LỚN LÊN TỪ GÁNH HÀNG RONG CỦA BA TÔI
Ba tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo lắm. Cái nghèo đã trở thành “truyền kiếp”, đeo đẳng mãi, như một loài ký sinh trùng vậy. Lấy vợ, rồi lập thân ở cái tuổi tam thập và chuyện “nhi lập” đối với ba tôi là làm sao cho vợ con có được cơm no áo ấm, gia đình thuận hòa, hạnh phúc. Với “chí tang bồng” của một đấng nam nhi như thế chẳng tầm thường lắm sao? Nhưng đối với ba tôi, đó là cả một mơ ước mà suốt cuộc đời ông phải phấn đấu không ngừng.
Câu chuyện này như là một “truyền thống” gia đình, có thể là ba mẹ tôi kể cho vui, mà cũng có thể là một sự nhắc nhở anh em chúng tôi không được quên nguồn cội. Dạo ấy vào những năm sau chiến tranh, đất nước còn rất nhiều khó khăn, quê tôi lại mất mùa, gia đình tôi – gồm ba, mẹ và tôi lúc đó còn chưa biết đi – đã phải long đong ở nhiều nơi để kiếm sống. Ba tôi đã từng đi đào đất thuê, rồi đi vá lưới mướn, đến làm nghề cá rồi cả… đi buôn. Công việc sau cùng này diễn ra vào cuối chuyến tha phương cầu thực, thường được ba mẹ tôi kể cho anh em chúng tôi nghe nhiều nhất, như một “giai đoạn” khó khăn nhất, để con trẻ hiểu được rằng để có được cuộc sống đầm ấm hôm nay, ba mẹ đã phải đổ biết bao công sức và chịu bao nhiêu tủi nhục nữa.
Trên đường mưu sinh rày đây mai đó bằng một chiếc ghe nhỏ đã cũ, ba tôi bắt đầu là một “nhà buôn”, mà có dạo người ta vẫn có một thành kiến khá nặng nề đối với những người làm nghề buôn bán. Nói đi buôn cho sang chứ thực ra chỉ là ghé vào nhà này mua ít ký khoai mì, khoai lang, nhà kia vài ký khô lóc hoặc năm ba ký mắm… để ngày hôm sau lại ghé vào một bến khác mà bán lại, kiếm vài đồng lãi. Lời không bao nhiêu nhưng có dư ra chút đỉnh thức ăn, coi như là một cách độ nhật. Ba tôi khỏe mạnh, nhanh nhẹn nên thường giành hết phần mua lẫn bán của mẹ, để mẹ tôi ở lại dưới ghe trông con và chờ đợi. Những tiếng rao đã từng vang lên: “Ai mua mì hôn?”, “Ai khô hôn?”… mà không bao giờ tôi có thể tưởng tượng được tiếng rao ấy đã được cất lên từ ba tôi. Lúc đi mua bán, nói chung rất nhiều người tỏ ra thông cảm việc đàn ông phải quảy gánh, họ là người làm ra sản phẩm nên cũng khá hào phóng, không tính tiền mấy lạng thừa hoặc tặng luôn những đồng lẻ. Nhưng cũng có người còn mang một tư tưởng khinh miệt thương buôn nên không chỉ ke re cắt rắt từng hào, từng lạng mà còn tỏ thái độ coi thường thấy rõ. Tuy ba tôi là người nóng tính nhưng ông chưa bao giờ phản ứng với cách cư xử như vậy.
Có những bữa cả gia đình bỏ ghe lên chợ. (Ngày xưa, không lo bị mất trộm!). Mẹ muốn phụ ba chút ít, hoặc là giúp nhặt nhạnh hàng, hoặc giúp ba gánh một đoạn. Khi hàng cạn, ba tôi còn cho tôi vào gánh để quảy đi.
Lênh đênh như thế trong một thời gian dài từ Cà Mau về Bến Tre, ba mẹ tôi kiếm đủ sống cho những ngày trên sông nước, cộng với chút tích lũy từ những ngày làm thuê, hai người còn dành dụm được một số vốn nhỏ, có thể đủ ăn cho đến vụ lúa sau. Nhưng số phận cứ trêu ngươi. Trên đường về, khi đến Cái Vồn, ba tôi neo ghe lại ngủ và khuya hôm sau vừa tỉnh giấc thì ông mới hoảng hốt nhận ra chiếc ghe đang bị chìm. Nguyên là khi ba tôi cột ghe thì nước đang đầy, tới hôm sau vào lúc nước ròng, chiếc ghe bị vướng dây vắt ngang mớn nước. Ba chỉ kịp vội cõng mẹ và tôi đặt lên bờ rồi lăng xăng với chiếc ghe sắp sửa bị nhấn chìm trong dòng nước. Nước tràn dần vào khoang ghe, cuốn trôi theo nào đồ đạc, đống khoai mì, cả cái lu gạo và mấy cái bồng bột gạo. Mẹ tôi kể lại chi tiết cảm động nhất là khi thấy chiếc mền cưới bị nước cuốn đang còn nổi lềnh bềnh, nếu không bận ẵm tôi trên tay thì mẹ nhào theo để vớt lại, dù mẹ không biết bơi. Trời chưa sáng nên chẳng ai hay biết mà đến giúp đỡ cả.
Cuối cùng con nước hung hãn cũng không còn tàn phá nữa, hay đúng hơn chẳng còn gì để nó phá nữa cả, trừ chiếc ghe cũ kỹ. Rồi cả hai nhặt nhạnh lại những thứ gì nằm sót lại trên bãi bồi. Nhiều người đi ghe ghé ngang hỏi thăm, có người còn cho ít củ khoai, vài lon gạo. Khi nước ròng cạn, ba tôi mới tình cờ nhìn thấy một gói giấy nhỏ nằm vướng trên bãi phù sa. Khi mở ra xem, ba mẹ tôi không khỏi ngạc nhiên vì đó là đôi bông và sợi dây chuyền cưới mà ba đã tặng mẹ hồi lấy nhau. Đó không chỉ là những kỷ vật mà còn là một khối tài sản lớn, không chỉ là thành quả lao động và sự chắt chiu của ba tôi suốt thời thanh niên mà còn là cả gia sản của đôi vợ chồng trẻ. Có lẽ khi nỗi đau chìm ghe còn chưa tan, thì đó là niềm vui và niềm an ủi lớn nhất, có thể bù đắp lại những mất mát và nhọc nhằn vừa rồi.
Ghe lại lên đường về nhà, mớ khoai mì vớt lại được đã chạy chỉ đăng đắng nhưng trở thành món ăn chính, xen giữa là những bữa nấu bánh cánh với bột xay từ gạo ngâm nước. Những đồng bạc cuối cùng và các quà tặng của những người bạn thương hồ cùng cảnh ngộ đã trở thành cứu tinh cho gia đình tôi trong lúc khốn cùng. Có lúc ba ôm tôi mà rưng rưng: Chìm ghe mất đồ nhưng ba vẫn còn cục vàng này. Mỗi lần kể lại chi tiết này, ba mẹ tôi lại rưng rưng nước mắt.
***
Lớn lên, tôi có lúc cũng làm người mua bán rong để kiếm thêm ít đồng mua sách vở, nhưng tôi sung sướng hơn nhiều là không phải quảy quang gánh mà chở bằng xe đạp và cũng chẳng cần phải rao khàn giọng. Cái thời của tôi, mua bán là công việc bình thường chứ không còn bị kinh khi như trước nữa. Vả lại việc đi buôn chỉ làm việc thời vụ, tranh thủ lúc nghỉ hè, lúc rảnh rỗi chứ không phải là cách kiếm sống nữa. Nhưng mỗi khi thấy người đàn ông nào vất vả với việc mua bán – công việc xưa nay vốn được xem là của phụ nữ – tôi lại bồi hồi xúc động. Ba tôi đã từng có một thời thúng gánh như thế để nuôi tôi lớn lên. Tôi bây giờ thì không còn biết gánh nữa nhưng tôi đã lớn lên từ đôi gánh của ba và đến nay vẫn còn nghe nặng từ những gánh hàng tạp của ba năm nào.
Có lẽ nó còn nặng món nợ ân tình của tôi đối với các bậc sinh thành mà suốt đời tôi không thể nào trả được.
Ba tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo lắm. Cái nghèo đã trở thành “truyền kiếp”, đeo đẳng mãi, như một loài ký sinh trùng vậy. Lấy vợ, rồi lập thân ở cái tuổi tam thập và chuyện “nhi lập” đối với ba tôi là làm sao cho vợ con có được cơm no áo ấm, gia đình thuận hòa, hạnh phúc. Với “chí tang bồng” của một đấng nam nhi như thế chẳng tầm thường lắm sao? Nhưng đối với ba tôi, đó là cả một mơ ước mà suốt cuộc đời ông phải phấn đấu không ngừng.
Câu chuyện này như là một “truyền thống” gia đình, có thể là ba mẹ tôi kể cho vui, mà cũng có thể là một sự nhắc nhở anh em chúng tôi không được quên nguồn cội. Dạo ấy vào những năm sau chiến tranh, đất nước còn rất nhiều khó khăn, quê tôi lại mất mùa, gia đình tôi – gồm ba, mẹ và tôi lúc đó còn chưa biết đi – đã phải long đong ở nhiều nơi để kiếm sống. Ba tôi đã từng đi đào đất thuê, rồi đi vá lưới mướn, đến làm nghề cá rồi cả… đi buôn. Công việc sau cùng này diễn ra vào cuối chuyến tha phương cầu thực, thường được ba mẹ tôi kể cho anh em chúng tôi nghe nhiều nhất, như một “giai đoạn” khó khăn nhất, để con trẻ hiểu được rằng để có được cuộc sống đầm ấm hôm nay, ba mẹ đã phải đổ biết bao công sức và chịu bao nhiêu tủi nhục nữa.
Trên đường mưu sinh rày đây mai đó bằng một chiếc ghe nhỏ đã cũ, ba tôi bắt đầu là một “nhà buôn”, mà có dạo người ta vẫn có một thành kiến khá nặng nề đối với những người làm nghề buôn bán. Nói đi buôn cho sang chứ thực ra chỉ là ghé vào nhà này mua ít ký khoai mì, khoai lang, nhà kia vài ký khô lóc hoặc năm ba ký mắm… để ngày hôm sau lại ghé vào một bến khác mà bán lại, kiếm vài đồng lãi. Lời không bao nhiêu nhưng có dư ra chút đỉnh thức ăn, coi như là một cách độ nhật. Ba tôi khỏe mạnh, nhanh nhẹn nên thường giành hết phần mua lẫn bán của mẹ, để mẹ tôi ở lại dưới ghe trông con và chờ đợi. Những tiếng rao đã từng vang lên: “Ai mua mì hôn?”, “Ai khô hôn?”… mà không bao giờ tôi có thể tưởng tượng được tiếng rao ấy đã được cất lên từ ba tôi. Lúc đi mua bán, nói chung rất nhiều người tỏ ra thông cảm việc đàn ông phải quảy gánh, họ là người làm ra sản phẩm nên cũng khá hào phóng, không tính tiền mấy lạng thừa hoặc tặng luôn những đồng lẻ. Nhưng cũng có người còn mang một tư tưởng khinh miệt thương buôn nên không chỉ ke re cắt rắt từng hào, từng lạng mà còn tỏ thái độ coi thường thấy rõ. Tuy ba tôi là người nóng tính nhưng ông chưa bao giờ phản ứng với cách cư xử như vậy.
Có những bữa cả gia đình bỏ ghe lên chợ. (Ngày xưa, không lo bị mất trộm!). Mẹ muốn phụ ba chút ít, hoặc là giúp nhặt nhạnh hàng, hoặc giúp ba gánh một đoạn. Khi hàng cạn, ba tôi còn cho tôi vào gánh để quảy đi.
Lênh đênh như thế trong một thời gian dài từ Cà Mau về Bến Tre, ba mẹ tôi kiếm đủ sống cho những ngày trên sông nước, cộng với chút tích lũy từ những ngày làm thuê, hai người còn dành dụm được một số vốn nhỏ, có thể đủ ăn cho đến vụ lúa sau. Nhưng số phận cứ trêu ngươi. Trên đường về, khi đến Cái Vồn, ba tôi neo ghe lại ngủ và khuya hôm sau vừa tỉnh giấc thì ông mới hoảng hốt nhận ra chiếc ghe đang bị chìm. Nguyên là khi ba tôi cột ghe thì nước đang đầy, tới hôm sau vào lúc nước ròng, chiếc ghe bị vướng dây vắt ngang mớn nước. Ba chỉ kịp vội cõng mẹ và tôi đặt lên bờ rồi lăng xăng với chiếc ghe sắp sửa bị nhấn chìm trong dòng nước. Nước tràn dần vào khoang ghe, cuốn trôi theo nào đồ đạc, đống khoai mì, cả cái lu gạo và mấy cái bồng bột gạo. Mẹ tôi kể lại chi tiết cảm động nhất là khi thấy chiếc mền cưới bị nước cuốn đang còn nổi lềnh bềnh, nếu không bận ẵm tôi trên tay thì mẹ nhào theo để vớt lại, dù mẹ không biết bơi. Trời chưa sáng nên chẳng ai hay biết mà đến giúp đỡ cả.
Cuối cùng con nước hung hãn cũng không còn tàn phá nữa, hay đúng hơn chẳng còn gì để nó phá nữa cả, trừ chiếc ghe cũ kỹ. Rồi cả hai nhặt nhạnh lại những thứ gì nằm sót lại trên bãi bồi. Nhiều người đi ghe ghé ngang hỏi thăm, có người còn cho ít củ khoai, vài lon gạo. Khi nước ròng cạn, ba tôi mới tình cờ nhìn thấy một gói giấy nhỏ nằm vướng trên bãi phù sa. Khi mở ra xem, ba mẹ tôi không khỏi ngạc nhiên vì đó là đôi bông và sợi dây chuyền cưới mà ba đã tặng mẹ hồi lấy nhau. Đó không chỉ là những kỷ vật mà còn là một khối tài sản lớn, không chỉ là thành quả lao động và sự chắt chiu của ba tôi suốt thời thanh niên mà còn là cả gia sản của đôi vợ chồng trẻ. Có lẽ khi nỗi đau chìm ghe còn chưa tan, thì đó là niềm vui và niềm an ủi lớn nhất, có thể bù đắp lại những mất mát và nhọc nhằn vừa rồi.
Ghe lại lên đường về nhà, mớ khoai mì vớt lại được đã chạy chỉ đăng đắng nhưng trở thành món ăn chính, xen giữa là những bữa nấu bánh cánh với bột xay từ gạo ngâm nước. Những đồng bạc cuối cùng và các quà tặng của những người bạn thương hồ cùng cảnh ngộ đã trở thành cứu tinh cho gia đình tôi trong lúc khốn cùng. Có lúc ba ôm tôi mà rưng rưng: Chìm ghe mất đồ nhưng ba vẫn còn cục vàng này. Mỗi lần kể lại chi tiết này, ba mẹ tôi lại rưng rưng nước mắt.
***
Lớn lên, tôi có lúc cũng làm người mua bán rong để kiếm thêm ít đồng mua sách vở, nhưng tôi sung sướng hơn nhiều là không phải quảy quang gánh mà chở bằng xe đạp và cũng chẳng cần phải rao khàn giọng. Cái thời của tôi, mua bán là công việc bình thường chứ không còn bị kinh khi như trước nữa. Vả lại việc đi buôn chỉ làm việc thời vụ, tranh thủ lúc nghỉ hè, lúc rảnh rỗi chứ không phải là cách kiếm sống nữa. Nhưng mỗi khi thấy người đàn ông nào vất vả với việc mua bán – công việc xưa nay vốn được xem là của phụ nữ – tôi lại bồi hồi xúc động. Ba tôi đã từng có một thời thúng gánh như thế để nuôi tôi lớn lên. Tôi bây giờ thì không còn biết gánh nữa nhưng tôi đã lớn lên từ đôi gánh của ba và đến nay vẫn còn nghe nặng từ những gánh hàng tạp của ba năm nào.
Có lẽ nó còn nặng món nợ ân tình của tôi đối với các bậc sinh thành mà suốt đời tôi không thể nào trả được.
Bài đã đăng trên báo Giáo dục Sáng tạo ngày 1.1.2003

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét