Thứ Tư, 23 tháng 7, 2008

Tạp bút

Hồi nhỏ, thiếu ăn, có được món gì cũng ăn nhin nhín, để dành. (Có lần xem phim Đài Loan, tôi rất cảm động khi thấy một cô bé được cho trái chuối nhưng không dám ăn, để dành dưới chiếu, sáng hôm sau trái chuối đã dẹp bép!) Tôi hay bày cho các em ăn thức gì cũng nên ăn chỗ nhạt trước, chỗ ngọt sau, miếng dở trước miếng ngon sau. Ăn mía, nên ăn từ ngọn. Ăn đu đủ, nên ăn từ cuống. Một lý do đơn giản: ăn chỗ ngon trước sẽ không muốn ăn chỗ dở nữa. Hồi đó nhà nghèo, thức gì cũng ít, chỗ ngon thì lại càng có ít làm sao chia cho đều? Và, đó cũng là sự “kế thừa” tâm lý dè sẻn từ cha mẹ.
Hồi đó tôi hay nói: “Ăn cái ngon trước, cái dở sau thì sao làm việc lớn được”! “Làm việc lớn”, một khái niệm rất mơ hồ của một đứa trẻ 10 tuổi. Nhưng tôi chắc rằng đó là sự tích lũy ngẫu nhiên (qua cuộc sống thực tế) của một triết lý của người Việt ta: “tiền hung hậu kiết” hay “khổ tận cam lai”!
Vì một khái niệm mơ hồ đó (tất nhiên còn vì nhiều lý do khác), anh em chúng tôi luôn thực hiện triệt để tinh thần tiết kiệm, dè sẻn. Sau này khi gia đình đã không còn nghèo khó như xưa, thói quen ấy vẫn còn. Có trái nhỏ, bị chim ăn một bên cũng lấy dao vạt bên ấy đi mà ăn, thay vì có thể hái trái khác. Có trái mít ướt chín rụng, cũng cố tìm ăn những múi còn nguyên… Thói quen ấy bây giờ dường như là một tập tính của những người lớn lên từ đời sống nghèo khó. Đôi lúc tôi không nghĩ, thói quen đó không chỉ đơn giản như vậy, nó còn xuất phát từ một thái độ sống mà người thực hiện phải học tập từ rất nhiều người khác, bằng một ý thức tích cực.
Bởi vậy, có bữa tình cờ thấy thằng em bắt chước mẹ cầm cái kềm để… nặn ống kem đánh răng đã kiệt, tôi thấy cay cay mắt.
Tuần rồi, gia đình họp mặt đông đủ, chặt cây mía ăn, tôi lấy cớ để khúc ngọn đem giâm trồng, tôi chỉ ăn khúc gốc. Đứa em gái nhìn thấy cười: “Anh Hai ăn khúc gốc trước sao được việc lớn?”
Tội bật cười. Nhưng lòng chợt lắng lại: Em trách tôi quên tiết kiệm chăng? Hay tôi vẫn chưa làm được “việc lớn”?
Ôi một “việc lớn” mơ hồ mà cả đời nguyện phấn đấu. Còn một thói quen tốt, có lúc tôi lại quên mất!

Tạp bút

ĐỪNG QUÊN ĐỌC SÁCH MỖI NGÀY!

Cách đây mấy năm, Bản tin Chào buổi sáng của VTV1 có thêm tiết mục mới là Mỗi ngày một cuốn sách. Nhẩm thử, sách thì có biết bao nhiêu, và mỗi ngày cũng xuất bản rất nhiều quyển mới; cho dù duy trì đều đặn hàng ngày thì mỗi năm tiết mục này này cũng chỉ giới thiệu được có 365 quyển sách, chẳng thấm gì cả. Nói một cách khác, chẳng qua là điểm những sách nổi bật mà thôi!
Thật ra, công việc của những người thực hiện chương trình có ý nghĩa biết bao! Và tác dụng của tiết mục này quả thật không nhỏ.
Hiện nay, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, người ta có biết bao nhiêu thông tin từ mạng internet, đủ các thể loại. Bên cạnh đó, cuộc sống hối hả khiến nhiều người thậm chí không còn thời gian để… ăn nữa, huống chi đọc sách. Ngồi giở từng trang sách, cả những đoạn mình không hiểu rõ hoặc không thích đọc thì có thể làm lãng phí thời gian lắm chứ! Hơn nữa, đọc tài liệu trên mạng, đoạn nào thích hoặc cần thiết thì copy lại hoặc in ra, chẳng cần phải mua cả quyển sách, thật tiện lợi!
Nhưng không phải vậy. Đọc sách không chỉ là thói quen, sở thích mà còn là một nhu cầu, một lối sống. Đọc sách để bổ sung kiến thức cho công việc, cho yêu cầu mà cũng một cách rèn luyện khả năng tư duy. Đọc sách thể thỏa mãn tình yêu đối với sách, đối với tác giả, đối với tri thức. Đọc sách còn là một phương pháp giáo dục cho con trẻ. Đọc sách là một nét văn hóa.
Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà suốt những ngày chinh chiến, Napoleon vẫn không quên mang theo bên mình những quyển sách; thậm chí ông còn khoe với đại văn hào Geothe rằng ông đã đọc vài lần quyển Nỗi đau chàng Werther. Còn Bác Hồ của chúng ta cũng vậy, chẳng mấy lúc rời quyển sách, từ lúc làm bồi trên tàu Latouche Tréville cho đến lúc trở thành lãnh tụ. Hầu như tất cả những người vĩ đại đều đọc rất nhiều sách.
Tiết mục Mỗi ngày một quyển sách của VTV đã đọc giúp những dòng hay nhất của quyển sách, để rồi những người nào quan tâm sẽ tìm đến quyển sách đó. Tiết mục này giúp chúng ta không quên thói quen đọc sách, không quên được một hoạt động đầy tính văn hóa và thể hiện một tinh thần say mê học hỏi. Nó giúp chúng ta trở thành những người yêu sách, người bạn của sách. Cũng như một người đàn ông ở Hà Nội đã sưu tầm hàng trăm bản Tam Quốc diễn nghĩa đủ các thứ tiếng, đủ hình dáng, được xuất bản hàng trăm năm qua, trong đó có cả bản chép tay bằng chữ Hán, mà VTV mới giới thiệu kèm với tiết mục này.
Chẳng biết từ bao giờ có câu “quyển sách gối đầu giường” để chỉ những quyển sách rất cần thiết trong cuộc sống và có thể đọc đi đọc lại đến nỗi phải để ngay ở đầu giường cho dễ lấy, có khi làm gối ngủ luôn! Xin hãy tìm cho mình một quyển gối đầu giường như thế. Và biết đâu, có người nào đó nhìn thấy quyển sách mà bạn đang gối sẽ đoán rằng tương lai của bạn sẽ ra sao!

Câu chuyện thể thao

XIN ĐỪNG CHỈ ĐỂ MUA VUI!

Sự kiện đội tuyển Olympic Brazil sang thi đấu tại Việt Nam quả là cơ hội ngàn năm có một. Ngay cả những người lạc quan nhất cũng không nghĩ rằng điều này sẽ xảy ra, ít nhất trong vòng một chục năm nữa, với mức phát triển của bóng đá Việt Nam hiện nay. Bởi vì người Brazil gần như chẳng thu được gì từ phía Việt Nam về mặt chuyên môn, còn chuyện tiền nong, nhiều nơi khác sẵn sàng trả cao hơn… Vậy mà trong một nỗ lực hơn mong đợi, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) đã làm được điều đó!
Dự kiến VFF sẽ phải trả cả chục tỉ đồng để có 90 phút xuất hiện của Ronaldinho và đồng đội. Một chục tỉ đồng ngang với mức thu ngân sách trong nửa tháng của một tỉnh nghèo tại Việt Nam, tức là bằng tẩt cả khoản đóng thuế, phí… của hàng triệu người trong suốt 15 ngày. Một chục tỉ đồng có thể mua 1.000 tấn gạo cho hàng vạn đồng bào nghèo trong cả nước. Một chục tỉ có thể xây dựng được vài cây cầu bêtông cho bà con vùng sâu hoặc xây được một ngôi trường trung bình ở vùng xa… Nếu lấy thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong một năm là 13 triệu đồng (khoảng 800 USD) thì một chục tỉ là khoản thu nhập của gần 770 người trong suốt 1 năm ròng… Một chục tỉ tiền của dân là rất lớn!
Điển tích có câu “nghìn vàng mua một tiếng cười” để chỉ sự lãng phí, xa hoa cùng cực. Bởi vậy, nếu trong 90 phút ra sân, các học trò của ông Dunga chỉ chạy loanh quanh hoặc với vài bàn thắng vô thưởng vô phạt thì có vẻ không có cả tiếng cười. Khi đó “nghìn vàng” đành đổ sông đổ biển (bởi vì ném qua cửa sổ còn có người nhặt được!).
Tôi rất tâm đắc ý kiến của nhà báo Nguyễn Lưu, rằng “Cuộc chơi nào rồi cũng có cái giá của nó. Hi vọng VFF sẽ tìm được cách làm tốt nhất để đem đến niềm vui đích thực cho người hâm mộ…”. Theo tôi, VFF cần thương thảo chặt chẽ với đối tác để thành phần của Olympic Brazil sang Việt Nam đúng là “hàng xịn”; sự xuất hiện của họ là nhằm phục vụ khán giả một cách tốt nhất… Đồng thời phía VFF phải tổ chức trận đấu thật tốt, cả sân bãi, chuyện họp báo, chụp hình lưu niệm, trọng tài cho đến việc đi lại, ăn ở của đội khách. Đây cũng là dịp tốt để giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới, khi mà hàng triệu người trên thế giới dõi mắt sang Việt Nam để… theo dõi sự ra quân của đội bóng vàng xanh, cùng đông đảo phóng viên các hãng thông tấn lớn đến để thông tin về sự kiện này. Quan trọng không kém là VFF phải “thổi” vào các tuyển thủ Việt Nam một tinh thần thi đấu tích cực, cống hiến, học tập. Nói cho cùng, VFF phải làm mọi cách để trận đấu tốn chục tỉ này “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”!

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2008

Tạp bút

NỖI BUỒN KHÔNG CHỈ CỦA NGƯỜI BÁN CHIẾU

Hò… hơ…
Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm,
Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu,
Chiếu này tôi chẳng bán đâu.
Tìm cô không gặp... Hò... hơ
Tìm cô không gặp, tôi gối đầu mỗi đêm.
Không biết trong đời, soạn giả Viễn Châu có lần nào chứng kiến cảnh tuyệt vọng của một người thất tình chưa mà sao lời bài “Tình anh bán chiếu” của ông lại mùi và cảm động đến thế. Người thanh niên làm nghề dệt và bán chiếu đã phải lòng một người con gái mà chắc cô cũng không phải nhà sang cả gì (vì chỉ thấy một chi tiết là “chiếc giường gõ đỏ”), nhưng có lẽ hai con người, hai cuộc đời ấy chắc khác nhau nhiều lắm. Người con trai mang đầy vẻ lam lũ, nghèo khó và cũng nhút nhát nữa. Còn người con gái, chắ xinh xắn, lại khá giả hơn, dạn dĩ hơn. Trong một xã hội mà sự phân biệt sang hèn còn nặng nề thì đó là một sự cách biệt lớn, dù cô gái đã “tươi cười dẫn tôi đến tận nhà cô” rồi “đưa tôi vào tận phòng riêng để đo ni chiếc giường gõ đỏ”. Người con trai đã mặc cảm và dù anh ngay sau lần gặp gỡ đó, anh đã “lấy nón lá che ngang để giấu đôi dòng nước mắt, vì tôi không muốn bàng quan thiên hạ họ cười tôi là một kẻ si tình”!
Nhưng dường như người bán chiếu đã tự đánh mất niềm hạnh phúc của mình. Cô gái chỉ đặt anh làm một đôi chiếu thế mà mãi đến “mấy trăng qua” anh mới trở lại để rồi nhận được tin người ta “đành đoạn bỏ nhà đi xứ khác”. Về mặt buôn bán anh đã “bội tín” dù anh đã tự nhận “mình dám đâu sai hẹn với người ta” nhưng thực ra anh đã không giữ lời hứa đặt hàng của cô gái. Về mặt tình cảm, anh đã bỏ qua cái “tốc độ” mà dân gian vẫn thường đặt ở vị trí “thứ nhì” trong cuộc chạy đua tình ái. Vậy ra ngay từ đầu anh đã mang tinh thần chủ bại rồi.
Dù có thể suy diễn như vậy nhưng rõ ràng bản thân anh bán chiếu đã không có lỗi, nếu có thì chỉ là anh đã sinh nhầm thời đại thôi. Vào những năm giữa thế kỷ hai mươi, thế cuộc nhiễu nhương, xã hội Việt Nam pha tạp là xứ thuộc địa lại nặng phong kiến mang đầy tư tưởng phân biệt cao thấp, sang hèn, dẫu người bán chiếu không tự ti mặc cảm với thân phận của mình thì anh cũng bị xem là lớp người cùng khổ. Sự yêu đương của những người không cùng giai cấp luôn bị người đời lên án, dù rất vô cớ.
Viễn Châu rồi Út Trà Ôn và bao nhiêu thế hệ thính giả đã khóc vì thương cảm cuộc tình của người bán chiếu cũng như số phận của bao nhiêu người yêu nhau khác cùng cảnh ngộ. Nhưng có lẽ tác giả không đơn giản muốn như thế. “Nước mắt tuôn rơi theo lá rụng bên đường” dường như vì cái lạnh của “gió đông vụt vù thổi mạnh, lạnh đất trời lạnh đến cả tâm can”. Đó là nỗi buồn mất nước, nỗi buồn vong bản, cũng như nỗi buồn cho bao nhiêu kiếp người suốt một đời nghèo hèn, cơ cực, chỉ một mối tình giản dị thôi cũng chẳng thành hiện thực. Đó là nỗi buồn không chỉ của người bán chiếu hay dành riêng cho người bán chiếu.
Bài đã đăng trên Tuần san SGGP, ngày 30.6.2002

Thứ Năm, 17 tháng 7, 2008

Thời sự và suy nghĩ

MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH VÀ VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Vừa qua, Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã cập nhật những thông tin mới nhất về dân số Việt Nam. Theo đó, năm 2007, tỉ lệ giới tính khi sinh ở Việt Nam là 100 bé gái/112 bé trai, tỷ lệ này cao hơn năm 2006 và cao hơn mức bình thường (là 103 bé gái/107 bé trai). Các tỉnh có tỉ lệ giới tính khi sinh chênh lệch lớn là Ðiện Biên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Ðắc Lắc, Ninh Thuận. Ðặc biệt, nếu như năm 2006 chỉ 19 tỉnh thành có chênh lệch tỉ lệ giới tính khi sinh cao hơn mức bình thường thì đến 2007, con số này là 35 tỉnh thành. Theo UNFPA, tỉ lệ giới tính khi sinh trên thế giới là 105 bé trai/100 bé gái. Sự chênh lệch quá cao trong tỉ lệ giới tính khi sinh giữa nam và nữ này là hệ quả của quan niệm truyền thống “trọng nam, khinh nữ”, có sự hỗ trợ của kỹ thuật siêu âm, cho phép biết trước giới tính thai nhi…
Chúng ta không khó nhận thấy những tác hại của tình trạng mất cân bằng giới tính, không chỉ đối với một đất nước. Hiện nay, Việt Nam đang chịu những ảnh hưởng gián tiếp không nhỏ về mặt xã hội do tình trạng mất cân bằng giới tính ở một số nước. Đó là tình trạng “mua vợ”; bắt cóc phụ nữ để bán sang các nước này; dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt phụ nữ để bán sang một số nước hành nghề mại dâm… Đó là những rạn nứt về mặt quan hệ gia đình, về đạo đức do tình trạng hôn nhân với người nước ngoài có yếu tố kinh tế… Đó là tình trạng sức khỏe xấu (cả về thể chất lẫn tinh thần) của một số phụ nữ không tìm thấy hạnh phúc với cuộc hôn nhân ở nước ngoài hoặc bị buộc bán dâm ở các nhà chứa nơi đất khách (trong đó có một bộ phận bị nhiễm HIV/AIDS). Đó là việc tạo ra một hình ảnh không tốt về những người Việt Nam nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng tại các nước này… Như vậy, Việt Nam đang chịu tác động gián tiếp từ tình trạng mất cân đối giới tính ở một số nước.
Trong tình hình chênh lệch tỉ lệ trẻ sơ sinh gái và trai hiện nay, trong mươi mười lăm năm tới, chính nước ta sẽ chịu những tác động trực tiếp mà không kém phần tai hại đối với xã hội và sẽ để lại những hậu quả trậm trọng, lâu dài.
Về sâu xa, có sự liên quan chặt chẽ giữa tình trạng mất cân bằng giới tính và tình trạng bất bình đẳng giới. Trong xã hội, quan niệm “trọng nam khinh nữ” mà biểu hiện rõ nhất của bất bình đẳng giới, thì chính nó cũng tạo ra sự mất cân bằng giới tính, do việc một số người đã dùng các phương pháp khoa học để chọn thai nhi nam. Mặt khác, đến nay, dù đã có nhiều tiến bộ nhưng những biện pháp bảo vệ phụ nữ vẫn chưa phát huy hiệu quả một cách tốt nhất. Nạn nhân bị xâm hại tình dục, bị bạo hành, bị ngược đãi… tuyệt đại đa số vẫn là phụ nữ. Ngay cả những chính sách được coi là ưu đãi cho phụ nữ như nghỉ thai sản, nghỉ khi con nhỏ ốm… vẫn còn nhiều hạn chế nhưng chưa được khắc phục kịp thời. Chẳng hạn, việc cho phép phụ nữ nghỉ thai sản chỉ 4 tháng là chưa đảm bảo sức khỏe cả mẹ lẫn con… Ngoài ra, đối với một số công việc, một số ngành nghề, phụ nữ vẫn còn gặp khó khăn khi tìm việc làm hoặc không được trả lương bằng với nam giới…
Những điều đó có mặt do lịch sử để lại, có mặt do những biện pháp bảo vệ và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ chưa quyết liệt và chưa mang lại kết quả như mong muốn. Vì vậy, trong xã hội ta hiện nay, nhiều người vẫn cảm thấy “nếu sinh ra là phụ nữ là một điều thiệt thòi”! Từ đó, một số người đã chọn con trai khi sinh con, bên cạnh yếu tố truyền thống “nối dòng” vẫn còn in đậm trong tâm thức của nhiều người.
Vì vậy, việc hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính phải kết hợp với nâng cao bình đẳng giới, mà thực chất là nâng cao quyền và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Có như vậy mới tạo ra kết quả mang tính căn cơ và bền vững.
Bài đã đăng báo Sài Gòn Giải phóng ngày 17-7-2008

Tạp bút

CON BÚP BÊ BIẾT ĐI

Qua công tác, tôi quen với chị, một giáo viên văn cấp II. Ban đầu chỉ là quan hệ xã giao, quan hệ công việc. Nhưng dần dà, chúng tôi có nhiều điểm tương đồng có thể chia sẻ với nhau được nên chị em trở nên thân thiết với nhau như là chị em ruột, dù chị hơn tôi khá nhiều tuổi. Mỗi khi chị hoặc tôi có khúc mắc gì đều trao đổi với nhau, không có dịp nói chuyện trực tiếp thì qua e-mail. Tôi xin phép chị được xem chị như người chị lớn của mình.
Tuần trước, chị gửi tặng cho tôi một món quà, nói là tặng cho con gái tôi. Đó là một con búp bê biết đi. Mang về nhà, tôi liền lắp pin vào nhưng nó vẫn không nhúc nhích. Con gái tôi đâu biết rằng con búp bê này biết đi được nên nhìn bộ áo đầm nhiều màu sắc, mái tóc vàng óng ả, cùng hình hài chẳng khác nào một đứa trẻ, nó đã thích lắm. Nó cứ ôm riết trong lòng, nhiều lúc vừa ôm vừa lắc lư người như người ta bồng em bé vậy. Vợ chồng tôi thỉnh thoảng giả bộ mượn búp bê để chơi nhưng nó nhất định không chịu, miệng thì nói “hông, hông”, đầu thì lắc quầy quậy. Tôi bảo: “Em con đó”, lát sau hỏi lại nó: “Em con đâu?”, con bé hai tay ôm con búp bê chìa ra, nói: “Em, em”. Suốt buổi chiều đó nó không ngủ, một mình chơi trò cho bé ăn bằng cái muỗng nhựa, chốc chốc lại bảo: “Ùm, ùm”, y hệt vợ tôi vẫn làm mỗi khi cho nó ăn hàng ngày vậy.
Buổi chiều, chị gọi điện hỏi tôi về món quà. Tôi thành thực nói mình không biết làm sao cho búp bê đi được và nhờ chị chỉ chỗ bán định mang ra đó hỏi. Không ngờ lát sau, chị gọi điện lại hướng dẫn cách sử dụng – thì ra khi nghe tôi nói, chị lật đật chạy ra cửa hàng hỏi rồi về báo lại cho tôi biết. Bây giờ, con búp bê đã biết đi rồi, con gái tôi càng thích thú. Con búp bê đi đến đâu, con bé thụt lùi đến đó, để nhường đường cho “em” đi. Tôi bảo: “Con dắt em đi chơi đi!”, tức thì, nó nắm tay búp bê như thể người ta dắt một đứa trẻ đi chơi vậy. Vừa đi, nó vừa cười khúc khích vì thích thú. Một lát sau, một con bé hàng xóm lớn hơn con tôi 7 tháng tuổi sang chơi, con bé thấy con búp bê biết đi thì sợ hãi, khóc ré lên. Trong khi đó, con gái tôi thì vội ôm lấy con búp bê sợ con bé kia lấy mất! Đêm đó, nó ngủ mà cứ ôm riết lấy con búp bê, thỉnh thoảng trong giấc ngủ còn nhoẻn miệng cười!
Mấy bữa trước, tôi nhận được mail của chị. Đó là một bài viết dài nêu cảm nhận của chị về chương trình “Ngôi nhà búp bê” của thành phố, thông qua câu chuyện cô bé Côdét và con búp bê trong Những người khốn khổ của Victor Hugo. Thú thật, tôi chỉ biết tinh thần của tác phẩm này thông qua tiểu thuyết Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh (đã được chuyển thể thành phim và cải lương) nên không hề biết chi tiết chơi búp bê của cô bé Côdét. Chị kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động này với hàm ý: hầu như em gái nào cũng thích búp bê cả, vì “búp bê là một đòi hỏi bức bách của các em bé gái và đó là biểu hiện đáng yêu của nữ tính ở tuổi các em”; với những đứa trẻ nghèo, bất hạnh thì nỗi khát khao đó lại càng lớn hơn. Tôi rất hiểu suy nghĩ và tình cảm của chị thông qua con búp bê này, dù trước đó, chị từng nhắn tin: “Chị tặng búp bê vì chị rất thích búp bê. Nếu con em không thích thì để mẹ cháu chơi cũng được!” Một sự chu đáo trên cả tuyệt vời! Nhưng vợ tôi không có cơ hội để chơi con búp bê của chị rồi, vì con gái tôi rất thích món quà đặc biệt của người bác mà nó còn chưa biết mặt. Dù bây giờ con tôi mới mười tháng tháng tuổi, còn lâu mới được tám tuổi như cô bé Côdét trong Những người khốn khổ!
Sự liên tưởng của chị làm tôi rất cảm động và món quà của chị càng trở nên có ý nghĩa. Con gái tôi dù sinh ra trong một gia đình không phải khá giả nhưng thực tế cũng may mắn hơn rất nhiều đứa trẻ khác. Đó là đứa hạnh phúc, nhưng niềm hạnh phúc ấy còn chưa đầy đủ cho đến ngày nó nhận được con búp bê biết đi. Qua câu chuyện về cô bé Côdét, dường như chị đang nhắc nhở tôi về trách nhiệm đối với đứa con của mình, đồng thời phải biết quan tâm đến những đứa trẻ khác. “Trẻ em như búp trên cành” mà!
Ai đó đã nói rằng: hạnh phúc tức là mang niềm vui đến cho người khác. Một con búp bê biết đi, tuy cũng đáng giá thật, nhưng có lẽ ít hơn nhiều so với niềm vui của con gái tôi, của vợ chồng tôi về món quà tuyệt vời đó. Và, chắc cũng chẳng thể so được với niềm vui của chị khi chị biết rằng món quà của mình đã mang đến niềm hạnh phúc thật ngọt ngào cho cả một gia đình khác!
Một con búp bê nhỏ nhưng ý nghĩa lớn lao thay!

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2008

Thời sự và suy nghĩ

KHI CÁN BỘ CHỈ ĐƯỢC NHÌN TỪ THÂN THẾ!

Anh bạn tôi hiện đang làm việc tại một ban đảng Thành ủy có lần kể chuyện anh cho là vui mà bằng giọng buồn buồn: “Có lần đi công tác gặp một chị làm việc ở một đoàn thể cấp thành phố. Sau khi giới thiệu đôi nét về bản thân và nơi công tác, chỉ buột miệng bảo: “Em còn trẻ vầy mà làm việc ở đó, chắc có gốc lớn lắm hả?”. Mình nhớ chuyện này hoài vì thực ra mình đâu có gốc gác gì mà lớn với nhỏ!” Anh bạn tôi không nói thẳng ra nhưng rõ ràng là hàm ý nhắc đến việc tại sao người ta hay nghĩ đến chuyện gốc gác, thân thế, quen biết… khi thấy ai làm việc ở nơi nào đó mà họ nghĩ là chỉ có người ở “thành phần” hay “đẳng cấp” nhất định mới vào được? Nếu liệt kê ra e không khó, nhưng như vậy có phải đề cao nơi công tác đó hay khiến người ta nhìn nhận lệch lạc rằng đó chỉ dành cho những người “nhất thân nhì thế”, nhưng người thuộc dạng “con cháu các cụ cả”?
Lâu nay, cái mà người ta vẫn gọi là “chủ nghĩa lý lịch”, “chủ nghĩa gia tộc” vẫn tồn tại khá đậm nét trong công tác cán bộ, công tác nhân sự tại các cơ quan nhà nước. Lắm khi người ta quan trọng chuyện “cán bộ đó con cháu của ai” hơn là “cán bộ đó có năng lực thế nào”. Đành rằng nếu cán bộ có lý lịch gia đình “rõ ràng”, “đáng tin cậy” (dân gian hay gọi là “đỏ”) mà có năng lực thì dĩ nhiên rất tốt (vừa “hồng vừa chuyên”. Nhưng trên thực tế còn có những dạng khác: cán bộ tuy có lý lịch “đỏ” nhưng trình độ, năng lực chưa hẳn đã tốt hoặc dạng cán bộ tuy lý lịch không “đỏ” nhưng lại có năng lực vượt trội… Hai dạng này đương nhiên nhiều hơn hẳn dạng thứ nhất. Thế nhưng khi xét tuyển hoặc xét đề bạt, bổ nhiệm, cơ cấu thì thường dạng cán bộ có lý lịch “đỏ” được ưu ái hơn. Từ đó, dân gian mới có suy nghĩ hễ người làm việc ở một số vị trí, một số cơ quan nào đó ắt hẳn có thân thế lớn và ngược lại, người đã có thân thế tốt thì sớm muộn gì cũng lên chức…
Trong thực tế, lâu nay vẫn tồn tại những cơ quan mở rất hẹp cửa cho “người ngoài”, mà hầu như chỉ dành cho “người nhà” – vừa gửi gắm, vừa con em của chính cán bộ, lãnh đạo của đơn vị đó. Với cách chọn người như vậy, có phải là có trường hợp “bị ép” nhận hoặc bố trí người không phù hợp nhưng do thân quen hoặc “để sót” người có năng lực nhưng thiếu gốc gác? E rằng tình trạng này không hiếm.
Lâu nay người ta vẫn nói nhiều đến chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” nhưng trên thực tế người “hiền” và “sĩ” vẫn chưa cảm thấy mình được đề cao và trọng dụng đúng mức. Vì vậy có lúc có nơi, một số người có năng lực, có lòng tự trọng đã không muốn làm việc cho những nơi hoặc trong điều kiện mà sự thân thế chi phối năng lực. Đó là hiện tượng “chảy máu chất xám”. Xét cho cùng nếu hiện tượng này diễn ra đúng quy luật tự nhiên là “chảy về chỗ trũng” thì còn dễ chấp nhận, nhưng nếu nó lại diễn ra vì chính chỗ trũng có quá nhiều chỗ mấp mô, quá nhiều sự cản trở thì thật đáng tiếc.
Đã đến lúc người làm công tác tổ chức phải “thoáng”, phải “cởi mở” hơn nữa. Đã đến lúc nên xếp “chủ nghĩa lý lịch” sang một bên để chọn người có thực tài, có đạo đức, có tâm huyết. Ở cơ quan nào cũng vậy!

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2008

Kỷ niệm gia đình

MỘT NGÔI NHÀ MƠ ƯỚC

1. Tuổi thơ tôi gắn liền với những ngày “mưa tạt gió lùa”, “nhà dột cột xiêu”. Không phải “nhà không có nóc” mà chính vì nhà nghèo quá, cha mẹ mải bận kiếm sống và không có điều kiện để làm được cái nhà cho chắc chắn. Mấy chục năm trước, mỗi mùa đến, ba tôi phải dùng dây kẽm “xiềng” cái nhà vào mấy gốc dừa, chằng chịt. Mưa rồi, thế nào nhà cũng có mấy chỗ dột, mấy anh em tôi cầm thau chạy tới chạy lui để hứng nước, nhưng rồi cũng có mấy chỗ ướt đầm, đất thịt ngấm nước nhão nhoẹt, đi phải bấu những ngón chân mới khỏi ngã…
Nhà lá, cột chôn, kèo đòn tai đều bằng tre hoặc gỗ tạp nên chỉ vài mùa đã “xuống cấp”. Có lần, ba tôi đi làm ăn xa, mới sáng sớm nhưng đã có một cơn giông nhẹ đi qua, ngôi nhà kêu răng rắc rồi đổ sập xuống, tôi chỉ kịp chạy ra ngoài mà không kịp hoàn hồn. Thì ra mất cây cột yếu lại chôn dưới đất bị ngấm nước mặn rất mau mục… Vậy mà chiều đó có người đồn rằng ba tôi nhậu say xô sập nhà…
Những kỷ niệm về ngôi nhà thời thơ ấu là như vậy đó, tôi mãi mãi không quên.
2. Sống ở nông thôn, nhà thường cất sơ sài nhưng luôn rộng rãi. Sơ sài vì không thể cất kiên cố nhưng đất đai thì có sẵn, cất rộng bao nhiêu tùy thích. Hồi nhỏ, nhà nghèo nhưng nhà ngoài ba gian chính còn có hai chái bếp. Trên nhà chính, tuy không ngăn phòng nhưng ngoài các giường ngủ, luôn có một phần để đặt bồ lúa. Ở nông thôn, làm nông dân, ai cũng quan tâm đến cái bồ lúa; bồ to hay nhỏ không chỉ thể hiện làm lúa có trúng hay không mà còn phản ánh sự khá giả của mỗi gia đình. Nếu bồ lúa to tức là lúa năm trước còn để lại, cũng tức là có nguồn thu nhập khác để chi tiêu, lúa chỉ để chà gạo chứ không phải bán lấy tiền. Ở các chái lá nhà bếp, kho để củi và chuồng gà…
Ngày xưa không có điện, mỗi tối ba thắp một chiếc đèn dầu tim (bấc) lớn đặt giữa nhà để mấy anh em tôi quây quần học bài. Ba mẹ sau khi làm xong việc nhà cũng nằm nghỉ trên chiếc đi văng bên cạnh nghe chúng tôi ê a học hoặc giải đáp những câu hỏi bất chợt của chúng tôi. Học bài xong, thế nào cũng có “tiết mục” kể chuyện. Giọng của ba tôi trầm trầm thật tuyệt vời, kể hết chuyện cổ tích đến truyện Tây truyện Tàu… Ba đọc nhiều lại có trí nhớ tốt nên chuyện nào cũng rành mạch, hấp dẫn. Những chuyện kể của ba đi vào giấc ngủ ăn thành tiềm thức, lớn lên không thể quên và góp phần định hình tính cách của chúng tôi…
3. Qua thời gian, chúng tôi lần lượt có những ngôi nhà. Cứ vài mùa mưa, nhà lại được lợp lớp lá mới. Mỗi hai xác lá, nhiều cột kèo phải thay mới do cây tạp đều mục nát. Mãi sau này, dù đã có nhà mái tôn nhưng chưa bao giờ được cất bằng gỗ tốt. Vì vậy, mỗi mùa mưa, dù ít dột nhưng vẫn còn chịu cảnh gió lùa…
Bây giờ, nếu nghĩ về một ngôi nhà mơ ước, tôi thích nhất có ngôi nhà ngói chữ “đinh” truyền thống. Nhà ngói không ồn ào khi mưa xuống, không nóng bức trong mùa nắng lại biểu hiện sự sung túc của nông thôn. Nhà chữ “đinh” là kiểu nhà được ưa chuộng ở nông thôn trước đây với không gian rộng rãi, hình thức dễ nhìn.
Tôi cũng ước ngôi nhà ấy bên cạnh các phòng chức năng chính (nhà bếp, nhà vệ sinh, phòng ngủ…) phải có thư phòng (vừa là phòng đọc sách, phòng làm việc vừa là thư viện gia đình), phòng khách phải đủ lớn (vừa tiếp khách, vừa là nơi họp mặt gia đình, vừa là nơi cả nhà tập trung xem truyền hình…). Xã hội hiện đại tôn trọng những điều riêng tư nhưng cũng cần có những khoảng thời gian ở bên cạnh và chia sẻ niềm vui với các thành viên trong gia đình.
Tôi cũng ước bên ngoài ngôi nhà ấy, phải có một khoảng sân rộng vừa tạo không gian thoáng đãng, thoải mái vừa có thể làm một khu vườn nho nhỏ. Trong vườn, thế nào cũng có một vài cây dừa để nhắc nhở mọi người trong gia đình luôn nhớ đến quê hương Bến Tre của mình. Tôi cũng thích trồng đôi cây ngọc lan vừa lấy bóng mát vừa để tận hưởng hương hoa dìu dịu, thanh khiết của nó. Và dĩ nhiên, không thể thiếu một vườn rau vừa có rau sạch ăn trong gia đình vừa để nhắc nhở xuất thân nông dân của mình. Vài luống rau muống, vài bụi húng, quế, ngò, ớt, hành, sả… hoặc có thêm giàn mướp, giàn bầu… không chỉ gợi cho mọi người không quên ngôi nhà của mình thời thơ ấu mà còn giúp bữa cơm thêm đậm đà…
Thực ra ước ao đó không phải là phi thực tế, ngay cả trong điều kiện của đô thị. Một khuôn viên rộng khoảng 100m2 vẫn có thể thực hiện được ý tưởng này, dù có thể cần phải có đôi chút cách điệu. Chẳng hạn, thay vì có hai gian riêng nối lại với nhau thì chỉ cần một gian chính và một gian nhỏ đấu vào, tạo nên chữ đinh cách điệu; vườn rau có thể trồng trên sân thượng… Một ngôi nhà hai tầng sẽ rất xinh xắn…
*
Ôi ngôi nhà mơ ước thì vẫn cứ là ước mơ. Đến bây giờ, quỹ thời gian của ba mẹ tôi ngày một ít đi thì ngôi nhà mà tôi mơ ước vẫn chưa thành hiện thực.
Nhưng trong ngôi nhà còn bề bộn, còn thiếu nhiều thứ của ba mẹ tôi ở quê vẫn tràn ngập những điều mà nhiều gia đình khác mong ước, đó là tình thương, đó là hạnh phúc. Dù ở xa nhưng ba mẹ vẫn dõi theo từng bước đi của tôi, vẫn trông ngóng chúng tôi trở về. Ngày về, ba mẹ ôm lấy đứa cháu nội vào lòng, hỏi han con dâu và thế nào ba cũng dành nhiều buổi để nói chuyện với tôi, như một người bạn xa cách lâu ngày… Ngày về, các em tôi mừng rỡ chuyện trò không biết chán…
Ngôi nhà ấy của ba mẹ tôi không chỉ có một vườn cây trái xum xuê mà còn đầy ắp tiếng cười, đầy ắp tình thương…
Dẫu sao, ngôi nhà ấy cũng đã là một ngôi nhà mơ ước rồi!

Bài thơ thứ 14

CON TRÒN 600 NGÀY TUỔI

Con đã sáu trăm ngày tuổi rồi đó con ơi
Ba giật mình: mới đó đã sáu trăm ngày rồi nhỉ?
Không phải nuôi con tính tháng tính ngày
Nhưng ba biết con từng ngày khôn lớn.

Sáu trăm ngày con quanh quẩn
Vì con vẫn còn bé bỏng mỏng manh
Vẫn tay mẹ chân ba triều mến
Vì con như chiếc chồi lá xanh xanh.

Sáu trăm ngày qua nhanh
Con biết bò, biết đi rồi biết chạy
Sáu tháng con ở nhà với ngoại
Mười hai tháng tròn đi nhà trẻ cùng ba.

Con biết nói rồi con biết ca
Những bài hát ngây thơ bằng giọng con ngọng nghịu
Con cũng biết đòi và hay nhõng nhẽo
Hay khóc nhè dù nước mắt chẳng hoen mi!

Con hay hỏi ba: “Cái đó là gì?”
Con hay chỉ những vật xung quanh con nhìn thấy
Con đã phân biệt được xe hơi hay xe máy
Đâu chiếc xích lô, đâu chiếc ba gác trên đường.

Xấu tính này con, con chẳng nhịn nhường
Hay tranh đồ chơi cùng bạn Cún
Hay cà nanh chị Phương khi ba ẵm nựng
Hay dỗi hờn khi ai làm con chẳng được vui.

Nhưng con rất ngoan và rất hay cười
Con biết «ạ» và cúi đầu lễ phép
Con biết vâng lời các cô trên lớp
Không tè dầm và luôn biết ngồi bô.

Mười lăm tháng con gọi rõ “ba ba”
Mỗi buổi thiếu ba con lên giường chẳng ngủ
Mỗi sáng thấy vắng ba con níu tay hỏi mẹ
Chừng như con muốn ba ở mãi bên mình!

Trông con ai cũng nói thông minh
Ba chẳng biết, ba chỉ mong con khỏe mạnh
Đừng mỗi tháng đôi lần con đã bệnh
Ngủ giấc chẳng đầy cân chẳng lên cân.

Sáu trăm ngày yêu quý con cưng
Ba mẹ đã thêm sáu trăm ngày hạnh phúc
Có con, tiếng cười nhà mình thêm tràn ngập
Mỗi tối lên đèn có ba ngọn nến lung linh…
18-7-2006

Bài thơ thứ 13

CON HỌC NÓI

Tám tháng con gọi “ba”
Tiếng đầu tiên lạ lẫm
Những lời con rất chậm
Chan chứa tình yêu thương!

Tuổi tròn con đến trường
Con học chơi, học hát
Vẫn tiếng “ba” trước nhất
Bài hát hoài: “ba, ba”!

Bàn tay con như hoa
Xinh xinh xoè năm cánh
Điệu múa con ngộ nghĩnh
Hòa bài hát “ba ba”.

Mỗi ngày đi học xa
Giữa đường con hay chỉ
Con hỏi và suy nghĩ
Đớt đác và ngây thơ.

Thêm mỗi ngày đi qua
Lời con thêm tròn chữ
Giọng thương thương trong trẻo
- Tiếng con thêm nhiều hơn.

Hai mươi tháng vừa tròn
Con bi bô bi bô
Những tiếng hót líu lô
Của chim non tập hót.

Tiếng con như mật rót
Ngọt ngào và mê say
Ba nghe suốt đêm ngày
Càng nghe và càng thích!

Mỗi ngày con đùa nghịch
Tiếng con thêm nhiều hơn
Hòa trong giọng cười giòn:
- Chắc mai con biết đọc!
28-7-2006

(con 20 tháng và 1 ngày)

Truyện ngắn

CÂU CHUYỆN NGƯỜI TRÚNG SỐ

Cái tin ông Năm trúng độc đắc mười một tờ vé số chẳng mấy chốc lan nhanh khắp vùng. Nguồn tin bắt nguồn đầu tiên có lẽ là từ ông Hai Gòn, người được mệnh danh là "người phát ngôn" của xóm Giá Tỵ. Ông có một khả năng phán đoán tình hình và nắm bắt thông tin cực kỳ nhạy bén, nếu ông được đào tạo để trở thành nhà báo chuyên nghiệp thì tuyệt vời hơn rất nhiều so với cái danh "nông dân thuộc diện xóa đói giảm nghèo" hiện tại của ông. Hồi sáng này, ông Hai ghé nhà anh Bảy Thảnh để mượn chiếc xe thồ chở phân. Hỏi mượn xong, ông liền dắt xe đi ngay, chắc để kịp bỏ cho đám bắp đương thì, mà cũng có thể là để cho mọi người thấy rằng ông là người luôn bận rộn, còn nhà vẫn nghèo là tại… số kiếp chứ chẳng phải tại ông kém cỏi hay lười nhác. Lúc ông đẩy xe được một đoạn thì anh Bảy đã châm trà xong mới mời ông vào uống và nói vọng ra ngoài, tưởng chừng ông Hai vẫn còn ở gần đâu đấy. Có lẽ tại tiếng lộc cộc của chiếc xe khiến ông Hai không nghe rõ lời mời của anh Bảy nhưng mấy lời này ông thì ông tin rằng mình nghe rõ:
-Anh Hai hay gì chưa? Ông Năm trúng mười một tờ vé số.
Hơi bất ngờ một chút nhưng ông Hai nhận ra ngay: ông Năm thường ngày rất hay mua vé số. Nghe nói hồi xưa ông Năm mua vé số đến sạt nghiệp, phải bán nhà mặt tiền để vào đây mua đất làm rẫy. Vậy mà vô đây rồi, ông ta cũng chẳng bỏ cái tật mua vé số. Nhưng kỳ này lão ấy đỏ rồi. Ông vừa nghĩ vừa chậc lưỡi, không hiểu ý gì. Vừa đẩy xe đến nhà, ông oang oang ngay với bà Hai:
-Thằng Bảy Thảnh mới vừa nói với tôi, ông Năm trúng mười một tờ vé số. Bà tin hôn?
Bà Hai tròn mắt:
-Thiệt hôn?
-Sao hổng thiệt. Ông mê vé số lắm!
Bây giờ đến lượt bà Hai chậc lưỡi. Trên đường ông bà ra vựa phân, cả hai đều rất vui vẻ, sốt sắng báo cái tin sốt dẻo này với mọi người. Kẻ ra người vào, ai đi bộ, đẩy xe thồ hay cưỡi xe đạp đều được ông bà cung cấp tin miễn phí. Chỉ có mấy người đi xe máy là ông kêu không kịp thôi! Vậy là chẳng mấy chốc tin này đã lan khắp vùng. Ông còn đoan khi với người này rằng ông tận mắt thấy thằng Dần con trai ông Năm đi thành phố lãnh tiền, lúc chắc với người khác rằng cả nhà thuê xe đi lãnh, như thể để chứng minh cho những lời của ông là hoàn toàn sự thật. Hình như nhờ vậy mà quãng đường từ nhà ra đến vựa phân của ông ngắn hơn, ông cảm thấy khỏe khoắn hơn. Đến đây, ông tiếp tục "khoe" cái tin giật gân ấy với mọi người. Khi nghe tin này, vợ chồng ông có cảm giác mình trở thành người quan trọng vì đã là nguồn của một tin đáng nghe nhất năm! Hai ông bà sung sướng ra mặt, khi trả tiền mua phân xong liền chất bao lên xe đẩy về chứ không đòi cân lại xem có đủ ký không. Khi đã ra khỏi vựa phân, hai vợ chồng ông bà vẫn còn nghe tiếng bàn tán rất sôi nổi của mọi người về sự kiện này. Người ta còn thi nhau kể các câu chuyện trúng số thiệt và trúng hụt mà mình biết được, như đang vào một cuộc thi kể chuyện trúng số vậy!
Chỉ trong buổi sáng thôi, xóm Giá Tỵ sôi động hẳn như có một điều kỳ lạ xảy đến. Người ta xôn xao bàn tán về mười một tờ vé số và về gia đình ông Năm. Trừ thuế rồi cũng còn những năm trăm triệu chứ chẳng chơi, bằng mười mấy mẫu rẫy, làm cả đời cũng không thấy. Người ưa thì bảo rằng, gia đình ông Năm trúng mánh, giàu càng giàu thêm, phen này ổng khỏi than vãn chuyện cả năm đứa con đi học đại học nữa. Có người còn định chỉ chỗ này bán đất, chỗ kia sang nhà cho ông như một cách tạo mối quan hệ tốt với ông, mà mọi người đều biết rằng vợ chồng ông hễ có dư tiền là mua đất, đến nay trở thành người có nhiều đất nhất xóm, với cả chục mẫu. Kẻ không ưa thì cười ruồi, tiền đến thì tai vào. Ở đời, mấy thuở chim ỉa miệng chai, thấy vậy mà hổng phải vậy đâu. Trúng số mấy trăm triệu không mấy bữa cũng tan hết, của thiên trả địa mà!
Đến trưa, anh Tám Kẹt, cháu gọi ông Năm bằng bác họ ghé nhà, là người đầu tiên đến "chúc mừng" ông Năm trúng số độc đắc. Dọc đường, anh chuẩn bị câu chúc làm sao cho hay thiệt hay, ít ra cũng kiếm được bữa nhậu. Anh Tám tuy không phải là "bợm" hay "hũ chìm" nhưng uống rượu đối với anh như người ta uống nước. Có ai không uống nước mà sống nổi hôn? Nghĩ vậy, chứ anh cũng ngán, vì bình thường, mỗi khi gặp ông bác, thế nào anh cũng bị ổng rầy rà, nào là tối ngày lo nhậu nhẹt, nào là không lo mần ăn, nào là… nói chung là đủ thứ những thứ hư đốn trên đời, ông bác cũng dành để nói về anh. Thực ra anh chẳng ưa gì ông Năm, nhưng anh nghĩ mình là phận làm cháu, ổng có thương ổng mới rầy rà, thôi kệ, bữa nay cứ ghé, ông đang vui chắc không giận, anh nghĩ thế mà yên tâm đến nhà ông Năm. Lũ chó nghe hơi người lạ bèn sủa um, anh Tám hơi ngại, nhất là sao lâu thấy ông Năm hay anh Hai Dần ra đuổi chó. Anh nghĩ chắc hai người này đi lãnh tiền rồi. Anh hít một hơi sâu rồi xăm xăm đi vào, vậy là chắc cú rồi, đố có trật nữa nhé!
Anh vừa vô nhà, không thấy xe của ông bác và người anh họ hay dựng ở trước nhà, không thấy cả người mà chỉ thấy bà Năm bước ra hỏi:
-Kẹt hả? Tới hồi nào vậy? Đi vô nhà chơi!
Anh Tám dạ dạ chứ trong bụng rối lắm, vì không biết mở miệng hỏi làm sao, mà nếu có "gì" cũng chẳng xơ múi được, chẳng lẽ trơ trẽn xin bác gái xị rượu? Anh còn đứng tần ngần chưa biết làm sao thì lại có tiếng chó sủa. Từ ngoài vườn, bà Ba Bầu đi vào. Bà Ba là em họ của ông Năm, theo vai vế, thì anh Tám phải gọi bằng cô, nhưng bà Ba có chồng là anh họ của anh Tám nên cuối cùng anh gọi bằng chị. Bà Ba là nhân vật được nhiều người biết vì… luôn có bầu nên chết danh đó. Tính sơ sơ bà có chừng… một tiểu đội, hay một đội bóng, sàng sàng nhau, thấy phát ngán. Thấy bà Năm đang đứng đuổi chó, bà Ba chưa vô tới thềm nhà đã lên tiếng ngay:
-Trời, trúng số đậm rồi nuôi chó đông dữ hén!
Chẳng biết bà nói mát hay nói lạnh, nhưng kỳ thực thì bầy chó này đã có lâu lắm rồi, hết con này đến con khác, nối nhau nhập bầy nên lũ chó luôn đông đúc, mà người không ưa bảo là "chó hùa".
Bà Năm chưng hửng:
-Ủa trúng số gì cô Ba?
-Trời ơi, chị còn giả ngộ nữa! Anh Năm với thằng Dần đi lãnh số rồi còn gì. Tôi chúc mừng nghen!
Bà Năm chưa kịp trả lời thì Tám Kẹt đã nói:
-Con cũng nghe vậy đó bác Năm. Chúc mừng hai bác nghen!
Bà Năm chỉ cười mà chưa biết nói gì, thì thấy anh Tư Tẻn tay phải cầm chai rượu, tay trái xách cái đùi cầy đi vô:
-Vô mánh, vô mánh hén! Chú thím Năm kỳ này trúng mánh lớn hén. Bởi vậy, tôi mần con cầy qua chúc mừng đây.
Nghe vậy, Tám Kẹt cười khẩy: Chả mần cầy nhậu từ hồi khuya, bày đặt dóc tổ nói mần ăn mừng.
Bà Năm mời mọi người ngồi rồi thanh minh:
-Có trúng số gì đâu? Nghe ổng nói hình như trúng an ủi hay số đầu gì đó, chứ đâu có trúng độc đắc. Ổng với thằng Dần đi xóm đâu đó chứ đi lãnh gì đâu, trời đất, trúng đâu mà lãnh…!
Bà Năm nói hình như chưa hết ý, bà Ba đã chen ngang:
-Thôi chị ơi, chị trúng thì chị hưởng chứ tụi tôi có nhờ được gì mà phải giấu?
Bà Năm phải buột miệng:
-Nhưng mà có trúng đâu…
Anh Tư Tẻn cắt ngang:
-Nói thiệt với thím, nhà tui nợ ngân hàng tới hạn, thiếu có năm triệu mà không có tiền trả, chú thím coi cho mượn đỡ để trả, nếu không chắc vợ chồng tui phải bán đất quá.
Anh nói xong, anh hơi sụt sịt như sắp khóc. Sẵn dịp, bà Ba cũng lên tiếng:
-Tui tính sang lại cái quán của bà Hai Già, mà còn thiếu khoảng ba triệu nữa, chị coi cho mượn đỡ, để vợ chồng tui còn kiếm chác mà nuôi con. Coi như chị là phúc, làm từ thiện vậy.
Bà Năm chưa kịp nói gì thì ở ngoài, hai tay cán bộ địa chính và thuế nông nghiệp xã ngất ngưỡng đi vào. Trông dáng thì hình như họ đã chơi "tăng một" ở đâu đó rồi, không chừng là nhà nào muốn miễn thuế đất nông nghiệp do xã được công nhận vùng 135, hoặc xóa diện tích đất thổ cư, chứ chẳng gì khác. Tám Kẹt chẳng ưa gì mấy cha này, tối ngày xách đít đi gài độ nhậu. Tới nhà ai cũng đòi mần cầy. Bầy chó hình như biết mấy người "sát cẩu" vào nên sủa dữ dội. Tức thì một anh la to:
-Bà Năm ơi, mần mấy con cầy này nhậu đi! Nó sủa hỗn quá, chó để giữ nhà với để nhậu chứ đâu phải để… sủa?
Bà Năm phải ra đuổi đám chó đã bám sát mấy người khách lạ, vừa mời hai người vào. Tám Kẹt thấy tình hình căng quá, bèn im im lảng mất, bỏ mặc bà Năm phải "vật lộn" với mấy con người kia. Anh càng chắc rằng ông bác mình trúng số thiệt. Vừa đi anh vừa gật gù: Không trúng thì cầu cho trúng, chứ trúng rồi cũng chẳng sướng ích gì! Chợt anh nhớ câu thơ của ai đó mà ông Năm hay đọc: Thớt có tanh tao ruồi mới đậu!
Anh suy nghĩ miên man, chẳng mấy lúc đã đến nhà anh Bảy Thảnh. Nghe tiếng ông Năm đang nói chuyện trong nhà, anh liền ghé vào. Vừa đặt đít ngồi, anh đã hỏi ngay:
-Bác Năm, bác mới trúng số độc đắc phải không? Mười một tờ?
Ông Năm cười ngất:
-Bậy mày, trúng đâu mà trúng. Tao mà có số trúng số độc đắc chắc trúng lâu rồi.
Nói rồi ông cười hà hà. Anh Bảy Thảnh cũng cười cười nói:
-Sao anh không nói mới trúng hụt mười một tờ cho thằng Tám nó biết, để khỏi thắc mắc?
Tám Kẹt tròn mắt nhìn hai người, ông Năm lại cười:
-Trúng hụt mày ơi! Hôm qua tao mua mười một tờ, trúng an ủi hết.
Nói rồi ông kể lại từng chi tiết. Hôm qua, ông Năm nhờ anh Bảy ráp cái bình ắcquy. Dân xứ này chưa có điện nên toàn là xài ắcquy thôi. Ông Năm cũng biết làm bình nhưng ông không khéo tay nên mới nhờ anh Bảy làm cho đẹp. Làm xong, ông gửi cho anh Bảy năm chục ngàn tiền công mà anh không nhận. Ảnh bảo: lối xóm mà, tiền bạc gì. Ông Năm nghe vậy hổng biết làm sao, mời anh Bảy nhậu cũng không được vì anh rất ít khi nhậu. Bởi vậy, buổi chiều đi chợ, ông mua mười một tờ vé số, ghé đưa cho anh Bảy năm tờ, ông giữ lại sáu tờ và nói: tặng chú mày hai trăm rưỡi triệu nè! Không ngờ chiều trúng an ủi cả.
Nghe kể xong, Tám Kẹt vẫn chưa tin:
-Thiệt là bác không trúng độc đắc?
Anh Bảy cười ngất:
-Bậy quá mầy ơi. Trúng gió chứ độc đắc cái gì. Tao nói với ổng, nếu ổng không chia cho tao năm tờ chắc hổng trúng giải gì rồi.
Ông Năm cũng cười:
-Chú Bảy hên thiệt nghen! Hồi nào tới giờ, tôi toàn trúng lô đầu hai con thôi. Mấy lần mua tặng người này người kia mà có lần nào trúng đâu.
Anh Bảy tiếp lời:
-Tám, mày thấy tao hay hôn, tao hổng lấy năm chục ngàn mà giờ được năm trăm ngàn. Tao mà lấy, ổng tiếc tiền đâu dám mua số, ổng hổng được sáu trăm mà tao cũng hổng có năm trăm. Thiệt hay không bằng hên! Ủa sao thằng Tám biết anh trúng số vậy anh Năm?
-Thì tui cũng đang thắc mắc đây.
-Thôi tôi nhớ rồi. Hồi sáng, anh Hai Gòn ghé tôi mượn xe thồ để chở phân. Tôi có rủ vả vô uống nước, rồi báo tin anh xém trúng mười một tờ độc đắc. Tôi tưởng vả ở ngoài, ai dè một lát ra thì hổng thấy đâu hết. Vậy chắc vả phao tin rồi.
Ông Năm bỗng quay qua hỏi Tám Kẹt:
-Ủa, sao mày biết tao trúng số? Phải Hai Gòn nói với mày hôn?
Tám Kẹt cười cười:
-Giờ thì cả xã này ai mà không biết bác trúng mười một tờ. Hổng tin bác về nhà coi, cả nhà người đang ví bác gái đó.
Nghe vậy, ông Năm lật đật đứng dậy, không kịp chào anh Bảy, vội dắt chiếc 67 về riết. Anh Bảy liền hỏi Tám Kẹt:
-Ở đẳng sao vậy mậy?
Anh Tám vừa đứng dậy ra về vừa nói:
-Thì anh lại đẳng thì biết chứ gì!