Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2008

Tạp bút

MỘT NGHỀ LƯƠNG THIỆN!

Trên đường đi Đà Lạt, qua khỏi "đá ba chồng" ở thị trấn Định Quán (tỉnh Đồng Nai) là khu rừng giá tỵ trồng ven hai bên đường dài hơn 3 cây số. Nhiều người nói rằng rừng này trồng vào khoảng năm 1960. “Đệ nhất phu nhân” của Ngô triều Trần Lệ Xuân có tham vọng là sẽ dùng gỗ để sản xuất báng súng tiểu liên (!). Có lẽ bà ta nghĩ rằng chế độ Ngô Đình sẽ còn tồn tại lâu dài (ít ra cũng phải ba bốn mươi năm) để có thể khai thác số gỗ đó. Nhưng may thay (!), họ Ngô yểu mệnh, “thọ” được chín năm và khu rừng này lúc đó chỉ mới vài tuổi đã phải thay chủ.
Giá tỵ (còn gọi là tếch) là loại cây thân to, lá mọc đối, hoa màu trắng, gỗ màu vàng nâu, rắn và bền, thường dùng để đóng tàu biển. Gỗ giá tỵ ít bị mối mọt ăn và là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Hiện khu rừng giá tỵ này nằm trên địa phận các xã Phú Tân, Phú Lợi (huyện Định Quán) và thị trấn Tân Phú, là rừng đặc dụng quốc gia, được bảo vệ khá nghiêm ngặt. Hàng năm, các cây chết được bổ sung bằng cây con mới mọc lên từ hạt rụng.
Đầu mùa mưa, sự sống trở về sau cái nắng khô rát cao nguyên. Rừng giá tỵ phủ lá xanh trở lại. Một số người dân địa phương bắt đầu đi hái lá. Họ hái bằng hai cách: leo lên cây rồi bẻ những cành nhỏ có nhiều lá thả xuống; dùng sào dài có cột móc sắt rồi kéo gãy những cành thấp. Sau đó, họ lựa những lá to, dày, không bị rách xếp lại thành xấp vài chục lá. Lá giá tỵ khá xấu vì nhám và to sần, nhưng qua bàn tay đẫm mồ hôi của những con người yêu lao động, chịu khó (và cũng chịu khổ), chúng cũng giúp cho nhiều người có cái ăn, cái mặc. Lá giá tỵ được đặt trên những chiếc xe đạp thồ chở bỏ mối cho những người bán ngoài chợ dùng để gói rau, gói cá…
Rồi mưa ngày một nhiều, sức sống tăng thêm nhưng lá dần già đi, rách bươm và xấu xí, bao nhiêu sự sống của giá tỵ bắt đầu dồn hết cho những chiếc hoa trắng li ti để tạo một thế hệ mới. Lá xấu, người ta không hái nữa. Họ có thể chuyển sang làm nghề gì đó không rõ nhưng bước đường kiếm sống của họ chắc cũng không dễ dàng hơn bao nhiêu đâu. Có người trong số họ đang chờ một mùa mới. Mùa khô. Nắng cao nguyên như thiêu đốt những chiếc lá giá tỵ và làm chúng lần lượt lìa cành. Lúc này hoa đã kết thành quả, và khi quả khô, ngả một màu xám ngắt. Có những người chờ đợi đến ngày này – mùa hái trái. Chỉ là hái trái mà không phải thu hoạch, vì họ không trồng mà chỉ tận dụng sự rơi vãi tự nhiên để tìm nguồn sống cho mình. Vì trái đều ở trên ngọn nên họ phải leo lên cao mà rung thật mạnh để trái rụng xuống. Giá tỵ tuy dẻo nhưng phải là thân to kìa, còn cành nhỏ lại rất giòn. Sơ ý trượt chân là ngã như chơi. Có lúc người leo cây toòng teng trên thân cây khẳng khiu mà chống chọi với những cơn gió mạnh thổi qua tưởng chừng họ là những chàng Tarzan vậy – những chàng Tarzan bất đắc dĩ! Rung xong, họ lại leo xuống và nhặt những quả vừa rụng. Công việc cũng âm thầm, lặng lẽ như lúc hái lá, dù mùa này cả rừng cây đã trụi lá, bớt vẻ lạnh lẽo, hoang sơ rồi. Những người ngại leo cao thì nhặt nhạnh trái do gió làm rụng. Trái giá tỵ có một lớp vỏ dày cứng, bên trong là cái nhân nhỏ màu trắng. Trẻ con thường nhấm nháp tí nhân có vị beo béo này. Nhưng người đi hái trái thì không rảnh rỗi để thưởng thức. Họ tranh thủ gom góp rồi quày quả chở hạt đi bán. Ở trạm quản lý rừng đặc dụng giá tỵ, người ta mua hạt với một giá tương đối. Chắc người hái cũng chẳng bận tâm đến việc quả của họ bán được làm gì, để làm giống hoặc làm bất cứ việc gì khác. Điều họ đang suy nghĩ là ngày mai sẽ đến khu nào chưa có ai hái để tìm được một bao nặng hơn bao hôm nay.
Công việc của những người hái lá và hái trái âm thầm như vậy. Xin đừng gọi đó là một nghề, vì nó còn đơn giản lắm và cũng ít người làm lắm. Hãy gọi đó là những công việc mà không phải ai cũng muốn và dám làm. Nhưng công việc đó đã góp phần mang lại cơm ăn áo mặc cho bao nhiêu con người và tạo cơ hội cho con em họ được học hành. Đó là một công việc lương thiện và đáng quý.
Hơn nữa, chúng ta nên ghi ơn họ. Lá giá tỵ do họ bẻ mang về để gói hàng thay cho bao nylon có một tác dụng rất tích cực đến môi trường. (Người ta nói rằng nếu túi nylon được sử dụng từ thời Hùng Vương (cách đây đã 3.000 năm thì đến ngày nay vẫn chưa phân rã hết!). Với những hạt giống, họ đã góp phần trồng thêm những khu rừng mới ở khắp nơi trên đất Việt này, mang đến cho dân ta màu xanh của rừng, xua đi màu xám ngắt của những vùng đất trống đồi trọc. Những rừng giá tỵ lớn lên, trở thành rừng đặc dụng quốc gia ở địa phương đó, nhiều năm sau sẽ có những khối gỗ xuất khẩu mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước.

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2008

Thời sự và suy nghĩ

Hạn chế tình trạng công chức nghỉ việc hàng loạt:
PHẢI XÓA BỎ NHỮNG NGHỊCH LÝ!

Xét cho cùng, công chức bỏ việc sẽ là điều bình thường nếu nhìn ở góc độ “nước chảy về chỗ trũng”. Tức là, nơi nào có điều kiện tốt hơn, thu nhập tốt hơn, có khả năng phát huy hơn thì người ta sẽ đổ về khu vực đó. Đã một thời, làm việc ở các cơ quan nhà nước có sức hấp dẫn bởi so với các khu vực khác, làm trong nhà nước ổn định hơn, có nhiều ưu đãi hơn. Đến nay, điều đó đã thay đổi. Người lao động có nhiều sự lựa chọn hơn và khoảng cách về tính “chỗ trũng” cũng giãn ra nhiều. Chẳng hạn, cách đây độ chục năm, nhìn chung, làm việc ở khu vực nhà nước và khu vực tư nhân (kể cả khu vực có yếu tố nước ngoài) có sự chênh lệch không lớn như hiện nay, cả về cơ hội tìm được việc, về thu nhập và điều kiện phát triển. Do đó, hiện tượng công chức nghỉ việc không nên xem là điều gì quá nghiêm trọng, nhưng cần phải nghiêm túc xem xét các nguyên nhân và tìm những giải pháp phù hợp. Trong đó, việc xóa bỏ những nghịch lý trong chính môi trường làm việc ở khu vực nhà nước (nhất là khối cơ quan đảng, đoàn thể và hành chính, trừ khối doanh nghiệp). Đó là:
Thứ nhất, “đầu vào” chưa mang tính cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Thực tế hiện nay, để được nhận vào làm việc ở khu vực nhà nước không dễ dàng, nhưng những “rào cản” lại thường nằm ở chỗ lý lịch, bằng cấp, sự gửi gắm hơn là do năng lực thực sự. Có thể dễ dàng nhận thấy một sinh viên luật tốt nghiệp loại giỏi sẽ có rất ít cơ hội được nhận làm công chức ở phường nếu không có ai đó giới thiệu. Ngược lại, con em cán bộ tại chỗ lại dễ dàng được nhận rồi sau đó bổ sung bằng cấp… Bên cạnh đó, nhiều người “đi tắt” bằng con đường qua các đoàn thể rồi trở qua cơ quan hành chính cũng chưa thực sự thuyết phục. Chẳng hạn, một người vì lý do gì đó chưa học đại học, bắt đầu từ tham gia đoàn thể rồi học tại chức, đến khi trở thành trưởng đoàn thể thì theo cơ cấu có thể là cấp phó của chính quyền cùng cấp…
Thứ hai, môi trường làm việc còn có tính “cao bằng”. Trong khu vực nhà nước, tính hiệu quả của công việc chưa được đề cao bằng những hình thức thiết thực, như qua lương, thưởng, đề bạt… Vì lẽ đó, có một bộ phận làm việc kém hiệu quả nhưng không vi phạm gì thì cứ đều đặn được tăng lương, “sống lâu lên lão”. Như vậy, giữa người làm tốt và chưa tốt không có sự phân biệt rạch ròi, ngoài trừ sự đánh giá của dư luận! Đã vậy, việc khen thưởng cũng còn chưa hợp lý, thường xét cho người có chức vụ, có thâm niên…
Thứ ba, áp lực công việc lớn nhưng thu nhập chưa tương xứng. Làm công chức ở cơ sở (phường, xã) thực tế như “làm dâu trăm họ” bởi áp lực nặng nề, vừa hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp trên, vừa theo quy trình công việc, vừa theo nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của người dân. Đã vậy, trách nhiệm lại nặng nề, có sai sót gì là có thể không có cơ hội sửa chữa. Trong khi đó, thu nhập theo hệ số hiện nay là rất thấp so với thực tế cuộc sống, các khoản hỗ trợ khác cũng không đáng kể.
Thứ tư, khả năng phát triển không tùy thuộc vào năng lực, hiệu quả công việc mà còn nhiều yếu tố khác. Hiện nay, việc “đột phá” trong bổ nhiệm, đề bạt còn chưa nhiều, phần lớn vẫn theo “thứ tự”, theo “chuẩn”, theo “cơ cấu”. Do đó, hiện tượng “đến hẹn lại lên”, “sống lâu lên lão” và nhất là những người năng lực không tốt nhưng lại đủ “chuẩn” thì được ưu tiên. Ngoài ra, điều kiện để học thêm cũng không phải luôn thuận lợi.
Giải quyết tình trạng công chức nhà nước bỏ việc hàng loạt phải xóa bỏ những nghịch lý vừa kể. Nếu không biến khu vực nhà nước trở thành một “vùng trũng” thì cũng đừng để nó trở thành “vùng gò”; tức là, thay vì biến khu vực này trở thành nơi thu hút nhân tài thì lại khiến nó bị người có năng lực, có tâm huyết ngại ngần khi đặt chân đến tìm việc. Xét cho cùng, các cơ quan nhà nước cũng phải “săn đầu người”, phải “tiếp thị” để chọn cho được những người phù hợp thay vì để người ta tự đến, đã vậy rồi cũng dễ dàng cho người ta “rũ áo” ra đi vì những nghịch lý hoàn toàn có thể khắc phục được.
Bài đã đăng Báo Tuổi trẻ, ngày 27-8-2008

Tạp bút

KHI CÂY DỪA LÊN NGÔI

Cây dừa bây giờ đang có giá. Ở thành phố, mua được trái dừa tươi, nước ngọt mắc đã đành mà cũng khó tìm được trái thực sự ngon. Ở Bến Tre, thương lái tranh nhau mua dừa khô để lấy cơm xuất khẩu. Các nhà máy chế biến dừa thì hoạt động cầm chừng vì thiếu nguyên liệu… Đã qua rồi cái thời dừa bỏ phơi nắng mưa ngoài sân, mặc cho nó lên mọng, ai siêng thì nạy lấy cơm để… cho heo gà ăn!
Cây dừa từ lâu đã trở thành hình tượng thân thương và rất đỗi thiêng liêng của người dân đồng khởi. Bởi thế câu hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý “Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió, có phải người còn đó là con gái của Bến Tre…” trở thành một tuyệt tác của riêng Bến Tre. Trong văn học, những cây dừa trong thơ Lê Anh Xuân đầy thương tật do bom đạn cũng ghi lại dấu tích về vùng đất một thời chiến tranh khốc liệt nhưng cũng rất đỗi oanh liệt, hào hùng. Trong Trở về quê nội, nhà thơ có tên thật là Ca Lê Hiến đã viết những câu: “Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ…” mà “Nội nói: Lúc nội còn con gái, đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân” hay “Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa…”. Dù dừa Bến Tre đã có lúc thăng trầm, không chỉ trong thời kỳ Mỹ rải chất độc hóa học mà còn trong thời bình, khi người ta chặt bỏ hàng loạt để nuôi tôm hay thời bị con bọ dừa tàn phá! Nghĩ mà thương cho loài cây đã in thành bóng hình xứ sở!
Hiếm có loài cây nào có ích như cây dừa. Hầu như toàn bộ cây dừa đều dùng được. Gỗ dừa già càng dùng lâu càng lên nước với những vân đỏ đen rất đẹp. Gỗ để làm nhà – xẻ kèo, đòn tai – hoặc đóng giường tủ, bàn ghế… Gỗ vụn để làm đồ gia dụng, cao cấp hơn là đồ mỹ nghệ xuất khẩu, như đũa ăn, muỗng, vá, nĩa,… Vỏ dừa giờ là nguyên liệu sản xuất thảm, đệm…, xưa hay để un khói xua muỗi; mụn dừa (sản phẩm sau khi lấy sợi) là thứ phân bón tốt. Củi tàu dừa lửa nhiều, cháy ít hao và có nhiều than; lá cũng là một thứ củi dễ cháy, ngay khi còn ướt. Lá dừa ngày xưa để đan làm vách dựng nhà vừa tiện vừa thoáng, ngày nay làm đồ mỹ nghệ: những cọng lá mảnh mai được đan thành chiếc giỏ xinh xắn, những làn hoa…! Buồng dừa (quày), mo dừa cũng là thứ củi tốt. Gáo dừa xưa dùng làm gáo múc nước, chén ăn, đốt lấy than ủi (là) quần áo, nay còn làm đồ trang sức. Đối với trẻ thơ, lá dừa để làm đồng hồ, những chiếc máy bay kiểng…
Trái dừa là một đặc sản. Người ta chọn trái to, khô vỏ, cắt ngang mặt rồi nạo hết cơm và tỉa tót lại thành một ấm giỏ để giữ ấm cho bình trà, một loại ấm từng phổ biến ở nông thôn, rất cách điệu. Nước dừa là một thức uống gần như tinh khiết tuyệt đối vì trước đây, phần lớn dừa được trồng tự nhiên, ít có phân thuốc hóa học. Nước dừa còn được đem nấu nước màu (dùng kho thịt cá), tạo được màu tươi, thơm. Cơm dừa là thức ăn bổ dưỡng. Không nên ăn dừa non (mới váng cháo), nên ăn dừa nạo, còn già hơn một chút là dừa cứng nạo, cơm không còn mềm nhưng béo hơn. Đến dừa rám thì nên để làm mứt, còn dừa khô thôi thì để thắng dầu vậy. Dầu dừa để chiên xào, có mùi thơm đặc trưng, hấp dẫn. Dầu dừa còn được dùng như một… mỹ phẩm đặc biệt: các mẹ các chị ta xưa hay dùng dầu dừa để xức tóc, tạo sự óng mượt và hương thơm quyến rũ. Cơm dừa còn làm thạch, bánh, mứt, kẹo… mà thức nào cũng ngon, cũng bổ.
Thật mừng cho sự lên ngôi của cây dừa. Nhưng không biết rồi đến bao giờ lại bị “phế truất”? Cái điệp khúc “lên – xuống”, “trồng – chặt” đã diễn ra không biết bao lần, chắc chắn chưa phải đã đến lần cuối cùng! Cây dừa hay cây gì của nông nghiệp Việt Nam cũng có hoàn cảnh tương tự, thật đáng buồn!

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2008

Câu chuyện thể thao

“KHÔNG THỂ ĐI XA KHI KHÔNG BIẾT MÌNH ĐI ĐÂU”!

Oliver Cromwell (1599 – 1658, cha đẻ của đội quân “sườn sắt – iron-side nổi tiếng trong cách mạng tư sản Anh) đã từng nói: Người ta không thể đi xa khi không biết mình đi đâu. Trong thực tế, nếu không biết mình đi đâu thì lắm khi chỉ có thể đi loanh quanh, giẫm lại vết chân cũ! Mà nhìn ra xung quanh, khi người ta đã đi tới thì tức là mình đã thụt lùi!
Với thành tích của thể thao Việt Nam tại các kỳ Olympic, dường như sử dụng câu nói này cũng rất đúng. 8 năm trước, khi
Trần Hiếu Ngân đoạt HCB Olympic Sydney, ông Trương Ngọc Để, lúc đó là TTK Liên đoàn Taekwondo TP.HCM, đã cho rằng không phải là điều bất ngờ. Theo ông, với thực lực của Hiếu Ngân, với quá trình thi đấu tại Đại hội, với thành tích của các đối thủ thì kết quả này là phù hợp. Tuy nhiên, với nhiều người khác, thành tích này là bất ngờ, bởi vì đoàn thể thao Việt Nam lúc đó đã không hề đặt ra mục tiêu HCB, và việc đến Sydney cũng chỉ là để học hỏi là chính như trong 4 lần trước đó.
Với tấm HCB tại Bắc Kinh của
Hoàng Anh Tuấn , hầu như không ai có thể nói là bất ngờ. Bởi thành tích này hoàn toàn nằm trong mục tiêu của đoàn thể thao nước ta. Trước đó, với những thành tích ấn tượng tại các giải châu lục và thế giới, Tuấn đã được đầu tư hẳn 50.000 USD để giành cho kỳ được tấm huy chương Olympic. Như vậy, tấm HCB của Tuấn phần nào “đáng đồng tiền bát gạo”! Rõ ràng, cử tạ Việt Nam (trong lúc này, chưa dám nói mai mốt) đã “đi xa” khi biết mình đi đâu!
Trong khi đó, 7/9 môn thi đấu tại Bắc Kinh của Việt Nam kỳ này lại vẫn tiếp tục là để học hỏi (trừ cử tạ và Taekwondo). Dĩ nhiên học, hỏi mà đạt kết quả tích cực thì rất tốt, người dân cũng không ta thán việc tiền đóng thuế của họ được tiêu xài ra sao. Thế nhưng, liệu chúng ta học được gì với 100m chạy của Vũ Thị Hương còn thấp hơn nhiều so với thành tích của chính cô? Tiến Minh đã học được gì khi phải gác vợt ngay trận đầu tiên và sau đó lại chịu nhiều chỉ trích? Cũng như có ai đã tổng kết xem mỗi kỳ Olympic chúng ta đã học được gì, có “hiệu quả” hay không khi nhiều vận động viên, huấn luyện viên phải bỏ công tập luyện hàng năm trời, tiêu tốn không ít tiền của của nhân dân? Vì vậy, đã đến lúc, lãnh đạo ngành thể thao cần phải ngồi tính toán lại, tổng kết lại 7 kỳ Olympic vừa qua mà chúng ta đã dự, thì thành công ra sao, thất bại thế nào, rút ra những bài học gì để có thể đạt thành tích tốt hơn trong thời gian tới.
Việc biết “đi đâu” thật không dễ dàng gì. Tâm lý “ăn xổi ở thì” không phải là đã chấm dứt trong xã hội ta, hay trong ngành thể thao nước ta. Những bộ óc vạch chiến lược của thể thao Việt Nam cần nghĩ xa hơn, với những chỉ tiêu cụ thể hơn, rõ ràng hơn, khả thi hơn và cùng với nó là những bước thực hiện phù hợp, khoa học. Câu nói của Cromwell là bài học lớn, dĩ nhiên không chỉ trong thể thao!

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2008

Câu chuyện văn hóa

MỘT KỶ NIỆM NHỎ VỚI MỘT NHÀ VĂN LỚN

Cái tin nhà văn Sơn Sơn Nam qua đời không làm tôi bất ngờ. Bởi theo dõi báo chí, tôi biết ông đã ngã bệnh cách đây ít lâu rồi, thậm chí có lúc nguy kịch. Những lúc đó, tôi chỉ mong sao có điều nhiệm màu để giúp ông già 82 tuổi vượt qua được cái lẽ thường tình của tự nhiên… Nhưng nay thì không thể nữa rồi!
Tôi không han hạnh được hầu chuyện nhà văn Sơn Nam lần nào, chỉ có đôi lần được nghe ông nói chuyện, đến gần chụp vài tấm ảnh của ông. Thế thôi. Dẫu vậy, tôi cũng có một kỷ niệm nhỏ với “ông già Nam bộ học” này.
Cách đây gần 10 năm, khi tôi chuẩn bị tốt nghiệp trường ĐH KH XH&NV TP.HCM thì Khoa Ngữ văn và Báo chí (khi đó) có mời ông về nói chuyện về báo chí Sài Gòn trước năm 1975 cho sinh viên ngành báo chí. Mãi đến khi ấy tôi mới lần đầu tiên nhìn thấy nhà văn Sơn Nam bằng xương bằng thịt. Hồi đó trường còn giảng đường D1, chứa gần 500 người, thế mà bỗng trở nên chật chội bởi sinh viên các ngành khác cũng đến nghe ông nói chuyện. Khi ông bước vào, trong chúng tôi có người còn uể oải đứng dậy chào thì nhà văn ngoài 70 tuổi đã làm hội trường im lặng và ngạc nhiên bằng cái vòng tay cúi người chào tất cả chúng tôi.
Ơ kìa, cái vòng tay thưa, chào thì nào có lạ gì với người Việt Nam! Ấy vậy mà tất cả đám sinh viên hôm đó như được một bài học về thế nào là lễ phép, thế nào là “đi thưa về trình”, thế nào mà một cách chào trân trọng theo kiểu truyền thống của Việt Nam.
Rồi ông đề nghị được bắc ghế ngồi ngay ở lối đi giữa hội trường, thay vì ngồi trên bục như các thầy cô vẫn thường làm. Ông bảo: “Ngồi vầy cho gần với mấy em mấy cháu hơn!”. Quả có gần hơn thiệt, bởi nếu ông ngồi bên trên thì tôi không thể nhìn rõ cái dáng người nhỏ nhắn, đeo cặp mắt kính lão to, đôi mắt thì hay nheo nheo, còn bộ quần áo thì hơi cũ và nhàu… Ông ngồi đó, tay cầm micro hơi run run, đôi lúc cái micro trật khỏi miệng, tiếng nói nhỏ đi… Nhưng ông vẫn nói hăng say, trong lúc có một số sinh viên nghe không rõ đã chán nản quay sang… trò chuyện làm hội trường hơi ồn ào…
Thú thật qua gần 10 năm, tôi không nhớ nhà văn Sơn Nam đã nói những gì về báo chí Sài Gòn. Hình ảnh đọng lại sâu nhất trong tôi vẫn là cái vòng tay cúi đầu chào một cách lễ phép đối với những người trẻ tuổi đáng cháu nội, cháu ngoại của ông thôi. Tôi gần như không học được gì về lịch sử báo chí nhưng lại học được một bài học lớn về một kiểu chào, về sự lễ phép và về một cách làm người!

