NHỮNG NGHỊCH LÝ CỦA NÔNG DÂN
Xét kỹ, nông dân là một trong những thành phần chịu thiệt thòi nhất trong xã hội ta hiện nay. Không phải vì nông dân lười nhác, yếu kém, cũng không phải nông dân bị “bỏ mặc” mà vì có những nghịch lý chưa được giải quyết thấu đáo.
Thứ nhất, nông dân chiếm số lượng đông nhưng giá trị đóng góp cho xã hội còn thấp. Hiện có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và đại bộ phận là nông dân nhưng đóng góp của nông nghiệp chỉ khoảng 20% GDP. Chính vì vậy, bản thân nông dân cũng ý thức được hiệu quả sản xuất chưa cao của mình nên không muốn làm nghề nông nữa nhưng không phải ai cũng có điều kiện “tự chuyển đổi” và cũng không phải ai chuyển nghề có hiệu quả hơn. Hậu quả là nhiều người bán ruộng vườn đổ về các đô thị làm công nhân, làm nghề tự do trong khi trình độ, nghề nghiệp hạn chế, một bộ phận trở thành gánh nặng cho xã hội. Còn chính quyền các địa phương nếu có quan tâm đến nông dân cũng không thể tự tháo gỡ nếu không có chính sách chung và sự phối hợp đồng bộ trong cả nước. Ở những nơi thiếu quan tâm thì quy hoạch ồ ạt đất nông nghiệp sang các hoạt động khác, khiến nông dân mất đất, mất nghề. Nguyên nhân chính của tình trạng này trong nhiều năm qua, quy mô, kỹ thuật và phương tiện sản xuất nông nghiệp chậm được hiện đại hóa, tình trạng “con trâu đi trước cái cày” vẫn còn phổ biến; chính sách về nông nghiệp chưa có tác động căn cơ mà chỉ giải quyết phần ngọn (ngay cả chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn cũng chỉ giúp theo kiểu trao con cá hơn là giúp cần câu). Năng suất lao động thấp nên nông dân phải làm việc nhiều mà thành quả ít, dẫn đến tích lũy thấp, hạn chế trong đầu tư tái sản xuất, khó khăn trong việc tạo điều kiện cho các thế hệ sau vượt nghèo.
Thứ hai, nông dân cung cấp lương thực, thực phẩm cho công nghiệp chế biến, cho xuất khẩu và cho tiêu dùng toàn xã hội nhưng bản thân họ không được nhìn nhận vai trò “cung cấp”, vai trò “động lực” mà đơn thuần chỉ được xem là một nghề nghiệp như nhiều nghề nghiệp khác, sản xuất chỉ để kiếm sống. Họ chưa được đề cao đúng mức vai trò “nền tảng” của nhiều ngành kinh tế trong xã hội. Ngay cả chính quyền các cấp cũng chưa xem trọng vai trò của nông dân. Đến nay vẫn chưa có ngày dành cho giới nông dân (trừ ngày thành lập Hội Nông dân, 18-10, vốn ít người biết đến), bản thân vai trò hướng dẫn, giúp đỡ nông dân của các nông hội cũng còn mờ nhạt, ít nông dân được tôn vinh đúng mực (trừ những liên hoan nông dân sản xuất giỏi cũng chưa mang tính kích thích, động viên cao). Bởi vậy, khi người nông dân mua phân bón, xăng dầu, thuốc trừ sâu… để phục vụ sản xuất thì vẫn được xem là người tiêu dùng bình thường chứ không phải là người tiêu thụ nhằm đem lại những lợi ích lớn khác cho xã hội.
Thứ ba, bản thân nông dân là những người tiêu dùng nhưng phải mua sản phẩm với giá cao trong khi bán nông sản với giá rẻ hơn nếu xét về tỉ lệ bỏ vốn, công sức, và phải luôn bị động giá cả. Điều này có thể được lý giải rằng, do nông sản được bán dạng thô nên hàm lượng công nghệ thấp thì giá không cao, nhưng khi nông sản đã được chế biến thì đến tay nông dân với giá cao do có tính vốn về đầu tư kỹ thuật, chất xám trong đó. Thực ra điều này cũng tạm chấp nhận được. Tuy nhiên, bản thân nông dân hoàn toàn không chủ động được giá nông sản của mình mà phụ thuộc hoàn toàn và thị trường, bất kể giá thành ra sao, trong khi nông sản đã qua chế biến thì thường được bán trên cơ sở tính toán giá thành và mức lợi nhuận. Tức là, phần đông nông dân phải phó mặc hàng hóa của mình cho người mua (cả các đơn vị của nhà nước) định giá, trong khi phần đông doanh nghiệp có thể chủ động tính toán giá cả sao cho họ có thể thu lãi được. Ví dụ, giá quýt bán ở vườn tại Đồng Nai vào tháng 5-2007 trung bình là 9.000đ/kg thì vào tháng 5-2008 chỉ còn 8.000đ/kg trong khi giá dầu diesel tăng hơn 36% (từ 10.200đ lên 13.900đ/l), còn phân bón thì có loại tăng 50%, có loại tăng trên 1.000%. Tức là, thương lái và doanh nghiệp thì thường có lãi, còn nông dân có lãi hay không ít ai quan tâm.
Thứ tư, đến nay, vẫn chưa có những ưu đãi đáng kể dành cho nông dân. Không thể xem miễn thuế nông nghiệp là một ưu đãi, vì thực tế nguồn thu từ thuế nông nghiệp không nhiều trong khi phải “nuôi” bộ máy thu thuế quá lớn thành ra kém “hiệu quả”. Xét kỹ, nếu so với doanh nghiệp, hiện nay đóng thuế 28% lợi nhuận thì trước đây, thuế nông nghiệp thậm chí còn cao nhiều lần so với thuế thu nhập doanh nghiệp, bởi số thuế cho từng hộ dân là cố định, bất kể họ lỗ lãi ra sao. Đó là một bất công, nay bỏ thuế nông nghiệp chẳng qua là xóa bất công chứ không phải là ưu đãi. Nếu nói giá điện khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành thị là ưu đãi cũng không hẳn. Bởi vì chi phí công trình điện ở nông thôn thường rất cao (do mật độ dân cư thấp, khoảng cách xa nên tính chi phí ra đầu người là khá lớn so với khu vực đô thị); mặt khác vẫn còn nhiều nơi nông dân chưa được sử dụng điện, vì vậy tính chung nông dân vẫn có thiệt thòi không nhỏ. Ngay cả các chương trình hỗ trợ nông dân cũng không nên xem là “ân huệ” đối với nông dân, mà xét cho cùng chỉ là biện pháp nhằm hạn chế sự thiệt thòi quá mức của nông dân đối với các tầng lớp khác, từ đó có dẫn đến những bất ổn xã hội phức tạp.
Thứ năm, nhìn chung, hầu hết công chức, công nhân được đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trong khi đó nông dân chỉ có thể tự mua bảo hiểm y tế (ngay cả việc phải tự mua và được (doanh nghiệp) mua (dù có trích lương để trả) cũng đã thể hiện sự khác biệt) mà không có bảo hiểm xã hội. Vì vậy, tai nạn, mất sức thậm chí chết do lao động cũng không có chế độ hỗ trợ nào, chứ chưa nói đến được trợ cấp hay trả lương hưu. Vì vậy, nông dân phải làm việc liên tục từ khi chưa đến tuổi lao động cho đến khi quá tuổi lao động, vì không thể trông mong vào nguồn “để dành” nào cả!
Tóm lại, bài toán “tam nông” mà trọng tâm là “nông dân” phải được giải từ những nghịch lý đó. Cần có những chính sách vĩ mô mang tính căn cơ, thực hiện lâu dài, đồng bộ mới mong có thể chuyển biến tích cực của “tam nông”.
Thứ Ba, 10 tháng 6, 2008
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét