BÁN ĐẤT – NÔNG DÂN NGÀY CÀNG CÓ ÍT ĐẤT!
Nông dân luôn gắn với đất, nhưng với những khó khăn kinh tế hiện nay, nhiều nông dân đã phải bán đất. Cuộc sống của họ sẽ ra sao, trách nhiệm của chính quyền thật không nhỏ chút nào!
Có đất canh tác là niềm ao ước của nông dân bao thế hệ qua. Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều nông dân chỉ với lòng yêu nước và niềm khát khao có đất canh tác đã đi theo cách mạng, mà không hề có ý thức về học thuyết chính trị hay giai cấp. Đảng Cộng sản với chủ trương “ruộng đất cho dân cày” đã có sức hấp dẫn lớn. Ngay cả chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong một cố gắng để vớt vát phần nào uy tín trước dân miền Nam đã ban hành luật “người cày có ruộng” vào đầu những năm 1970, giúp cho một bộ phận người dân thoát khỏi cảnh tá điền và trở thành những người chủ...
Từ sau đổi mới đến nay, với những chính sách tiến bộ về nông nghiệp, nông sản trở thành hàng hóa, sức sản xuất được giải phóng, lợi thế so sánh được đề cao, phương tiện – kỹ thuật hỗ trợ nông nghiệp được cải tiến, đời sống người dân không ngừng được tăng lên. Tuy nhiên, năng suất của người nông dân nước ta vẫn còn thấp và lĩnh vực nông nghiệp luôn có tỉ lệ tăng trưởng nhỏ nhất trong cơ cấu phát triển. Những năm gần đây, với sự mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam chịu sự cạnh tranh quyết liệt với nhiều hàng nông sản nước ngoài. Đầu ra của nhiều nông sản chiến lược không được đảm bảo: cà phê trước khi hồi phục như hiện nay đã có hơn 3 năm rớt xuống tận đáy với giá bán chỉ còn một nửa so với giá thành; gạo Việt Nam luôn xuất khẩu ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba thế giới nhưng giá bán luôn ở mức trung bình… Đã thế, gần đây giá nhiên liệu, vật tư nông nghiệp tăng giá phi mã: vào thời điểm này, giá quýt tại Đồng Nai bình quân đạt 8.000đ/kg, tương đương cùng thời điểm nào 2007 nhưng giá dầu diesel đã tăng trên 100%, giá phân bóng có loại tăng đến 1.000%, loại tăng ít nhất cũng trên 50%... Như vậy, dù có một bộ phận nông dân có lãi (người trồng cà phê, tiêu, cao su, lúa…) thì một bộ phận khác gặp rất nhiều khó khăn (người trồng cây ăn quả, người nuôi trồng thủy sản…).
Những nông dân làm ăn thua lỗ thường là người nghèo, có ít vốn, không có điều kiện để đầu tư thâm canh; thua lỗ trong một vài vụ là lâm vào túng quẫn. Chính là những người đầu tiên bán đất. Họ bán đất để trang trải nợ nần và các chi phí trước mắt chứ ít có sự định hướng dùng số vốn đó để chuyển nghề như thế nào, thường là “từ từ tính”. Việc “hạ hồi phân giải đó” thực chất là sự thụ động, thậm chí bế tắc, trong biện pháp mưu sinh. Nhiều người phải đi làm thuê tại địa phương, một bộ phận khác làm nghề tự do (phụ hồ, buôn bán nhỏ…) và một bộ phận khác đổ về các đô thị kiếm sống. Số người ở nhóm sau cùng này thực ra cũng chỉ có thể làm những việc phổ thông hoặc làm nghề tự do chứ khó trở thành công nhân bởi trình độ hạn chế… Hệ quả kéo theo là con em họ khó được học hành tới nơi tới chốn, điều kiện ăn ở hạn chế, đời sống của họ rất bấp bênh… Như vậy, nông dân sau khi bán đất đã đi từ cái khó khăn này đến khó khăn khác mà thôi!
Có một thực tế bất lợi cho nông dân nữa là số đất thường ít được bán cho nông dân khác mà lại rơi vào tay những người không phải là nông dân, trong đó có những người đầu cơ đất. Do đó, sự tích tụ ruộng đất vẫn đang diễn ra nhưng không hoàn toàn theo hướng tích tụ để nâng cao quy mô sản xuất mà thực tế có một bộ phận ruộng đất bị bỏ hoang. Đó là một nghịch lý, đáng tiếc là có xu hướng ngày tăng lên, khi mà nhiều người sản xuất có ít đất canh tác (nhất là nông dân ở miền Trung và miền Bắc), trong khi một số ít người có nhiều đất lại không canh tác. Đó cũng là tiềm tàng nguy cơ thiếu lương thực khi tình trạng này không kịp hạn chế.
Trước tình hình đó, để giúp nông dân trong điều kiện khó khăn hiện nay, nhà nước cần có những chính sách cấp bách:
Thứ nhất, tăng cường sự giúp đỡ cho những nông dân khó khăn, cả về chính sách và biện pháp giúp đỡ cụ thể thay vì để họ “tự bơi”, giúp họ vượt qua khó khăn để họ không phải bán đất.
Thứ hai, nâng chất lượng hoạt động khuyến nông để định hướng cho nông dân tốt hơn trong sản xuất. Ở cấp cả nước, cần có sự quy hoạch sản xuất hợp lý theo điều kiện thổ nhưỡng phù hợp và theo lợi thế so sánh, đồng thời bám sát diễn biến và nhu cầu của thị trường.
Thứ ba, nâng chất lượng hoạt động của các hội nông dân, các câu lạc bộ sản xuất… để chia sẻ kỹ thuật, kinh nghiệm, vốn liếng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời làm “đầu mối” quản lý, định hướng của chính quyền địa phương.
Thứ tư, lập các quỹ dự phòng để thu mua một số loại nông sản khi xuống thấp hơn giá thành hoặc để hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản; phát huy vai trò của các hiệp hội liên quan đến nông nghiệp (như hiệp hội cây điều, hiệp hội cà phê – ca cao…)Thứ năm, có biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với những tổ chức, cá nhân thu gom đất nông nghiệp nhưng không sản xuất, để hoang hoặc tự chuyển đổi mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch.
Nông dân luôn gắn với đất, nhưng với những khó khăn kinh tế hiện nay, nhiều nông dân đã phải bán đất. Cuộc sống của họ sẽ ra sao, trách nhiệm của chính quyền thật không nhỏ chút nào!
Có đất canh tác là niềm ao ước của nông dân bao thế hệ qua. Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều nông dân chỉ với lòng yêu nước và niềm khát khao có đất canh tác đã đi theo cách mạng, mà không hề có ý thức về học thuyết chính trị hay giai cấp. Đảng Cộng sản với chủ trương “ruộng đất cho dân cày” đã có sức hấp dẫn lớn. Ngay cả chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong một cố gắng để vớt vát phần nào uy tín trước dân miền Nam đã ban hành luật “người cày có ruộng” vào đầu những năm 1970, giúp cho một bộ phận người dân thoát khỏi cảnh tá điền và trở thành những người chủ...
Từ sau đổi mới đến nay, với những chính sách tiến bộ về nông nghiệp, nông sản trở thành hàng hóa, sức sản xuất được giải phóng, lợi thế so sánh được đề cao, phương tiện – kỹ thuật hỗ trợ nông nghiệp được cải tiến, đời sống người dân không ngừng được tăng lên. Tuy nhiên, năng suất của người nông dân nước ta vẫn còn thấp và lĩnh vực nông nghiệp luôn có tỉ lệ tăng trưởng nhỏ nhất trong cơ cấu phát triển. Những năm gần đây, với sự mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam chịu sự cạnh tranh quyết liệt với nhiều hàng nông sản nước ngoài. Đầu ra của nhiều nông sản chiến lược không được đảm bảo: cà phê trước khi hồi phục như hiện nay đã có hơn 3 năm rớt xuống tận đáy với giá bán chỉ còn một nửa so với giá thành; gạo Việt Nam luôn xuất khẩu ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba thế giới nhưng giá bán luôn ở mức trung bình… Đã thế, gần đây giá nhiên liệu, vật tư nông nghiệp tăng giá phi mã: vào thời điểm này, giá quýt tại Đồng Nai bình quân đạt 8.000đ/kg, tương đương cùng thời điểm nào 2007 nhưng giá dầu diesel đã tăng trên 100%, giá phân bóng có loại tăng đến 1.000%, loại tăng ít nhất cũng trên 50%... Như vậy, dù có một bộ phận nông dân có lãi (người trồng cà phê, tiêu, cao su, lúa…) thì một bộ phận khác gặp rất nhiều khó khăn (người trồng cây ăn quả, người nuôi trồng thủy sản…).
Những nông dân làm ăn thua lỗ thường là người nghèo, có ít vốn, không có điều kiện để đầu tư thâm canh; thua lỗ trong một vài vụ là lâm vào túng quẫn. Chính là những người đầu tiên bán đất. Họ bán đất để trang trải nợ nần và các chi phí trước mắt chứ ít có sự định hướng dùng số vốn đó để chuyển nghề như thế nào, thường là “từ từ tính”. Việc “hạ hồi phân giải đó” thực chất là sự thụ động, thậm chí bế tắc, trong biện pháp mưu sinh. Nhiều người phải đi làm thuê tại địa phương, một bộ phận khác làm nghề tự do (phụ hồ, buôn bán nhỏ…) và một bộ phận khác đổ về các đô thị kiếm sống. Số người ở nhóm sau cùng này thực ra cũng chỉ có thể làm những việc phổ thông hoặc làm nghề tự do chứ khó trở thành công nhân bởi trình độ hạn chế… Hệ quả kéo theo là con em họ khó được học hành tới nơi tới chốn, điều kiện ăn ở hạn chế, đời sống của họ rất bấp bênh… Như vậy, nông dân sau khi bán đất đã đi từ cái khó khăn này đến khó khăn khác mà thôi!
Có một thực tế bất lợi cho nông dân nữa là số đất thường ít được bán cho nông dân khác mà lại rơi vào tay những người không phải là nông dân, trong đó có những người đầu cơ đất. Do đó, sự tích tụ ruộng đất vẫn đang diễn ra nhưng không hoàn toàn theo hướng tích tụ để nâng cao quy mô sản xuất mà thực tế có một bộ phận ruộng đất bị bỏ hoang. Đó là một nghịch lý, đáng tiếc là có xu hướng ngày tăng lên, khi mà nhiều người sản xuất có ít đất canh tác (nhất là nông dân ở miền Trung và miền Bắc), trong khi một số ít người có nhiều đất lại không canh tác. Đó cũng là tiềm tàng nguy cơ thiếu lương thực khi tình trạng này không kịp hạn chế.
Trước tình hình đó, để giúp nông dân trong điều kiện khó khăn hiện nay, nhà nước cần có những chính sách cấp bách:
Thứ nhất, tăng cường sự giúp đỡ cho những nông dân khó khăn, cả về chính sách và biện pháp giúp đỡ cụ thể thay vì để họ “tự bơi”, giúp họ vượt qua khó khăn để họ không phải bán đất.
Thứ hai, nâng chất lượng hoạt động khuyến nông để định hướng cho nông dân tốt hơn trong sản xuất. Ở cấp cả nước, cần có sự quy hoạch sản xuất hợp lý theo điều kiện thổ nhưỡng phù hợp và theo lợi thế so sánh, đồng thời bám sát diễn biến và nhu cầu của thị trường.
Thứ ba, nâng chất lượng hoạt động của các hội nông dân, các câu lạc bộ sản xuất… để chia sẻ kỹ thuật, kinh nghiệm, vốn liếng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời làm “đầu mối” quản lý, định hướng của chính quyền địa phương.
Thứ tư, lập các quỹ dự phòng để thu mua một số loại nông sản khi xuống thấp hơn giá thành hoặc để hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản; phát huy vai trò của các hiệp hội liên quan đến nông nghiệp (như hiệp hội cây điều, hiệp hội cà phê – ca cao…)Thứ năm, có biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với những tổ chức, cá nhân thu gom đất nông nghiệp nhưng không sản xuất, để hoang hoặc tự chuyển đổi mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét