xem thực sự băn khoăn tại sao những cầu thủ được gọi là chuyên nghiệp (kể cả HLV của 2 đội đều có người xuất thân từ những danh thủ) lại có thể có cách hành xử kém chuyên nghiệp như vậy?
3. Chỉ trong 4 ngày, có đến 3 trận đấu ở Việt Nam bị gián đoạn bởi có đội bóng bỏ sân để phản đối quyết định của trọng tài. Có lẽ điều đó là hi hữu không chỉ đối với sân cỏ nước ta mà cả thế giới. Nó cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác tổ chức, điều hành các giải đấu. Bất kỳ giải đấu nào, bên cạnh những quy định chặt chẽ (luật chơi) thì cũng cần có những người điều hành, tổ chức đủ năng lực, đáp ứng được yêu cầu, tính chất của giải đấu đó. Ngoài ra, chính những người tham gia thi đấu cũng phải hiểu rằng tham gia cuộc chơi là phải tôn trọng đối thủ, tôn trọng những người tổ chức, điều hành và trên hết phải tôn trọng khán giả. Thế nhưng qua 8 mùa giải chuyên nghiệp, cả 3 yếu tố trên đều có quá nhiều khiếm khuyết, hạn chế, dẫn đến có quá nhiều những sự cố đáng tiếc.
Thực tế đó lý giải tại sao ngày càng có nhiều người hâm mộ quay lưng lại với các giải đấu cấp quốc gia, dù chất lượng chuyên môn của các giải này thuộc tầm cao và có tính hấp dẫn bậc nhất khu vực. Và, khi thiếu sự ủng hộ của khán giả, rõ ràng chất lượng của nền bóng đá, của đội tuyển quốc gia sẽ khó được nâng cao.

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2008

Kỷ niệm gia đình

LỚN LÊN TỪ GÁNH HÀNG RONG CỦA BA TÔI

Ba tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo lắm. Cái nghèo đã trở thành “truyền kiếp”, đeo đẳng mãi, như một loài ký sinh trùng vậy. Lấy vợ, rồi lập thân ở cái tuổi tam thập và chuyện “nhi lập” đối với ba tôi là làm sao cho vợ con có được cơm no áo ấm, gia đình thuận hòa, hạnh phúc. Với “chí tang bồng” của một đấng nam nhi như thế chẳng tầm thường lắm sao? Nhưng đối với ba tôi, đó là cả một mơ ước mà suốt cuộc đời ông phải phấn đấu không ngừng.
Câu chuyện này như là một “truyền thống” gia đình, có thể là ba mẹ tôi kể cho vui, mà cũng có thể là một sự nhắc nhở anh em chúng tôi không được quên nguồn cội. Dạo ấy vào những năm sau chiến tranh, đất nước còn rất nhiều khó khăn, quê tôi lại mất mùa, gia đình tôi – gồm ba, mẹ và tôi lúc đó còn chưa biết đi – đã phải long đong ở nhiều nơi để kiếm sống. Ba tôi đã từng đi đào đất thuê, rồi đi vá lưới mướn, đến làm nghề cá rồi cả… đi buôn. Công việc sau cùng này diễn ra vào cuối chuyến tha phương cầu thực, thường được ba mẹ tôi kể cho anh em chúng tôi nghe nhiều nhất, như một “giai đoạn” khó khăn nhất, để con trẻ hiểu được rằng để có được cuộc sống đầm ấm hôm nay, ba mẹ đã phải đổ biết bao công sức và chịu bao nhiêu tủi nhục nữa.
Trên đường mưu sinh rày đây mai đó bằng một chiếc ghe nhỏ đã cũ, ba tôi bắt đầu là một “nhà buôn”, mà có dạo người ta vẫn có một thành kiến khá nặng nề đối với những người làm nghề buôn bán. Nói đi buôn cho sang chứ thực ra chỉ là ghé vào nhà này mua ít ký khoai mì, khoai lang, nhà kia vài ký khô lóc hoặc năm ba ký mắm… để ngày hôm sau lại ghé vào một bến khác mà bán lại, kiếm vài đồng lãi. Lời không bao nhiêu nhưng có dư ra chút đỉnh thức ăn, coi như là một cách độ nhật. Ba tôi khỏe mạnh, nhanh nhẹn nên thường giành hết phần mua lẫn bán của mẹ, để mẹ tôi ở lại dưới ghe trông con và chờ đợi. Những tiếng rao đã từng vang lên: “Ai mua mì hôn?”, “Ai khô hôn?”… mà không bao giờ tôi có thể tưởng tượng được tiếng rao ấy đã được cất lên từ ba tôi. Lúc đi mua bán, nói chung rất nhiều người tỏ ra thông cảm việc đàn ông phải quảy gánh, họ là người làm ra sản phẩm nên cũng khá hào phóng, không tính tiền mấy lạng thừa hoặc tặng luôn những đồng lẻ. Nhưng cũng có người còn mang một tư tưởng khinh miệt thương buôn nên không chỉ ke re cắt rắt từng hào, từng lạng mà còn tỏ thái độ coi thường thấy rõ. Tuy ba tôi là người nóng tính nhưng ông chưa bao giờ phản ứng với cách cư xử như vậy.
Có những bữa cả gia đình bỏ ghe lên chợ. (Ngày xưa, không lo bị mất trộm!). Mẹ muốn phụ ba chút ít, hoặc là giúp nhặt nhạnh hàng, hoặc giúp ba gánh một đoạn. Khi hàng cạn, ba tôi còn cho tôi vào gánh để quảy đi.
Lênh đênh như thế trong một thời gian dài từ Cà Mau về Bến Tre, ba mẹ tôi kiếm đủ sống cho những ngày trên sông nước, cộng với chút tích lũy từ những ngày làm thuê, hai người còn dành dụm được một số vốn nhỏ, có thể đủ ăn cho đến vụ lúa sau. Nhưng số phận cứ trêu ngươi. Trên đường về, khi đến Cái Vồn, ba tôi neo ghe lại ngủ và khuya hôm sau vừa tỉnh giấc thì ông mới hoảng hốt nhận ra chiếc ghe đang bị chìm. Nguyên là khi ba tôi cột ghe thì nước đang đầy, tới hôm sau vào lúc nước ròng, chiếc ghe bị vướng dây vắt ngang mớn nước. Ba chỉ kịp vội cõng mẹ và tôi đặt lên bờ rồi lăng xăng với chiếc ghe sắp sửa bị nhấn chìm trong dòng nước. Nước tràn dần vào khoang ghe, cuốn trôi theo nào đồ đạc, đống khoai mì, cả cái lu gạo và mấy cái bồng bột gạo. Mẹ tôi kể lại chi tiết cảm động nhất là khi thấy chiếc mền cưới bị nước cuốn đang còn nổi lềnh bềnh, nếu không bận ẵm tôi trên tay thì mẹ nhào theo để vớt lại, dù mẹ không biết bơi. Trời chưa sáng nên chẳng ai hay biết mà đến giúp đỡ cả.
Cuối cùng con nước hung hãn cũng không còn tàn phá nữa, hay đúng hơn chẳng còn gì để nó phá nữa cả, trừ chiếc ghe cũ kỹ. Rồi cả hai nhặt nhạnh lại những thứ gì nằm sót lại trên bãi bồi. Nhiều người đi ghe ghé ngang hỏi thăm, có người còn cho ít củ khoai, vài lon gạo. Khi nước ròng cạn, ba tôi mới tình cờ nhìn thấy một gói giấy nhỏ nằm vướng trên bãi phù sa. Khi mở ra xem, ba mẹ tôi không khỏi ngạc nhiên vì đó là đôi bông và sợi dây chuyền cưới mà ba đã tặng mẹ hồi lấy nhau. Đó không chỉ là những kỷ vật mà còn là một khối tài sản lớn, không chỉ là thành quả lao động và sự chắt chiu của ba tôi suốt thời thanh niên mà còn là cả gia sản của đôi vợ chồng trẻ. Có lẽ khi nỗi đau chìm ghe còn chưa tan, thì đó là niềm vui và niềm an ủi lớn nhất, có thể bù đắp lại những mất mát và nhọc nhằn vừa rồi.
Ghe lại lên đường về nhà, mớ khoai mì vớt lại được đã chạy chỉ đăng đắng nhưng trở thành món ăn chính, xen giữa là những bữa nấu bánh cánh với bột xay từ gạo ngâm nước. Những đồng bạc cuối cùng và các quà tặng của những người bạn thương hồ cùng cảnh ngộ đã trở thành cứu tinh cho gia đình tôi trong lúc khốn cùng. Có lúc ba ôm tôi mà rưng rưng: Chìm ghe mất đồ nhưng ba vẫn còn cục vàng này. Mỗi lần kể lại chi tiết này, ba mẹ tôi lại rưng rưng nước mắt.
***
Lớn lên, tôi có lúc cũng làm người mua bán rong để kiếm thêm ít đồng mua sách vở, nhưng tôi sung sướng hơn nhiều là không phải quảy quang gánh mà chở bằng xe đạp và cũng chẳng cần phải rao khàn giọng. Cái thời của tôi, mua bán là công việc bình thường chứ không còn bị kinh khi như trước nữa. Vả lại việc đi buôn chỉ làm việc thời vụ, tranh thủ lúc nghỉ hè, lúc rảnh rỗi chứ không phải là cách kiếm sống nữa. Nhưng mỗi khi thấy người đàn ông nào vất vả với việc mua bán – công việc xưa nay vốn được xem là của phụ nữ – tôi lại bồi hồi xúc động. Ba tôi đã từng có một thời thúng gánh như thế để nuôi tôi lớn lên. Tôi bây giờ thì không còn biết gánh nữa nhưng tôi đã lớn lên từ đôi gánh của ba và đến nay vẫn còn nghe nặng từ những gánh hàng tạp của ba năm nào.
Có lẽ nó còn nặng món nợ ân tình của tôi đối với các bậc sinh thành mà suốt đời tôi không thể nào trả được.
Bài đã đăng trên báo Giáo dục Sáng tạo ngày 1.1.2003

Chân dung

TRONG SÁNG MỘT HỒN THƠ

Tôi quen với cô giáo Trương Thúy Uyên (trường Vân Đồn) khá lâu trước khi biết chị là một người làm thơ. Ngay lần đầu tiên gặp chị tại trường nhân dịp tìm hiểu để viết bài về em Kotica, cô học trò người Chăm giỏi văn của chị, tôi đã có ấn tượng rất tốt đẹp về cô giáo dạy văn có tiếng của quận 4 này. Tôi nhớ mãi lời chị tâm sự: “Không thể lấy lý do học sinh kém môn văn vì không thích học văn. Vì đây là một môn cơ bản không chỉ để học sinh có kiến thức văn hóa căn bản mà còn giúp các em hoàn thiện nhân cách và có định hướng thẩm mỹ đúng đắn. Cũng như với các môn lý luận Mác – Lênin, nếu bảo vì không thích mà không học thì còn đâu nền tảng tư tưởng của chế độ ta?” Những lời chân tình đó đã khiến tôi luôn suy nghĩ để tìm ra những cách tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết sao cho ngắn gọn, dễ hiểu.
Mấy năm gắn bó với Bản tin quận 4, tôi thường được đọc những mẩu tin, những bài viết ngăn ngắn và nhất là không thiếu những bài thơ dễ thương ký tên Trúc Uyên hoặc Trúc Thuyên, những bút danh của chị. Đó là những bài thơ viết về nhà trường, về gia đình, về tình thầy trò, về tình yêu quê hương, đất nước. Sau này, có dịp tìm hiểu, tôi còn biết chị không chỉ cộng tác cho Bản tin quận 4 mà còn viết cho một số báo, tạp chí ở trung ương, thành phố và các tỉnh bạn. Thơ của Thúy Uyên nhìn chung về hình thức thường giản dị, không quá trau chuốt cầu kỳ, về nội dung luôn trong sáng, lạc quan, tươi trẻ, như cách sống, cách nghĩ của một cựu cán bộ đoàn như chị. Như bài Em nghĩ đến một vườn mẫu giáo, đang chiến đấu ác liệt, người chiến sĩ vẫn không quên mơ mộng:
Đứng trong cửa trận địa pháo
Nghĩ đến một vườn mẫu giáo
Vườn xanh như mộng
Vườn có cửa sóng
Cho các em…
Hay:
Lúa thông minh như dân tộc
Bão tan lúa lại thẳng hàng
Ánh sáng hạt cơm trẻ hát
Lúa lên theo kịp mùa màng.
(Lúa thông minh như dân tộc)
Ở nhiều bài thơ khác, đọc xong, ta hay lặng yên suy nghĩ, bởi những dòng thơ đọng lại trong tim, bởi sự xúc động, bởi lòng nhân ái bao la:
Chất độc da cam trong máu chảy
Em như cỏ nằm suốt tháng năm
Cái giường cái chăn giục em dậy
Em chỉ có giấc mơ đến trường…
(Những em bé không đến trường)
Cũng một em bé nhiễm chất độc, nhưng lòng em vẫn có một mùa xuân của riêng mình:
Em đứng dậy đón xuân
Em đâu có chân
Xuân nhìn em
Rưng rưng nước mắt
(Em bé và mùa xuân)
Vậy đó, thơ của Thúy Uyên dễ đọc, dễ hiểu nhưng không phải vì thế mà không sâu lắng. Không chỉ bằng ý tứ, ngay cả cách diễn đạt cũng có những nét độc đáo.
Những hàng dừa đứng theo chiều nghiêng
Cơn bão vừa đi qua để lại
Tiếng con sóc trên cành đang nhảy
Làm rơi mấy tia nắng xuống vai.
(Đi trong vườn dừa Bến Tre)
Chỉ đọc hai câu đầu thôi, ta đã cảm nhận được sự tàn phá của cơn bão, những cây dừa đã làm nên dáng đứng quê hương bây giờ cũng đã nghiêng theo chiều của gió bão. Nhưng chỉ qua tiếng con sóc nhảy trên cao, ta nghe sự sống vẫn trào dâng đâu đây, không chỉ vậy, mấy tia nắng bất ngờ rơi xuống, không chỉ báo hiệu bão đã tan, nắng lại về mà còn vẽ nên một bức tranh hồi sinh mãnh liệt. Hay trong bài Mùa xuân thương nhau, từ những câu từ rất đỗi dân ca, ta nghe phảng phất âm điệu của hồn dân tộc, từ những câu ca dao đến những câu chuyện cổ tích và đến cả vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu đôi lứa:
Lá sen mẹ hái đội đầu
Ngàn năm trai gái trầu cau ân tình
Bây giờ thành của em anh
Mùa xuân ru trái tim thành ca dao…
Là cô giáo dạy cho học trò tìm vẻ đẹp, tìm sự nhân bản trong mỗi câu văn, mỗi lời thơ, Thúy Uyên còn góp phần nâng cao chất lượng dạy văn. Là một thành viên của mạng lưới giáo viên văn của thành phố, chị thường giới thiệu kinh nghiệm, chia sẻ những cách dạy hay đồng thời cũng biết lắng nghe để học tập, để tích lũy kinh nghiệm cho mình. Những buổi hội thảo về dạy văn do chị tham gia tổ chức luôn được người nghe hoan nghênh và nồng nhiệt chào đón.
Dường như đối với Thúy Uyên, tay cầm phấn và tay làm thơ đã hòa quyện vào nhau, bổ sung cho nhau và không thể tách rời nhau. Có lẽ nghề giáo là chất liệu để chị viết nên những vần thơ chân phương mà cũng giàu hình ảnh và nhất là luôn đậm tính người; còn làm thơ là để tâm hồn đẹp hơn, trong sáng hơn, để lời giảng bài thêm truyền cảm. Làm thơ giúp cũng chị cảm thụ tốt hơn những bài thơ trong chương trình giảng văn và từ đó có thể tìm ra những cách giới thiệu sâu sắc hơn cho học sinh. Không chỉ vậy, chắc hẳn chính những vẫn thơ của chị đã giúp chị có thêm tình yêu nghề, yêu học trò, làm tăng thêm trách nhiệm của một người vốn đã mang một nghề giáo nhưng còn nặng nợ với nghiệp thơ! Qua đó, chị ngày càng đào tạo thêm nhiều học sinh giỏi văn cho quận nhà!

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2008

Bài thơ thứ 11

DẤU CẦN LAO

Giọt mồ hôi mặn đắng
Đổ xuống đồng
Hay giọt nước mắt
Cho cây lúa trổ bông.

Dẫu nắng đổ chang chang
Dẫu mưa dầm úng đất
Giọt mồ hôi luôn dịu ngọt
Bởi bốn mùa cây trái xum xuê.

Giọt mồ hôi rơi, ta im nghe
Dấu cần lao in trên từng hạt thóc
Và đôi giọt nước mắt rơi như hạt ngọc
Hạnh phúc đong đầy dịu ngọt bờ môi.

Bài thơ thứ 10

THƠ MỪNG SINH NHẬT

Sinh nhật không tặng hoa
Chẳng gửi quà
Chỉ vài lời chúc
Cùng một tấm lòng.

Có bao lời muốn nói
Chẳng dịp thốt thành câu
Đường đời chia hai lối
Có chăng lòng nhớ nhau!

Ngày sinh nhật qua mau
Hối hả cùng nhịp sống
Bất chợt đời tĩnh lặng
Bao kỷ niệm ùa về.

Thêm tuổi đời trôi qua
Trách nhiệm thêm chồng chất
Vai gầy thêm khó nhọc
Cần nghị lực em ơi!

Sinh nhật gửi vài lời
(Không phải thay hoa
Chẳng thay quà)
Chỉ nói thay một tấm lòng…

Thời sự và suy nghĩ

KHÔNG CHỈ CÓ GUYANE

Loạt bài của báo Tuổi trẻ về nhà tù An Nam ở Guyane đã được người đọc đặc biệt quan tâm. Đây là những câu chuyện dường như chưa từng được ai nhắc đến hay tìm hiểu một cách kỹ lưỡng trước đây. Nhờ vậy, nó làm người đọc khao khát muốn biết, muốn hiểu một cách tường tận. Nhiều người đã nhắc đến một sự khơi gợi lòng yêu nước thiết thực, có ý nghĩa, thay vì chỉ những trang sách đầy sự kiện khô cứng.
Nhưng thực ra Guyane không phải là nơi duy nhất mà những người Việt Nam yêu nước bị người Pháp chọn làm nơi giam cầm đày đọa. Từ năm 1885, gia đình phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường đã bị người Pháp đày sang đảo Tahiti trên Thái Bình Dương vì vị đại thần này có xu hướng ủng hộ Hàm Nghi chống Pháp. Sau đó ít lâu, cuối năm 1888, vua Hàm Nghi sau khi thất bại trong phong trào Cần Vương cũng bị người Pháp đày sang Algeria, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Trong hoàng tộc, còn có cha con vua Thành Thái và Duy Tân cùng một số thành viên gia đình cũng đã bị đày đến đảo Réunion thuộc Pháp vào tháng 11-1916 vì những hoạt động chống Pháp… Chắc hẳn còn không ít địa danh khác cũng từng là nơi giam hãm nhiều thế hệ người Việt yêu nước khác trong suốt gần 100 năm chống Pháp.
Ngay trong thời kỳ thuộc Pháp, không thể không nhắc đến những người Việt Nam bị Pháp bắt tham gia Thế chiến I (1914 – 1918), rồi sau đó là Thế chiến II (1939 – 1945). Không ít người đã ngã xuống rải rác khắp nơi ở châu Âu với lời “động viên thiêng liêng” bảo vệ “tổ quốc Gô-loa”. Họ là một phần của những trang sử bi hùng của dân tộc ta trong thời kỳ mất nước.
Còn nếu nói xa hơn, rộng hơn, chắc phải kể đến những lần mất nước khác. Nổi bật là lần mất nước vào nhà Minh dưới triều nhà Hồ (1407). Khi đó, ngoài vua tôi triều thần nhà Hồ bị bắt làm tù binh, nhiều thợ thủ công giỏi cũng bị giặc Minh bắt giải về Trung Quốc. Nhiều người trong số họ bị ép buộc làm việc cho nhà Minh. Chẳng hạn, Nguyễn An, Hồ Nguyên Trừng (con của Hồ Quý Ly) được mời tham gia Bộ Công, có công rất lớn trong việc thiết kế, xây dựng thành Bắc Kinh và đúc súng thần công cho nhà Minh. Còn Hồ Hán Thương (em Hồ Nguyên Trừng) thì được triều Minh vời ra dạy Kinh dịch cho hoàng gia….
Nếu có dịp, các báo nên tìm hiểu thêm những bước đường của cha ông trong các thời kỳ, cả vong quốc và những dấu ấn quan trọng trong chiều dài lịch sử của đất nước. Hẳn những câu chuyện này sinh động, có sức hấp dẫn và có tính giáo dục yêu nước tốt hơn chẳng kém những bài học lịch sử đầy sử kiện trong sách giáo khoa các bậc học.
Bài đã đăng trên Tuổi trẻ, ngày 7-5-2008

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2008

Thời sự và suy nghĩ

KHÔNG THỂ HẾT CHẠY CHỨC KHI CÒN… CHẠY ĐƯỢC!

Thực tế hiện nay, các cơ quan đảng và chính quyền đã có nhiều biện pháp để việc bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển cán bộ diễn ra công khai, minh bạch và “đúng người đúng ghế”. Chẳng hạn “chuẩn hóa” cán bộ là một ví dụ. Đối với nhiều chức danh, bên cạnh trình độ (bằng cấp) chuyên môn, trình độ lý luận chính trị vẫn còn những yêu cầu khác như độ tuổi, là đảng viên hay không, lịch sử chính trị (của bản thân và gia đình, thường gọi là lý lịch)… Hay, quy trình thực hiện công tác cán bộ cũng khá chặt chẽ. Một người được bổ nhiệm, đề bạt thường là cán bộ được quy hoạch từ trước với nhiều thủ tục không đơn giản. Sau đó là bước lấy ý kiến cấp ủy và quần chúng nơi người đang công tác, sinh hoạt; sự bàn bạc trong cấp ủy và lãnh đạo cấp trên trực tiếp, với sự tham mưu của những người làm công tác tổ chức cả cơ quan đảng và chính quyền… Có trường hợp thậm chí còn phức tạp hơn (như bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan báo chí, ngoài những bước kể trên còn phải có sự đồng ý của lãnh đạo Bộ Thông tin – Truyền thông). Trải qua bao nhiêu đó bước mới đến có được quyết định bổ nhiệm, đề bạt. Như vậy, nếu việc chuẩn hóa và quy trình thực hiện được tiến hành chặt chẽ, dân chủ, minh bạch thì sẽ rất khó có xảy ra nạn chạy chức. Bởi vì, người có thực tài không cần “chạy” vì họ thường có lòng tự trọng và cũng không câu nệ là “làm chỗ nào”. Đồng thời, với bao nhiêu đó thủ tục, người nào muốn “chạy” cũng không dễ dàng chút nào.
Nhưng trong thực tế, các quy định đã không được tôn trọng và thực hiện đầy đủ. Nói chuẩn hóa nhưng vẫn có không ít “ngoại lệ”. Chẳng hạn, khi bàn nhân sự trước mỗi kỳ đại hội đảng bộ các cấp, người được cơ cấu tham gia ban chấp hành thường có quy định là phải đủ tuổi tham gia ít nhất một nhiệm kỳ nữa, người mới tham gia ban chấp hành phải còn có thể tham gia hai nhiệm kỳ nữa. Thế nhưng vẫn có “trừ trường hợp”, như cán bộ quy hoạch là chủ chốt, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số… thì không hoàn toàn tuân theo “khung”đó. Hay, bổ nhiệm một người vào một chức danh nào thường người đó phải có đủ tuổi để làm hết nhiệm kỳ. Thế nhưng vẫn có ngoại lệ như cán bộ kế cận chưa quy hoạch kịp, người đương nhiệm còn có thể phát huy được… thành ra người ta cứ giữ ghế. Tệ nhất là lẽ ra phải công khai, khách quan khi lấy ý kiến của quần chúng, đồng thời phải dân chủ, thẳng thắn trong việc đánh giá, nhận xét của cấp ủy khi giới thiệu nhân sự thì nhiều khi người ta “ngại”. Ngại bởi vì nhiều khi việc đó đã được đứng đầu “quyết” rồi, nói ra sợ bị coi là trái ý; ngại nói vì e rằng “đụng chạm”, nhất là với người mà nay mai có thể trở thành cấp trên của mình… Thành ra, có khi việc mà lẽ ra mọi người phải thẳng thắn trao đổi để có thể chọn được người giỏi, phù hợp vị trí thì người ta lại “ngậm miệng ăn tiền”!
Thực tế đó cho thấy các quy định không thể được phát huy một cách tích cực nếu những người thực hiện không làm tròn chức trách của mình. Chẳng hạn, trách nhiệm của cơ quan làm tổ chức là phải giới thiệu đúng người cho đúng chức danh, căn cứ các quy định đã có, bằng sự nhận xét công tâm thay vì chịu sự tác động từ ai đó. Hay, đã gọi là “chuẩn” thì không nên có ngoại lệ, vì từ đó có thể dẫn đến những tiền lệ.
Một điều rất quan trọng là cần lấy sự thực chất làm trọng. Như trong quy định về trình độ thì không nên chỉ dựa vào bằng cấp mà nên dựa trên năng lực thực sự, thông qua việc làm trước đó, thông qua chương trình, kế hoạch công tác mà người đó vạch ra cho vị trí công tác mới. Ngoài ra, các yêu cầu về nhân thân nên chỉ là để tham khảo, để cân nhắc chứ không phải là điểm quyết định, để tránh trường hợp “cầu thân” hoặc “gửi gắm”… Tức là phải lấy yếu tố “khả năng”giải quyết công việc hiện tại và sắp tới làm trọng thay vì chỉ dựa vào những điều khác.
Cuối cùng, nên tổ chức thi tuyển, một cách công khai, minh bạch. Đối với một chức danh, nên đề ra các tiêu chuẩn cụ thể về phẩm chất, năng lực sao cho có một số ứng viên có thể tham gia, từ đó chọn ra người xứng đáng nhất.
Tóm lại, các chức danh, vị trí đều tìm được người giỏi đảm trách thì chẳng những công việc được trôi chảy, có hiệu quả mà chính họ làm hạt nhân để thu hút những người khác đến với cơ quan, đơn vị. Nếu một người không cần chạy mà có được “ghế” thì thường họ có đủ tự trọng để không để người ta “chạy” cho những chiếc ghế khác!

Thời sự và suy nghĩ

“SỐT GẠO”, KHÔNG CHỈ LO ĐẾN CÁI ĂN

Có lẽ suốt hai mươi năm qua, Việt Nam mới xảy ra một cơn “sốt gạo” nóng bỏng như cơn sốt vào cuối tháng 4-2008 vừa qua. Tuy nước ta còn nhiều khó khăn nhưng đối với đa số người dân, gần như không có việc thiếu ăn. Nhiều người đã quan tâm đến việc “ăn ngon” thay vì chỉ “ăn no” như nhiều năm trước. Tại TP.HCM, sự thiếu đói chỉ còn ở một bộ phận rất nhỏ, nhưng cũng thường xuyên nhận được sự giúp đỡ của chính quyền và các tổ chức xã hội. Thế nhưng cơn “sốt gạo” dường như lại diễn ra căng thẳng nhất tại TP.HCM. Không ít gia đình mỗi ngày chỉ ăn chưa đến 1kg gạo nhưng phải chia nhiều hướng để mua trữ cả tạ gạo với giá gấp rưỡi, gấp đôi giá bình thường. Ở siêu thị, bình thường mặt hàng gạo ít được “để ý” (bởi giá cao hơn giá bán lẻ bên ngoài, lại không được chở đến tận nhà) nhưng trong đợt sốt, người ta chen lấn nhau để mua từng bao 10kg gạo. Người bán gạo thường ngày trông khách đến thì nay đóng cửa cửa hàng để ghim hàng chờ giá cao hơn. Ngay cả một số gia đình cán bộ, đảng viên cũng “không yên tâm” với thông tin trấn an dư luận trên các phương tiện truyền thông, cũng tham gia tích trữ gạo. Dường như một nửa xã hội (một nửa còn lại là những người không biết đang có sốt gạo hoặc đủ tự tin để không bị cuốn vào cơn sốt này) đã thực hiện lời dạy của người xưa “tích cốc phòng cơ”…
Mặc dù các cơ quan chức năng đã rất cố gắng để làm nguội cơn sốt này nhưng đến nay, giá gạo vẫn còn cao. Điều đáng lo hơn, qua sự việc này, tâm lý bất an về cơm gạo bây giờ chắc đã xuất hiện không ít trong nhân dân…
Từ cơn sốt này, người ta không khỏi băn khoăn về “an ninh lương thực”, về cái ăn của người dân ở một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Cái ăn tưởng đâu không còn là mối bận tâm hàng đầu của người dân thì qua việc này, điều đó có vẻ không còn đúng nữa. Một mặt, cái “căn tính nông dân” (chữ dùng của cố GS Trần Quốc Vượng) vốn luôn “ăn bữa nay lo bữa mai” bất ngờ trỗi dậy (nếu sốt dầu ăn, đường, xà bông… thì chắc không nghiêm trọng như vậy); thì mặt khác, những người kinh doanh gạo bỗng dưng “đánh đố” với các biện pháp chống đầu cơ và thực hiện bình ổn giá cả thị trường của các cơ quan quản lý. Kết quả là, cả người dân và cơ quan quản lý đều bị động, đều bị cuốn vào vòng xoáy giá cả, thoạt đầu tưởng là theo quy luật cung cầu nhưng sâu xa, dường như là ý đồ của ai đó. Vì vậy, người ta cũng không khỏi lo lắng về khả năng dự báo, ổn định thị trường của một số cơ quan nhà nước.
Hệ quả của cơn sốt gạo này là không nhỏ. Giá cả nhiều mặt hàng khác đã tăng theo, “hùa” cùng với sự tăng giá trong thời gian qua làm đời sống người dân càng khó khăn hơn. Ở thành thị, với người có thu nhập cố định, hoặc có thu nhập ở mức thấp, bất cứ sự tăng giá nào cũng làm giảm chất lượng sống. Ở nông thôn, một số mặt hàng nông sản càng bị thương lái ép giá do “lúc này người ta lo cái ăn đã khó còn quan tâm chi đến những thứ khác”. Nhìn rộng ra, khi cái ăn đã trở thành mối lo thì người ta buộc phải cắt giảm những chi tiêu khác, nhất là những chi tiêu chưa thật cần thiết. Có nghĩa là, yêu cầu về chất lượng cuộc sống cao hơn, tốt hơn tạm thời được “để lại”, để ưu tiên cho nhu cầu thiết yếu đã. Do đó, một mặt biện pháp “thắt lưng buộc bụng” để tăng tích lũy, tăng đầu tư thì mặt khác sự giảm chi tiêu là không kích cầu, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Xét góc độ nào đó, cơn sốt gạo vừa rồi là một “dịp may” để tất cả chúng ta nhìn nhận lại mức độ an toàn của nền lương thực nước nhà. Đồng thời, các cơ quan phụ trách về vật giá cũng có điều kiện để “kiểm định” các biện pháp điều tiết thị trường và bình ổn giá cả của mình. Ở tầm vĩ mô, sự việc này tuy nhỏ nhưng cũng đã đặt ra nhiều vấn đề phức tạp về yêu cầu an dân, yêu cầu tăng trưởng kinh tế, yêu cầu ổn định xã hội…