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2008

Câu chuyện văn hóa

TẬP CẢM ƠN, XIN LỖI VÀ… CƯỜI!

1. Một buổi chiều, trong lúc dừng xe trên đường Đinh Tiên Hoàng (phường Đakao) chờ người quen, tôi thấy hai người nước ngoài cầm tờ giấy nhìn nhìn ngó ngó, dường như muốn tìm địa chỉ nào đó. Trong lúc đó, anh lái taxi vẫn ngồi trong xe, “kiên nhẫn” chờ hai người khách hỏi đường. Thấy vậy, tôi bèn đem hết vốn tiếng Anh của mình ra để… hỏi thăm. Thì ra hai người này muốn tìm một người ở số 41 Đinh Tiên Hoàng (địa chỉ của một cơ sở đào tạo), nhưng địa chỉ mà mọi người đang đứng (do ông taxi chở đến) lại là một… quán kem! Thực ra, đoạn đường Đinh Tiên Hoàng chỉ riêng ở quận 1 đã có hai số 41 nên cả người lái taxi cũng bị… rối! Sau khi hỏi giúp ở những quanh đó, tôi hướng dẫn hai người khách quay trở lại đoạn đường thuộc phường Bến Nghé! Hai người nước ngoài liên tục nói câu “thank you” và khi đã lên xe rồi vẫn vẫy tay chào!
2. Trong một lớp tập huấn về ứng dụng ISO trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, TS Lưu Văn Phú (trường Cán bộ Thành phố) luôn miệng nhắc đi nhắc lại: Một trong điều để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phục vụ nhân dân của các công chức nhà nước là phải cười nhiều hơn, cảm ơn nhiều hơn, xin lỗi nhiều hơn! Thoạt nghe, phía dưới lớp có nhiều người cười, nhưng qua mấy lần lặp lại, dường như mọi người thấm: cán bộ công chức ta hiện nay còn rất thiếu cả ba điều này, dù nhiều người có bằng cấp chuyên môn, chính trị… đầy mình. TS Lưu Văn Phú cũng dẫn nhiều kinh nghiệm “cười, cảm ơn và xin lỗi” ở một số nước tiên tiến để minh chứng cho nền hành chính vững mạnh và hiệu quả của họ.
Dưới lớp có ai đó nói khe khẽ: Làm quản lý mà cười với xin lỗi, không chừng bị “người ta” “đè đầu”! Thì ra, việc hạn chế biểu lộ tình cảm và nhận lỗi đi liền với một nhận thức về hoạt động phục vụ nhân dân! Đó là làm sao phải nghiêm nghị để người dân tự giữ khoảng cách khi tiếp xúc. Không chừng trong đó hàm cả ý để có thể “trị” được dân!
3. Dường như dấu ấn của một nền văn hóa nông nghiệp vẫn còn in đậm trong lối sống của người dân ở các đô thị. Cái tâm lý ngại khách sáo, rào đón và cả ít tỏ ra tôn trọng người khác (kể cả trong lòng rất tôn trọng) thể hiện rõ qua giao tiếp thông thường. Bởi vậy, có lần khi nhận được câu cảm ơn sau khi không thể chỉ được đường giúp tôi, một người phụ nữ đứng tuổi đã nói rất tự nhiên: Tôi đâu có chỉ được đường đâu mà cảm ơn! Quả đúng vậy, nhưng tôi đâu chỉ cảm ơn sự giúp đỡ, tôi cảm ơn cả sự trả lời nữa mà!
Không chỉ vậy, hình như còn có một trạng thái tâm lý nữa là, cái gì thuộc trách nhiệm, bổn phận của ai đó thì người khác không phải cảm ơn. Ra quán, nhiều người rất ngại nói câu cảm ơn khi người phục vụ mang đồ đến. Họ xem đó bổn phận, không phải là sự giúp đỡ. Thế nhưng, một người dân khi được một công chức giúp họ hoàn tất hồ sơ lại cảm ơn rối rít mà quên mất rằng vị công chức đó đang thực thi chức trách của mình. Có người đi đường sai luật, bị cảnh sát giao thông thổi lại, xử phạt thì họ lập tức xin lỗi, thậm chí có… khoanh tay rất ư lễ phép, mong được sự… thương tình của người đang thực thi công vụ. Người đó cũng quên mất là bản thân anh ta không có lỗi với anh cảnh sát giao thông, mà anh có lỗi với luật, sâu xa là với chính anh, khi mà sự vi phạm làm ảnh hưởng đến sự an toàn của bản thân anh.
Bởi vậy, hình như có một sự đảo lộn vị trí để cười, để nói câu cảm ơn, nói lời xin lỗi thì phải!
4. Có người nói: Con người là một loại động vật biết cười. Hình như đúng, con khỉ, con chó chỉ biết… nhe rằng chứ không phải biết cười, vì cái nhe răng của nó không có cảm xúc. Vậy mà trong Người Trung Quốc xấu xí, tác giả Bá Dương viết: “Nhưng những cô y tá, những cô bán vé xe người Trung Quốc lại là một ngoại lệ.(..) trừ phi vứt tiền vào mặt họ, thì ngay cả ông trời cũng chẳng có thể cậy mồm họ ra cho họ cười được”. Đến đây, cái phạm trù cười đã không chỉ để vui vẻ với nhau nữa mà đã “nghiêm trọng” thành vấn đề có phải… con người hay không. Nếu nói vậy, ở Việt Nam cũng có không ít người… xấu xí, có rất nhiều người không biết cười, nói đúng ra là họ không biết cười trong khi và ở nơi rất cần cười (cửa khẩu sân bay chẳng hạn). Bởi vậy, gần đây đã có những tập huấn về… cười, tức là những nhân viên này phải cười và biết cười (chứ không phải chỉ nhe răng!). Xem ra cái cười bây giờ quan trọng lắm chứ. Vì thế, chẳng phải ngẫu nhiên mà một tấm ảnh chụp một cô gái Việt Nam đang cười lại được sử dụng là hình ảnh quảng bá cho ngành du lịch. Đó là một thông điệp: Hãy đến với chúng tôi, người Việt Nam luôn vui mừng chào đón quý vị!
Lời chào cao hơn mâm cỗ. Một nụ cười cũng có thể là một lời chào. Một câu xin lỗi đôi khi cũng là một lời chào chứ đâu phải lúc nào cũng hiểu đó là vấn đề xác định lỗi phải (vì vậy người Anh khi muốn hỏi điều gì thì bao giờ cũng nói: Excuse me! (Cho tôi xin lỗi – vì đã làm phiền). Mà lời cảm ơn cũng có thể hiểu mà một lời chào (tạm biệt) sau khi có được sự giúp đỡ của người khác. Điều đó không chỉ có ý nghĩa tích cực trong mối quan hệ giữa người dân và các cơ quan quản lý mà còn thể hiện tính văn hóa, văn minh giữa những con người với nhau.
Vậy thì giá trị của nụ cười, lời chào và lời cảm ơn đều… cao như thế, sao chúng ta không học tập và thực hành đi!

Thời sự và suy nghĩ

TỪ OLYMPIC NGHĨ VỀ VIỆT NAM…

Tôi cũng như hàng tỉ người trên thế giới đều hết trầm trồ, phấn khích trước những màn trình diễn tuyệt vời của lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008. Trầm trồ về những thành tựu đặc sắc của nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm và cả ý tưởng sáng tạo độc đáo của đạo diễn bậc thầy Trương Nghệ Mưu… Tôi cũng hồi hộp chờ đợi sự xuất hiện ngắn ngủi của đoàn thể thao Việt Nam trong niềm xúc động mãnh liệt…
Trông người mà ngẫm đến ta… Tôi tự hỏi một người trong độ tuổi 30 như tôi có thể có cơ hội được nhìn thấy Olympic diễn ra ngay trên đất nước mình không? Tôi nhẩm: còn khoảng 8 kỳ Thế vận hội, 32 năm nữa, một nửa cuộc đời tôi còn lại…, tại sao không? Tôi lại nghĩ: trong lễ khai mạc, chúng ta sẽ giới thiệu những gì đáng coi là đặc sắc nhất của dân tộc, chắc là sự cần cù, vượt khó của người Việt, những sáng tạo của người Việt cổ như trống đồng, gốm sứ… hay những hình ảnh đặc trưng của người Việt hiện nay như áo dài, chiếc nón lá… Tôi vẫn chưa nghĩ ra điều gì đặc sắc hơn… Tại sao ngay từ bây giờ chúng ta không nghĩ đến việc quảng bá hình ảnh của đất nước, của dân tộc trong… lễ khai mạc Olympic diễn ra ngay tại… Hà Nội?
Nói vậy không phải là hão huyền mà chính là một ước mơ chính đáng (và không thể nói là không đẹp), đồng thời đặt ra ra những lộ trình để thực hiện. Chẳng hạn, sau khi lần đầu tiên tổ chức thành công SEA Games, ta phải nghĩ đến những lần tổ chức sau, để làm bước đệm để tổ chức Á vận hội (ASIAD), thậm chí cả giải vô địch bóng đá thế giới và rồi Olympic. Không có ước mơ thì không thể có khao khát, không thể có động lực để vươn lên; cũng như không có sự chuẩn bị trong nhiều năm với những lộ trình thích hợp thì không thể tổ chức thành công một sự kiện mang tính toàn cầu như Olympic.
Một trong những bước của lộ trình đó phải là sớm nâng cao thành tích thể thao Việt Nam trên đấu trường quốc tế. Một đất nước có 85 triệu dân, dân số nằm trong tốp 15 thế giới nhưng chỉ có 21 VĐV tham dự Olympic, trong đó nhiều môn chỉ dự cho có mặt, không khỏi khiến người hâm mộ chạnh lòng. Bởi vậy sự xuất hiện trong lễ diễu hành hôm khai mạc quá ngắn ngủi khiến không ít người đang trong trạng thái xúc động bổng… tiu nghỉu bởi chưa kịp đẩy cảm xúc lên cao thì đã… hết rồi! Ngành TDTT phải có chiến lược phát triển thể thao thành tích cao của nước nhà với những tính toán hợp lý, khoa học và với những bước đi phù hợp.
Việc tham dự Olympic dĩ nhiên đã là một niềm vinh dự đặc biệt của cá nhân VĐV nhưng nếu tổ chức thành công Thế vận hội thì lại là một tự hào tuyệt vời của cả dân tộc. Tại sao chúng ta không nghĩ đến điều đó và ngay từ bây giờ cùng nhau chung tay góp sức để thực hiện điều đó?

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2008

Tạp bút

BÃI RAU MUỐNG
Tặng Phồn


Chỗ chúng tôi trọ học ngày nào, cách đây gần mười năm, nhìn ra một bãi rau muống xanh tốt ven bờ kinh ở một quận ven. Dạo ấy nước kinh còn chưa đen lắm. Chiều chiều lũ trẻ con em những nhà buôn bán gánh-đẩy hay ùm xuống kinh tắm. Nước đầy, dòng kinh cũng trong xanh hiền hòa, lơ lững vài đám lục bình, tô vẽ thêm cho sự tĩnh lặng, bình yên và nên thơ của một vùng ven. Chỗ ấy nhà cất lấn chiếm dòng kinh thì ít mà nhà lụp xụp ven bờ thì nhiều. Cùng bãi rau xanh tốt, quang cảnh nơi ấy nom không giống ở thị thành là mấy. Chỉ có điều, tối tối, chúng tôi ngồi trên gác trọ, nhìn xa xăm về phía trung tâm thành phố, cả một vùng rực sáng. Nhà cao tầng hiện lên với những mảng màu xanh đỏ nhàn nhạt mà rực rỡ đến mê hồn.
Còn ở nhà trọ, chiều chiều, chúng tôi hay leo rào sang bãi rau muống. Cái rào ấy là một ranh giới nho nhỏ để người ta giữ đất. Dẫu sao thì ở thành phố, tấc đất cũng là tấc vàng mà. Nhưng cái hàng rào kẽm gai ốm yếu không ngăn được đám sinh viên hiếu động trèo sang vừa chơi đánh bóng chuyền, vừa thực hiện một cuộc thám hiểm nho nhỏ ở đám đất hoang dại kế bên bãi rau. Ở đó có hàng dừa nước đong đưa, có những bụi môn nước, có những bụi hoa mua tím ngắt… Chơi chán, chúng tôi hái mớ rau về nấu canh, luộc, xào hoặc bóp gỏi. Ngần ấy món, quanh đi quẩn lại thì cũng đã đổi được khẩu vị. Đám sinh viên xa quê háu đói cứ ngấu nghiến và chẳng có đứa nào chê dở.
Rồi chúng tôi chia tay nhau để đi trọ những chỗ khác. Nhưng chẳng nơi nào còn có bãi rau muống nữa. Kể cả đứa ở lại cũng không thể sang bên ấy hái rau được nữa. Người ta đã xây bức tường bao hơn hai mét để khẳng định chủ quyền một cách quyết liệt, để chấm dứt mộng lấn chiếm của bất kỳ ai. Kể cả mấy đứa sinh viên nghèo cũng không được sang hái rau nữa! Thỉnh thoảng đến đấy chơi, tôi không còn thấy gì bên trong. Nhưng đứa ở lại thì bảo trèo lên gác nhìn sang sẽ thấy người ta đang san lấp cái bãi rau muống dại. Ít lâu trở lại, sừng sững trước mắt tôi là ngôi biệt thự sang trọng, nằm ngay bên bờ kinh, tha hồ hứng gió, dù lúc này đôi lúc gió có thêm “hương” lạ. Dấu vết cũ của bãi rau, sân đánh bóng chuyền, nơi thám hiểm… hoàn toàn biến mất.
Đã nhiều năm. Chúng tôi không ai còn là sinh viên nữa. Thỉnh thoảng hẹn gặp nhau, bâng quơ vài chuyện, thế nào rồi cũng nhắc đến nhà trọ năm xưa, nơi có bãi rau “cải thiện” xanh xanh, dễ thương. Chúng tôi bỗng yên lặng vài giây, để thả hồn mình trở về những kỷ niệm.

Bài đã đăng trên Tuần san SGGP ngày 24-5-2003

Thời sự và suy nghĩ

CẦN GỌI ĐÚNG TÊN CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ

Hiện nay, trên sách báo, có không ít cái sai mang tính “hệ thống” và khá phổ biến. Xin ví dụ:
Gọi sai tên các nhân vật lịch sử
Đó là trường hợp không có nhân vật nào tên là Trần Khắc Chân thế mà lại có con đường mang tên này tại quận 1. Trong khi đó, thời Trần có hai người “có vẻ gần gũi” với tên gọi này là ông Đỗ Khắc Chung (người cứu công chúa Huyền Trân khỏi bị thiêu theo chồng sau khi vua Chiêm Thành băng hà, sau được ban quốc tính họ Trần) và ông Trần Khát Chân (một trong những danh tướng và là quý tộc triều Trần tổ chức giết Hồ Quý Ly nhưng bất thành) thì không thấy ai đặt tên.
Tương tự, không có ai tên là Đoàn Như Hài, nhưng tên gọi này được đặt cho một con đường có nhiều trụ sở cơ quan hành chính của quận 4. Sự thực thì chỉ có ông Đoàn Nhữ Hài, một người học rộng tài cao từng phò tá các vua Trần Anh Tông, Minh Tông và Hiến Tông và hi sinh khi đi dẹp loạn Ai Lao.
Cũng như vậy, ở quận 5, có con đường không biết mang tên nhân vật nào, đó là đường Lương Nhữ Học. Trong lịch sử, chúng ta biết rằng chỉ có ông Lương Như Hộc, một danh sĩ thời Lê.
Những cách gọi như thế này là bất kính với tiền nhân và rõ ràng không có ý nghĩa về mặt giáo dục truyền thống, thậm chí là phản tác dụng.
Gọi không chuẩn tên của một số nhân vật lịch sử
Dễ thấy nhất là tên gọi Trần Hưng Đạo. Trong lịch sử không có nhân vật nào có tên là Trần Hưng Đạo mà chỉ có Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, một danh tướng triều Trần, người có công lớn ba lần đánh thắng quân Nguyên. Do đó, Trần Quốc Tuấn mới là tên gọi đúng. Gọi Trần Hưng Đạo chẳng qua là ghép tước Hưng Đạo Vương với họ Trần, thành ra tên của một người. Đã ghép như thế, sao không thấy gọi Trần Chiêu Văn (tức Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật) hay Trần Chiêu Minh (tức Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải)… mà vẫn gọi chỉ là Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải?
Bên cạnh đó, có sự tùy tiện sử dụng miếu hiệu, tên húy hoặc niên hiệu khi dùng để đặt tên đường, tên trường. Chẳng hạn, hiện nay có cả tên đường Đinh Bộ Lĩnh (tên húy) và Đinh Tiên Hoàng (miếu hiệu) nhưng đối với vua Lê Thánh Tông (hoặc Tôn) thì không ai gọi vua Lê Tư Thành (tên húy) hoặc vua Hồng Đức (niên hiệu)… Trong khi đó, đối với nhà Nguyễn, gần như chỉ gọi theo niên hiệu mà không gọi theo miếu hiệu. Chẳng hạn, vua Gia Long có tên húy là Nguyễn Phúc Ánh và miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng đế (của nhà Nguyễn – có thể gọi là Nguyễn Thế Tổ - tương tự như cách gọi Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ), nhưng hiếm khi sử dụng miếu hiệu. Như vậy là không thống nhất.
Vì vậy, các nhà sử học cần có sự nghiên cứu để đính chính những cách gọi sai và thống nhất những cách gọi còn tùy tiện đối với các nhân vật lịch sử.

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2008

Thời sự và suy nghĩ

BÁN ĐẤT – NÔNG DÂN NGÀY CÀNG CÓ ÍT ĐẤT!

Nông dân luôn gắn với đất, nhưng với những khó khăn kinh tế hiện nay, nhiều nông dân đã phải bán đất. Cuộc sống của họ sẽ ra sao, trách nhiệm của chính quyền thật không nhỏ chút nào!
Có đất canh tác là niềm ao ước của nông dân bao thế hệ qua. Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều nông dân chỉ với lòng yêu nước và niềm khát khao có đất canh tác đã đi theo cách mạng, mà không hề có ý thức về học thuyết chính trị hay giai cấp. Đảng Cộng sản với chủ trương “ruộng đất cho dân cày” đã có sức hấp dẫn lớn. Ngay cả chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong một cố gắng để vớt vát phần nào uy tín trước dân miền Nam đã ban hành luật “người cày có ruộng” vào đầu những năm 1970, giúp cho một bộ phận người dân thoát khỏi cảnh tá điền và trở thành những người chủ...
Từ sau đổi mới đến nay, với những chính sách tiến bộ về nông nghiệp, nông sản trở thành hàng hóa, sức sản xuất được giải phóng, lợi thế so sánh được đề cao, phương tiện – kỹ thuật hỗ trợ nông nghiệp được cải tiến, đời sống người dân không ngừng được tăng lên. Tuy nhiên, năng suất của người nông dân nước ta vẫn còn thấp và lĩnh vực nông nghiệp luôn có tỉ lệ tăng trưởng nhỏ nhất trong cơ cấu phát triển. Những năm gần đây, với sự mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam chịu sự cạnh tranh quyết liệt với nhiều hàng nông sản nước ngoài. Đầu ra của nhiều nông sản chiến lược không được đảm bảo: cà phê trước khi hồi phục như hiện nay đã có hơn 3 năm rớt xuống tận đáy với giá bán chỉ còn một nửa so với giá thành; gạo Việt Nam luôn xuất khẩu ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba thế giới nhưng giá bán luôn ở mức trung bình… Đã thế, gần đây giá nhiên liệu, vật tư nông nghiệp tăng giá phi mã: vào thời điểm này, giá quýt tại Đồng Nai bình quân đạt 8.000đ/kg, tương đương cùng thời điểm nào 2007 nhưng giá dầu diesel đã tăng trên 100%, giá phân bóng có loại tăng đến 1.000%, loại tăng ít nhất cũng trên 50%... Như vậy, dù có một bộ phận nông dân có lãi (người trồng cà phê, tiêu, cao su, lúa…) thì một bộ phận khác gặp rất nhiều khó khăn (người trồng cây ăn quả, người nuôi trồng thủy sản…).
Những nông dân làm ăn thua lỗ thường là người nghèo, có ít vốn, không có điều kiện để đầu tư thâm canh; thua lỗ trong một vài vụ là lâm vào túng quẫn. Chính là những người đầu tiên bán đất. Họ bán đất để trang trải nợ nần và các chi phí trước mắt chứ ít có sự định hướng dùng số vốn đó để chuyển nghề như thế nào, thường là “từ từ tính”. Việc “hạ hồi phân giải đó” thực chất là sự thụ động, thậm chí bế tắc, trong biện pháp mưu sinh. Nhiều người phải đi làm thuê tại địa phương, một bộ phận khác làm nghề tự do (phụ hồ, buôn bán nhỏ…) và một bộ phận khác đổ về các đô thị kiếm sống. Số người ở nhóm sau cùng này thực ra cũng chỉ có thể làm những việc phổ thông hoặc làm nghề tự do chứ khó trở thành công nhân bởi trình độ hạn chế… Hệ quả kéo theo là con em họ khó được học hành tới nơi tới chốn, điều kiện ăn ở hạn chế, đời sống của họ rất bấp bênh… Như vậy, nông dân sau khi bán đất đã đi từ cái khó khăn này đến khó khăn khác mà thôi!
Có một thực tế bất lợi cho nông dân nữa là số đất thường ít được bán cho nông dân khác mà lại rơi vào tay những người không phải là nông dân, trong đó có những người đầu cơ đất. Do đó, sự tích tụ ruộng đất vẫn đang diễn ra nhưng không hoàn toàn theo hướng tích tụ để nâng cao quy mô sản xuất mà thực tế có một bộ phận ruộng đất bị bỏ hoang. Đó là một nghịch lý, đáng tiếc là có xu hướng ngày tăng lên, khi mà nhiều người sản xuất có ít đất canh tác (nhất là nông dân ở miền Trung và miền Bắc), trong khi một số ít người có nhiều đất lại không canh tác. Đó cũng là tiềm tàng nguy cơ thiếu lương thực khi tình trạng này không kịp hạn chế.
Trước tình hình đó, để giúp nông dân trong điều kiện khó khăn hiện nay, nhà nước cần có những chính sách cấp bách:
Thứ nhất, tăng cường sự giúp đỡ cho những nông dân khó khăn, cả về chính sách và biện pháp giúp đỡ cụ thể thay vì để họ “tự bơi”, giúp họ vượt qua khó khăn để họ không phải bán đất.
Thứ hai, nâng chất lượng hoạt động khuyến nông để định hướng cho nông dân tốt hơn trong sản xuất. Ở cấp cả nước, cần có sự quy hoạch sản xuất hợp lý theo điều kiện thổ nhưỡng phù hợp và theo lợi thế so sánh, đồng thời bám sát diễn biến và nhu cầu của thị trường.
Thứ ba, nâng chất lượng hoạt động của các hội nông dân, các câu lạc bộ sản xuất… để chia sẻ kỹ thuật, kinh nghiệm, vốn liếng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời làm “đầu mối” quản lý, định hướng của chính quyền địa phương.
Thứ tư, lập các quỹ dự phòng để thu mua một số loại nông sản khi xuống thấp hơn giá thành hoặc để hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản; phát huy vai trò của các hiệp hội liên quan đến nông nghiệp (như hiệp hội cây điều, hiệp hội cà phê – ca cao…)Thứ năm, có biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với những tổ chức, cá nhân thu gom đất nông nghiệp nhưng không sản xuất, để hoang hoặc tự chuyển đổi mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch.

Câu chuyện văn hóa

TÔI ĐÃ "SỐNG NHỜ"
Tôi đọc quyển tự truyện Sống nhờ của nhà văn hiện thực phê phán Mạnh Phú Tư năm lên 10 tuổi, khi đang học lớp Năm. Từng trang sách, hình ảnh đất nước những năm 1920-1930 như hiện ra trước mắt tôi, với những số phận nghiệt ngã, với cảnh đói kém khốn cùng, với sự bóc lột hà khắc của chế độ thực dân nửa phong kiến cùng với sự vươn lên không ngừng. Có những trang viết cảm động đầy nước mắt, như đoạn mẹ con cu Dần (hiện thân của tác giả) sáng sớm dậy nấu ăn cho cả nhà và cu cậu thường được mẹ cho nếm những thìa thức ăn nóng sốt; cảnh mẹ Dần mất, đến mái tóc dài của bà cũng phải cắt đi để bán lấy tiền đong gạo; cảnh cả nhà nội Dần bị ngộ độc do ăn phải nấm lạ trong ngày đói kém… Ngày ấy, đọc đến đấy, nước mắt tôi tự nhiên trào ra. Dù sống trong một gia đình nghèo nhưng tôi cũng cảm nhận được rằng mình sung sướng hơn Dần gấp bội phần vì còn có cha mẹ, còn có cái ăn cái mặc…
Nhưng trên hết vẫn là niềm lạc quan và sự vươn lên không ngừng. Lúc được mùa, bà nội Dần vui vẻ đi mua khoai về để dành ăn trong những tháng giáp hạt. Lúc mất mùa, cả nhà đi đào củ về ăn trừ cơm nhưng vẫn đầm ấm. Còn Dần lúc nào cũng muốn vượt lên để thay đổi cuộc đời tăm tối, tuy lúc đầu có ngây ngô khi "mê" cô đào hát Thúy Nga nào đó. Dù vậy, Dần cũng đã có một điểm tựa tinh thần để bước ra khỏi bóng tối, như là một phản xạ tự nhiên, chứ chưa có ánh sáng soi đường của cách mạng. Quả thật, nếu không có niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn thì Phạm Văn Thứ đã không trở thành nhà văn Mạnh Phú Tư nổi tiếng, thì triệu triệu người Việt ta đã không vượt qua bao thời kỳ tăm tối của lịch sử để trở thành một dân tộc bất khuất, kiên cường. Và như thế, truyền thống "còn da lông mọc, còn chồi lên cây" ấy đã luôn luôn tồn tại, hoàn toàn không phải là sự lạc quan tếu, sự lãng tránh thực tế.
Dù đã nhiều năm nhưng những hình ảnh trong Sống nhờ vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Ngay trong năm 10 tuổi ấy, khi vừa đọc xong quyển sách này, tôi đã mơ trở thành… nhà văn rồi. Một ước muốn trẻ con nhưng chứa đầy niềm tin và đến bây giờ tôi vẫn không nguôi suy nghĩ đó. Có điều, tất cả những gì tôi đã thể hiện thì… còn lâu ước muốn đó mới thành hiện thực. Nhưng như nàng Thúy Nga của cu Dần, tôi vẫn hằng mong mỏi, khát khao và cũng không ngừng phấn đấu. Sống nhờ đối với tôi đã không còn một tiểu thuyết hay, tiêu biểu của Mạnh Phú Tư và phong trào văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 nữa, mà là một "cẩm nang" dạy tôi sống có ích và phấn đấu một cách không mệt mỏi, là một động lực thôi thúc tôi biến ước mơ bé bỏng ngày nào trở thành hiện thực. Sự thực thì tôi đã "sống nhờ" cuốn tiểu thuyết này suốt bao nhiêu năm qua rồi.
Bài đã đăng trên Tuần san SGGP ngày 14.12.2002

Bài thơ thứ 15

MỪNG CON LÊN BA

Mới rồi con đã lên ba
Mới rồi chạy nhảy, gọi bà thưa ông
Lên ba con tựa thiên thần
Xinh tươi lúc ngủ, lúc buồn cũng xinh!
Chẳng thương ai tựa con mình
Lên ba con đã có nghìn ngày vui.
Mai này sống giữa cuộc đời
Mong con nhớ mãi những ngày lên ba!
2-12-2007, con gái tròn 1.100 ngày.

Tạp bút

MỘT THỜI… CON CÚI

Cảm thương những nông dân đã hy sinh khi vì thù nhà nợ nước mà bất đắc dĩ thành chiến binh, mà đúng hơn là những nghĩa binh vô cùng dũng cảm, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu đã dành những lời hết sức xúc động. Từ những người quen tay cày tay cuốc, họ đã trở thành chiến sĩ với những vũ khí thô sơ mà như Nguyễn Đình Chiểu đã viết:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng giết xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đao làm bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Có lẽ đối với những người đã từng sống ở nông thôn, nhất là vùng trồng lúa, mới có thể biết “con cúi” là con gì hay cái gì. Con cúi ở đây là một vật dụng bện bằng rơm (đan theo kiểu như tóc thắt bính hay tết đuôi sam), có rất nhiều công dụng. Con cúi bện chặt dùng để giữ lửa. Ngày trước tìm được lửa và giữ nó là rất khó khăn, không phải lúc nào thần Promethée cũng dễ tính. Ở nông thôn, người ta giữ lửa bằng cách để lửa cháy âm ỉ trong củi ướt hoặc than. Ngoài ra còn có thể giữ lửa bằng con cúi như trong một quyển tự điển tiếng Việt, con cúi đã được giải thích là “cuộn rơm tết, dùng để giữ lửa”. Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra lửa ngày trước (độ mười lăm hai chục năm trước đây thôi) là khá vất vả. Ngoài diêm, người ta thường dùng hộp quẹt (bật lửa) đánh lửa bằng viên đá nhỏ xíu để bắt lửa vào một mồi bông gòn có tẩm dầu hỏa hoặc xăng. Những người cẩn thận luôn trữ sẵn rất nhiều đá lửa trong nhà để đề phòng bất trắc. Dù vậy, nếu lỡ mồi bông gòn bị ướt thì để “quẹt” ra được lửa cũng gian nan vô cùng, có khi phồng cả ngón tay cái!
Con cúi để giữ lửa được đánh rất chặt bằng rơm hơi ướt một chút. Có ba lọn rơm, tùy theo yêu cầu cần con cúi to hay nhỏ mà chọn lọn to hay nhỏ, nhưng mỗi lọn đều được xoắn chặt và khi bện vào nhau cũng xiết hết tay để chiếm hết những khoảng không dù nhỏ nhoi trong con cúi, để tránh lửa bùng cháy. Lửa được giữ cháy âm ỉ trong lòng con cúi và lúc nào cũng ngún khói. Để con cúi không tắt, thỉnh thoảng người ta thổi cho những đóm lửa sáng lên hoặc treo ngược nó lên.
Nhưng con cúi không chỉ có chức năng đó thôi. Ở quê tôi, vùng duyên hải Tây Nam Bộ, cứ sau Tết là đến mùa nước kém và cũng là mùa nước mặn. Dòng kênh nước tràn bờ trong mùa nước nổi được thay bằng những ngày nước kém khô cạn tận đáy. Nước cạn, không có xuồng, đi bộ hoặc băng qua kênh rạch khá dễ dàng nhưng ai cũng ngại ra đồng vì ngại một thứ côn trùng bé tẹo: đó là con bù mắt – người địa phương quê tôi gọi thế – tôi không biết nó còn tên gọi nào khác không. Loại côn trùng này, (xuất hiện trong câu thành ngữ “cọp ăn bù mắt”), đốt rất ngứa và khó chịu hơn bị muỗi đốt rất nhiều, đến nỗi không ai không thể không gãi. Mà đã gãi thì đến mê mệt, xước da rướm máu mới thôi. Có người thì dùng khăn trùm kín mặt lại, mặc áo dài tay. Nhưng lội đồng thì không thể mặc quần dài được nên người ta có sáng kiến là thoa bùn non lên đầy chân, từ bàn chân cho đến… quần. Bù mắt đánh hơi có máu là xông vào nhưng bị lớp bùn non giữ chặt lấy nó, thế là… tàn đời. Nhưng cũng chưa phải toàn vẹn, vì còn tay, cổ, mặt,… chẳng lẽ thoa bùn khắp cả? Nhiều người dùng con cúi hun khói để đuổi chúng. Vậy là con cúi còn có thêm một chức năng nữa là để… đuổi bù mắt!
Tôi nhớ, ngày nhỏ, sáng sáng trước khi đi học, ba đánh sẵn cho anh em tôi mỗi đứa một con cúi nho nhỏ. Cứ huơ đi huơ lại trước hai chân và khắp người, bù mắt nghe khói không dám xông vào đốt. Cứ như vậy cho đến khi nắng lên cao không còn bù mắt thì chúng tôi vứt con cúi đi hoặc có khi, con cúi cháy hết thì tôi đã qua khỏi đám ruộng. Con cúi của ba tôi làm bao giờ cũng đẹp, cũng gọn, hun khói nhiều và không sút đổ. (Tôi cũng thử làm nhưng những lần đầu đều không thành: lúc thì chặt quá không cháy được, lúc lỏng quá, rơm rơi vãi). Vì vậy, tôi nghĩ rằng đối với cụ Đồ Chiểu hay nhiều người con cúi có thể trở thành một thứ vũ khí, một công cụ giết giặc, thì với chúng tôi, con cúi là bạn đồng hành trong những ngày đi học.
Ngoài ra, con cúi còn được dùng trong nhiều việc khác nữa. Người ta bện một con cúi dài rồi quấn quanh chân bồ lúa để tránh bị chuột khoét. Con cúi còn được dùng làm ổ gà đẻ. Đơn giản hơn là người ta đánh rơm thành những con cúi để dễ trữ, dễ vận chuyển. Và vì vậy, nếu giải thích như cuốn tự điển kia thì e rằng con cúi còn thiếu nhiều chức năng quá!
Con cúi ngày càng xa vời. (Gia đình tôi sau chuyển đến sống ở một vùng cao nguyên. Từ đó, con cúi rơm không còn hiện diện trong đời sống chúng tôi nữa. Lâu ngày con cúi chỉ còn là một hình ảnh phai mờ). Ở nông thôn, ngày nay chẳng ai phải giữ lửa nữa. Hộp quẹt ga không ngại bị ướt. Hiện đại hơn là đã có biogas, chẳng cần đến hộp quẹt nữa! Còn đồng ruộng đã được hiện đại hóa, có thể cưỡi xe máy đến tận nơi, không lo bị bù mắt đốt. Sang hơn có thể dùng thuốc bôi ngoài da. Lúa làm ra cũng không nhất thiết phải giữ trong bồ nữa, mà năng suất ngày càng cao, cũng không phải nhà nào cũng quây được bồ to mà vựa. Lúa đã trở thành hàng hóa, nếu không thì cũng đã có nhiều chỗ để gửi, không cần phải mang về nhà cho tốn sức. Còn nuôi gà đẻ công nghiệp thì chẳng ai cần đến một cái ổ “cầu kỳ” như thế. Và rơm ngày nay được chuyên chở trên những xe công nông mạnh bằng sức của cả chục con trâu, con bò cộng lại. Tóm lại, con cúi đối với nhiều người chỉ là kỷ niệm và đối với nhiều người khác thậm chí nó còn chưa bao giờ xuất hiện trong ý nghĩ của họ.
Nhưng đối với tôi, con cúi sẽ còn mãi trong tâm trí, không phải chỉ vì ba tôi đã từng đánh con cúi cho anh em chúng tôi đi học với biết bao tình cảm và hy vọng chất chứa trong ấy, mà còn vì nó đã gắn bó suốt một thời làm nông của tôi, gia đình và họ hàng nhà tôi. Bởi vậy, không phải chỉ có ba và mẹ mới là bạn đồng hành với chúng tôi trong cuộc đời, mà những con cúi giản dị cũng đã từng cùng sống với chúng tôi trong những ngày đi học, đi làm đồng…
Tôi không chắc mình bây giờ có còn làm được những con cúi nữa không nhưng có lẽ mãi mãi tôi không bao giờ quên được những con cúi đơn giản, mộc mạc của một thời thơ ấu, một thời còn là một “tiểu nông dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nhớ con cúi nhưng tôi mừng khi thấy người ta cũng đã quên dần nó. Đơn giản vì con cúi đã đi cùng với nông dân ta trong thời kỳ gian khổ, nghèo khó nhất, mà tôi thì muốn nó đi qua càng nhanh càng tốt!
Bài đã đăng trên Thanh niên chủ nhật, ngày 21.7.2002