Thứ Hai, 29 tháng 9, 2008

Tạp bút

ĐẶT CỌC” HAY “ỨNG TRƯỚC”?

Cô bạn tôi là một chủ vựa tôm khá lớn ở huyện Bình Đại (Bến Tre). Một lần gặp nhau, cô bảo tôi phải “làm chủ” cho cô một việc mà cô cho là “chưa từng gặp”. Số là, lần đó cô thỏa thuận được với một chủ vuông tôm giá cả và ngày đến bắt tôm. Đợt đó, tôm đang “nhũng” nên vuông nào có “lái” đến mua là rất mừng. Nhưng để “chắc ăn”, cô bạn tôi đưa cho chủ vuông tôm 10 triệu đồng và nói: “Em đưa trước anh mười triệu, giá cả vậy, đúng ngày tụi em sẽ đến thu”. Không ngờ, chỉ sau đó hai ngày, tôm chợt lên giá, ông chủ vuông tôm kia liền bán cho người khác. Đúng hẹn, cô bạn tôi cho xe cộ và người đến thu tôm thì chỉ có… ao không. Chủ vuông tôm chỉ gãi đầu gãi tai nói: “Tôi kẹt nợ quá nên bán cho vựa khác rồi. Tiền ứng trước của cô, tôi xin trả đủ, cộng thêm một triệu bù đắp công sá anh em đến đây, mong cô thông cảm”. Cô bạn tôi giận run môi. Hai bên tranh cãi một hồi, bạn tôi đòi phải bồi thường tiền đặt cọc. Đến đây, ông chủ vuông tôm rất tự tin: “Tôi không trả thêm đồng nào hết, vì tiền cô đưa cho tôi là tiền ứng trước, không phải tiền đặt cọc, hơn nữa cũng không có giấy tờ gì làm bằng cả!” Bạn tôi cuối cùng phải ngầm bồ hòn ra về, đành mất mấy chục triệu tiền lãi của ba tấn tôm!
Đây chắc là không phải chuyện hiếm xảy ra. Có điều xuất hiện một ông chủ tôm “cao tay” là hiếm! Bởi vì, ông ta đã nắm khá chắc luật dân sự. Trong Bộ luật Dân sự, không có điều nào quy định việc bồi thường người đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với việc “ứng trước” mà chỉ có bồi thường cho việc “đặt cọc”. Hai hành vi này dường như chỉ khác nhau cách gọi và văn bản (hoặc chứng cứ khác có giá trị pháp lý) làm bằng. Vì vậy trong giao dịch dân sự, nếu chỉ không rõ ràng cách gọi tên (và cả thiếu bằng chứng) thì dễ xảy ra tranh chấp. Trong thực tế, nhiều người mặc nhiên cho rằng “ứng trước” là “đặt cọc” và ngược lại. Do đó, đôi khi xảy ra nhầm lẫn. Bên cạnh đó, hai bên thường chỉ “giao dịch miệng” – một tồn tại từ nền sản xuất nông nghiệp truyền thống – nên không ít khi lâm vào cảnh “lời nói gió bay” khi một bên “quên” hoặc cố tình lật lọng.
Với các hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, bên cạnh việc giữ chữ tín, việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật là rất cần thiết. Tất nhiên các nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận phải được đặt lên hàng đầu nhưng những yêu cầu khác về hình thức cũng không kém phần quan trọng. Đó là phải sử dụng đúng hình thức hợp đồng (đối với các giao dịch có trị trị lớn hoặc điều khoản hợp đồng chi tiết thì nên (thậm chí là phải) làm thành văn bản, đôi lúc cần phải có công chứng), câu chữ sử dụng phải rõ ràng, dễ hiểu, tránh hiểu mập mờ hoặc hiểu theo cách nào cũng được!
Bởi vậy, tôi chỉ có thể khuyên cô bạn, nên in sẵn “giấy đặt cọc” hoặc “giấy tạm ứng” để sử dụng trong những trường hợp cụ thể, có nội dung rõ ràng, chi tiết, có chữ ký của hai bên để không xảy ra tranh chấp hoặc khi có tranh chấp cũng dễ “xử”!

Ảnh


Thu

hoạch quýt

Ảnh


Thu hoạch quýt

Tạp bút

MỘT THỜI… CON CÚI

Cảm thương những nông dân đã hy sinh khi vì thù nhà nợ nước mà bất đắc dĩ thành chiến binh, mà đúng hơn là những nghĩa binh vô cùng dũng cảm, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu đã dành những lời hết sức xúc động. Từ những người quen tay cày tay cuốc, họ đã trở thành chiến sĩ với những vũ khí thô sơ mà như Nguyễn Đình Chiểu đã viết:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng giết xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đao làm bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Có lẽ đối với những người đã từng sống ở nông thôn, nhất là vùng trồng lúa, mới có thể biết “con cúi” là con gì hay cái gì. Con cúi ở đây là một vật dụng bện bằng rơm (đan theo kiểu như tóc thắt bính hay tết đuôi sam), có rất nhiều công dụng. Con cúi bện chặt dùng để giữ lửa. Ngày trước tìm được lửa và giữ nó là rất khó khăn, không phải lúc nào thần Promethée cũng dễ tính. Ở nông thôn, người ta giữ lửa bằng cách để lửa cháy âm ỉ trong củi ướt hoặc than. Ngoài ra còn có thể giữ lửa bằng con cúi như trong một quyển tự điển tiếng Việt, con cúi đã được giải thích là “cuộn rơm tết, dùng để giữ lửa”. Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra lửa ngày trước (độ mười lăm hai chục năm trước đây thôi) là khá vất vả. Ngoài diêm, người ta thường dùng hộp quẹt (bật lửa) đánh lửa bằng viên đá nhỏ xíu để bắt lửa vào một mồi bông gòn có tẩm dầu hỏa hoặc xăng. Những người cẩn thận luôn trữ sẵn rất nhiều đá lửa trong nhà để đề phòng bất trắc. Dù vậy, nếu lỡ mồi bông gòn bị ướt thì để “quẹt” ra được lửa cũng gian nan vô cùng, có khi phồng cả ngón tay cái!
Con cúi để giữ lửa được đánh rất chặt bằng rơm hơi ướt một chút. Có ba lọn rơm, tùy theo yêu cầu cần con cúi to hay nhỏ mà chọn lọn to hay nhỏ, nhưng mỗi lọn đều được xoắn chặt và khi bện vào nhau cũng xiết hết tay để chiếm hết những khoảng không dù nhỏ nhoi trong con cúi, để tránh lửa bùng cháy. Lửa được giữ cháy âm ỉ trong lòng con cúi và lúc nào cũng ngún khói. Để con cúi không tắt, thỉnh thoảng người ta thổi cho những đóm lửa sáng lên hoặc treo ngược nó lên.
Nhưng con cúi không chỉ có chức năng đó thôi. Ở quê tôi, vùng duyên hải Tây Nam Bộ, cứ sau Tết là đến mùa nước kém và cũng là mùa nước mặn. Dòng kênh nước tràn bờ trong mùa nước nổi được thay bằng những ngày nước kém khô cạn tận đáy. Nước cạn, không có xuồng, đi bộ hoặc băng qua kênh rạch khá dễ dàng nhưng ai cũng ngại ra đồng vì ngại một thứ côn trùng bé tẹo: đó là con bù mắt – người địa phương quê tôi gọi thế – tôi không biết nó còn tên gọi nào khác không. Loại côn trùng này, (xuất hiện trong câu thành ngữ “cọp ăn bù mắt”), đốt rất ngứa và khó chịu hơn bị muỗi đốt rất nhiều, đến nỗi không ai không thể không gãi. Mà đã gãi thì đến mê mệt, xước da rướm máu mới thôi. Có người thì dùng khăn trùm kín mặt lại, mặc áo dài tay. Nhưng lội đồng thì không thể mặc quần dài được nên người ta có sáng kiến là thoa bùn non lên đầy chân, từ bàn chân cho đến… quần. Bù mắt đánh hơi có máu là xông vào nhưng bị lớp bùn non giữ chặt lấy nó, thế là… tàn đời. Nhưng cũng chưa phải toàn vẹn, vì còn tay, cổ, mặt,… chẳng lẽ thoa bùn khắp cả? Nhiều người dùng con cúi hun khói để đuổi chúng. Vậy là con cúi còn có thêm một chức năng nữa là để… đuổi bù mắt!
Tôi nhớ, ngày nhỏ, sáng sáng trước khi đi học, ba đánh sẵn cho anh em tôi mỗi đứa một con cúi nho nhỏ. Cứ huơ đi huơ lại trước hai chân và khắp người, bù mắt nghe khói không dám xông vào đốt. Cứ như vậy cho đến khi nắng lên cao không còn bù mắt thì chúng tôi vứt con cúi đi hoặc có khi, con cúi cháy hết thì tôi đã qua khỏi đám ruộng. Con cúi của ba tôi làm bao giờ cũng đẹp, cũng gọn, hun khói nhiều và không sút đổ. (Tôi cũng thử làm nhưng những lần đầu đều không thành: lúc thì chặt quá không cháy được, lúc lỏng quá, rơm rơi vãi). Vì vậy, tôi nghĩ rằng đối với cụ Đồ Chiểu hay nhiều người con cúi có thể trở thành một thứ vũ khí, một công cụ giết giặc, thì với chúng tôi, con cúi là bạn đồng hành trong những ngày đi học.
Ngoài ra, con cúi còn được dùng trong nhiều việc khác nữa. Người ta bện một con cúi dài rồi quấn quanh chân bồ lúa để tránh bị chuột khoét. Con cúi còn được dùng làm ổ gà đẻ. Đơn giản hơn là người ta đánh rơm thành những con cúi để dễ trữ, dễ vận chuyển. Và vì vậy, nếu giải thích như cuốn tự điển kia thì e rằng con cúi còn thiếu nhiều chức năng quá!
Con cúi ngày càng xa vời. (Gia đình tôi sau chuyển đến sống ở một vùng cao nguyên. Từ đó, con cúi rơm không còn hiện diện trong đời sống chúng tôi nữa. Lâu ngày con cúi chỉ còn là một hình ảnh phai mờ). Ở nông thôn, ngày nay chẳng ai phải giữ lửa nữa. Hộp quẹt ga không ngại bị ướt. Hiện đại hơn là đã có biogas, chẳng cần đến hộp quẹt nữa! Còn đồng ruộng đã được hiện đại hóa, có thể cưỡi xe máy đến tận nơi, không lo bị bù mắt đốt. Sang hơn có thể dùng thuốc bôi ngoài da. Lúa làm ra cũng không nhất thiết phải giữ trong bồ nữa, mà năng suất ngày càng cao, cũng không phải nhà nào cũng quây được bồ to mà vựa. Lúa đã trở thành hàng hóa, nếu không thì cũng đã có nhiều chỗ để gửi, không cần phải mang về nhà cho tốn sức. Còn nuôi gà đẻ công nghiệp thì chẳng ai cần đến một cái ổ “cầu kỳ” như thế. Và rơm ngày nay được chuyên chở trên những xe công nông mạnh bằng sức của cả chục con trâu, con bò cộng lại. Tóm lại, con cúi đối với nhiều người chỉ là kỷ niệm và đối với nhiều người khác thậm chí nó còn chưa bao giờ xuất hiện trong ý nghĩ của họ.
Nhưng đối với tôi, con cúi sẽ còn mãi trong tâm trí, không phải chỉ vì ba tôi đã từng đánh con cúi cho anh em chúng tôi đi học với biết bao tình cảm và hy vọng chất chứa trong ấy, mà còn vì nó đã gắn bó suốt một thời làm nông của tôi, gia đình và họ hàng nhà tôi. Bởi vậy, không phải chỉ có ba và mẹ mới là bạn đồng hành với chúng tôi trong cuộc đời, mà những con cúi giản dị cũng đã từng cùng sống với chúng tôi trong những ngày đi học, đi làm đồng…
Tôi không chắc mình bây giờ có còn làm được những con cúi nữa không nhưng có lẽ mãi mãi tôi không bao giờ quên được những con cúi đơn giản, mộc mạc của một thời thơ ấu, một thời còn là một “tiểu nông dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nhớ con cúi nhưng tôi mừng khi thấy người ta cũng đã quên dần nó. Đơn giản vì con cúi đã đi cùng với nông dân ta trong thời kỳ gian khổ, nghèo khó nhất, mà tôi thì muốn nó đi qua càng nhanh càng tốt!
Bài đã đăng trên Thanh niên chủ nhật, ngày 21.7.2002

Thời sự và suy nghĩ

Phải hạn chế tình trạng thất nghiệp trá hình trong các cơ quan nhà nước


Hiện nay, thất nghiệp trá hình trong các cơ quan nhà nước là có thực, có thể nói ở mức khá phổ biến. Điều này thể hiện, ở nhiều cơ quan, nếu giảm đi một số người thì công tác vẫn đảm bảo, vẫn hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn của mình; hoặc khi khuyết đi một số vị trí (không kể trường hợp đột xuất) thì những người còn lại vẫn có thể choàng gánh để làm tốt những phần việc của những người không có mặt. Thông thường, hiện tượng này biểu hiện ở sự làm-không-hết-sức-mình của các cá nhân trong cơ quan, đúng hơn là mỗi người làm chưa hết năng suất lao động của mình. Tình trạng thất nghiệp trá hình tồn tại trong nhiều năm qua và ở khá nhiều các cơ quan và tỉ lệ người bị coi là thất nghiệp trá hình ở các cơ quan thường chắc không dưới 10%. Như vậy có một số người không làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, hoặc họ không được phân công, bố trí công việc phù hợp, hoặc không được tạo điều kiện để làm tốt nhiệm vụ.
Thất nghiệp trá hình gây ra nhiều hệ quả xấu.
Thứ nhất, làm tăng quỹ lương của cơ quan; đối với những đơn vị đã thực hiện khoán quỹ lương thì làm giảm thu nhập của những người “lao động chính” – cách tạm gọi để phân biệt với những người thất nghiệp trá hình.
Thứ hai, gây lãng phí cho nhà nước và cho chính người lao động. Nếu không tuyển dụng những người thuộc diện thất nghiệp trá hình, những người này sẽ tự tìm việc khác để kiếm sống, có thể có những đóng góp tích cực cho xã hội mà cơ quan nhà nước cũng không phải tốn thêm một khoản lương nữa.
Thứ ba, không tạo ra động lực làm việc tốt trong toàn cơ quan. Vì tâm lí “làm nhiều hay ít cũng hưởng bao nhiêu đó lương” nên sẽ có những người không dốc hết sức làm việc vì thấy sự cố gắng của mình cũng không được đền bù xứng đáng. Ngoài ra, tình trạng này cũng tạo ra “sức ì” trong mỗi cán bộ công chức vì không có sự phấn đấu và cạnh tranh lành mạnh.
Thứ tư, không tạo ra một không khí làm việc tốt và sự đoàn kết tốt trong cơ quan. Từ chỗ có nhiều người “rảng rang” nên hay tụm năm tụm ba để chuyện phiếm, dễ gây xào xáo nội bộ, thay vì mỗi người chỉ quan tâm đến công việc của mình.
Như vậy, thất nghiệp trá hình gây tác hại cho cơ quan nhà nước và cả người lao động.
Điều đáng buồn là tình trạng thất nghiệp trá hình tồn tại ở các cơ quan nhà nước nhiều hơn hẳn ở các doanh nghiệp tư nhân hoặc có vốn của nước ngoài. Tâm lý “làm nhà nước thì nhàn” hoặc “tốt số mới được làm nhà nước” tồn tại nhiều năm qua và gần như là một “quy luật”. Hàm ý của những nhận xét này rất rõ ràng: làm trong các cơ quan nhà nước thì ít phải cạnh tranh, ít phải phấn đấu, nỗ lực, ít bị mất việc, ít lương như đôi khi có nhiều bổng… Nhiều người do “gửi gắm”, thậm chí “chạy chọt” lọt được vào cơ quan nhà nước nhưng không phù hợp vị trí công tác, không đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ. Tình trạng này cần sớm chấm dứt, thì tình trạng thất nghiệp trá hình mới giảm. Do đó, nên:
Thứ nhất, tuyển dụng phải theo yêu cầu công việc. Cơ quan có nhu cầu ở vị trí, bộ phận nào thì tuyển ở bộ phận đó, không nên “tạm tuyển” vì “quan hệ” để lấp chỗ nhưng thực tế không đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Thứ hai, có sự phân công công việc rõ ràng, hợp lý và tương đối đồng đều giữa các cán bộ công chức để mỗi người phải luôn nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, tránh cảnh người không có việc trong khi người khác thì quá nhiều việc.
Thứ ba, kiên quyết loại những cán bộ công chức không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức. Nên xây dựng một thói quen: các cơ quan nhà nước không nên nhận cán bộ công chức từ cơ quan nhà nước khác đã có “tì vết”, có kỷ luật (ở mức độ nào đó, cần có quy định cụ thể).
Thứ tư, xây dựng chế độ khen thưởng hợp lý, khoa học dựa trên sự đóng góp và mức phấn đấu của từng cán bộ công chức, thay vì “ưu tiên” cho lãnh đạo hoặc cào bằng mọi người như nhau để lấy tiếng là cả cơ quan đều làm tốt.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2008

Tạp bút

MỘT BỮA NGHE CẢI LƯƠNG

Nhiều năm rồi tôi chưa có dịp nào ngồi nghe hay xem trọn vở cải lương nào. Cuộc sống bận rộn, dành 90 phút để xem một tập phim, một tuồng cải lương thật khó. Bình thường, thèm nghe giọng ca của nghệ sĩ nào đó, tôi chỉ dám bỏ ra mươi phút để nghe một bản tân cổ giao duyên. Vậy là đủ rồi. Muốn thưởng thức cải lương phải thật thư thái, không bận tâm điều gì khác. Có như vậy mới hiểu đầy đủ nội dung, nghe đủ và thấm từng làn hơi, từng câu hát…
Bữa rồi tôi tình cờ tìm thấy một cái đĩa MP3 cũ có một số vở cải lương cũ. Tôi chọn vở
Tiêu Anh Phụng loạn trào. Chuyện kể về một nữ tướng cướp tên là Tiêu Anh Phụng (do nghệ sĩ Mỹ Châu đóng) vì có tình cảm với công chúa cải trang thành nam nhân (do NSƯT Lệ Thủy đóng) đã quy thuận triều đình và làm một võ quan cao cấp. Công chúa bèn tác hợp Anh Phụng với hoàng tử (NSƯT Minh Vương). Nhân có giặc xâm phạm, viên tể tướng (NSND Diệp Lang) có lòng đố kị nên đã tâu rỗi để nhà vua truyền Tiêu Anh Phụng làm nguyên soái. Ở nhà, tể tướng lập mưu tạo chứng cứ giả rồi vu cáo nàng có ý thoán nghịch. Nhà vua lập tức triệu hồi Anh Phụng. Giữa triều đình, tình ngay lý gian, Tiêu Anh Phụng bèn nổi loạn. Trong lúc rối ren, tên thừa tướng lật đổ nhà vua để tự lập. Hoàng gia bôn đào, hoàng tử phải lên sơn trại xin lỗi Tiêu Anh Phụng để nàng đưa binh về thảo phạt kẻ soán vị. Nhờ người con gái có công cứu giá nên viên tể tướng không bị chém, chỉ bị giáng làm thứ dân. Những người có công đều được đãi ngộ xứng đáng…
Đó là một vở cải lương có hậu. Con người trong nghịch cảnh không được buông xuôi mà phải không ngừng đấu tranh, thậm chí có khi phải làm điều vượt qua quy tắc xử sự thông thường. Câu chuyện khá hay nhưng không phải là một tuồng tích của Việt Nam. Chẳng hề chi, thưởng thức cải lương, nội dung là thứ yếu, nghe ca mới là chính. Những Mỹ Châu, Lệ Thủy, Diệp Lang, Minh Vương, Thanh Kim Huệ, Văn Chung, Kim Ngọc… đủ làm nên một tác phẩm lớn nếu xét về mặt ca diễn. Từng tiếng than của Mỹ Châu, của Thanh Kim Huệ, lời chia tay quyến luyến của Minh Vương, tiếng cười nham hiểm của Diệp Lang… đều toát lên tính cách của nhân vật và phản ánh được diễn biến của câu chuyện. Người nghe vừa thương vừa giận vừa bật cười với từng lớp diễn, từng lời hát nên vở hát như thấm vào lòng người nghe…
Tiêu Anh Phụng loạn trào đâu phải là vở hay nhất của cải lương Việt Nam. Đó chỉ là vở tôi tình cờ nghe lại sau nhiều năm không nghe. Vậy mà hồn cải lương vẫn còn rung động với từng lời ca tiếng hát. Chắc lòng yêu mến bộ môn nghệ thuật đặc trưng của Nam bộ này trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, chỉ tạm thời bị cái tất bật của thời gian che lấp mà thôi. Tôi mong sao có thể truyền được tình yêu này cho con cái, để nó không chỉ hiểu thêm những câu chuyện hay, có ý nghĩa qua các tuồng tích mà còn có thể truyền được tình yêu này cho các thế hệ sau nữa. Sẽ thật buồn nếu ngày nào đó người ta chỉ biết cải lương qua sách vở và chỉ nghe cải lương trong các viện bảo tàng!

Thời sự và suy nghĩ

ĐỪNG XEM VEDAN LÀ VẬT “TẾ”!

Có thể nói, hành vi gây ô nhiễm môi trường của Vedan là trường hợp đặc biệt: mức độ vi phạm rất nghiêm trọng, hậu quả rất nặng nề; thời gian vi phạm kéo dài; vi phạm có quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi; bản thân đơn vị vi phạm là một doanh nghiệp có uy tín, có chỗ đứng khá ổn định trên thị trường. Điều đặc biệt hơn cả là Vedan là trường hợp gây ô nhiễm môi trường lớn nhất bị phát hiện từ trước đến nay.
Chính vì vậy, công luận đang phẫn nộ với hành vi vi phạm của Vedan. Những ý kiến đề nghị tẩy chay sản phẩm của Vedan, truy cứu trách nhiệm hình sự các cá nhân vi phạm, thậm chí rút giấy phép hoạt động… đã phản ánh sự quan tâm và bức xúc trước vi phạm này. Nhưng dường như không chỉ có bao nhiêu đó. Đằng sau và bên trong sự việc này còn ẩn chứa nhiều sự việc khác, cũng đáng để quan tâm, xử lý, nếu không muốn mọi việc bị nhìn nhận phiến diện, thiếu khách quan. Dù có thể xem vụ việc này là “điểm” nhưng cũng không nên xem Vedan là vật “tế”, vật “hi sinh” bởi việc bảo vệ môi trường phải là việc làm thường xuyên, liên tục và của toàn dân, chứ không phải xử lý Vedan xong là đã dứt điểm.
Thứ nhất, hiện nay, không chỉ có Vedan là doanh nghiệp duy nhất gây ô nhiễm môi trường tại Việt Nam. Các cơ quan chức năng chắc không khó liệt kê ra danh sách các doanh nghiệp không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường ở mỗi tỉnh, mỗi thành phố. Có lẽ không tỉnh thành nào dám đảm bảo các khu công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp ở địa phương mình hoàn toàn không gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, cần tiếp tục kiểm tra, xác định tính chất mà mức độ vi phạm để có biện pháp xử lý tiếp theo ở tất cả các địa phương.
Thứ hai, các cơ quan chức năng đã ở đâu và làm gì trong suốt 14 năm vi phạm của Vedan và nhiều doanh nghiệp khác đã và đang gây ô nhiễm môi trường? Nhiều người đã nói đến sự mưu mô và tinh vi của Vedan trong vi phạm có tính hệ thống này. Điều đó đúng nhưng không thể nói các cơ quan chức năng về bảo vệ môi trường đã làm tròn chức trách của mình. Liệu đã có kiểm tra thường xuyên hay không? Liệu các biện pháp kiểm tra có thực chất không? Chính sự lỏng lẻo, yếu kém của các cơ quan bảo vệ môi trường, từ địa phương đến trung ương, Vedan mới có thể vi phạm trong suốt ngần ấy năm như vậy. Nay chờ xử lý Vedan thì cũng không thể bỏ qua trách nhiệm của các cơ quan này với do sự thiếu trách nhiệm.
Thứ ba, việc xử lý Vedan là điều đương nhiên, kể cả đồng thời kết hợp nhiều biện pháp (truy tố hình sự, rút giấy phép, phạt tiền, buộc khắc phục hậu quả…), vậy doanh nghiệp vi phạm nào là đối tượng bị xử lý tiếp theo? Và thiệt hại cho môi trường sống, cho người dân sẽ được tính toán và bù đắp như thế nào? Không xem Vedan là vật “tế” nhưng nên xem đây là trường hợp “mở màn”, là một “tiền lệ”, thậm chí là một trường hợp “điểm” hay “chuẩn” để từ đó tích lũy thêm “kinh nghiệm” và làm căn cứ để xử lý các trường hợp tiếp theo. Tuy nhiên, việc xử lý Vedan phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành chứ không vì sự phẫn nộ hay áp lực của công luận. Nếu pháp luật chưa đủ điều chỉnh hoặc mức điều chỉnh chưa thật hợp lý hay đủ sức răn đe thì đây cũng là dịp để các nhà làm luật có thể tiếp tục hoàn thiện các luật về bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy, cần có một quan điểm rõ ràng về bảo vệ môi trường cũng như đấu tranh chống các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Các quan điểm cho rằng tập trung phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu cần được thay đổi. Thậm chí, phải đấu tranh chống lại quan điểm vì mục tiêu kinh tế mà bất chấp hậu quả về môi trường, hoặc vấn đề môi trường là chuyện của ai đó chứ không phải của người quản lý, của bản thân doanh nghiệp. Do đó, cần thống nhất một quan điểm là phải phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sống. Đó chính là một trong những yêu cầu của phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho toàn dân, trong đó có các doanh nghiệp, là điều rất quan trọng và cần thiết. Khi ý thức bảo vệ môi trường trở nên thường trực trong mỗi người dân thì khả năng đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm môi trường mới được nâng cao. Dĩ nhiên, việc đấu tranh này phải tuân thủ các quy định của pháp luật và cần thiết có sự hướng dẫn, tổ chức của các đoàn thể chính trị - xã hội đại diện cho quyền lợi và nguyện vọng của người dân.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2008

Thời sự và suy nghĩ

GIÁ CẢ ĐÃ SỤT… MỘT NỬA!

Xăng dầu đã giảm giá 2 lần kể từ lần tăng gần đây nhất. Hai lần giảm, tổng cộng 2.000đ/l, chưa bằng một nửa so với một lần tăng 4.500đ/l! Nhưng dù sao có lên thì cũng có xuống! Giá vàng liên tục sụt, theo giá vàng thế giới. Từ trên dưới 19 triệu đ/lượng nay còn trên dưới 17 triệu đ/lượng, dù vậy vẫn còn cao hơn giá vàng thế giới. Giá cả hai mặt hàng này ít nhiều đã bám sát giá cả thị trường chung của thế giới. Một mặt hàng “lớn” hơn là nhà đất cũng đã giảm giá nhiều, nhất là nhà đất thuộc các dự án, vốn đã bị đẩy lên quá cao bằng một giá ảo chứ không phải theo đúng giá trị thực hay quy luật cung cầu.
Tuy nhiên, trong nỗ lực của Chính phủ trong việc kiềm chế giá cả tiêu dùng, đồng nghĩa với kiềm chế lạm phát, dường như chỉ đạt được một nửa. Nhiều mặt hàng, dịch vụ đã lên giá nhưng không chịu xuống dù những yếu tố đầu vào đã sụt. Cước vận tải chẳng hạn. Các hãng vận tải liên tục trì hoãn việc giảm giá. Hay phân bón thì vẫn đứng ở mức cao nhiều lần so với hơn một năm trước. Nhiều loại thực phẩm cũng đứng ở giá cao…
Nhìn chung, đời sống của một bộ phận không nhỏ người làm công ăn lương, người lao động tự do và nông dân vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Thu nhập không tăng trong khi chi phí cho sinh hoạt hàng ngày ở mức cao dẫn đến tích lũy giảm và chất lượng sống cũng giảm theo. Giá nhà đất giảm nhưng vẫn còn quá cao so với phần đông người lao động có thu nhập thấp…
Trong tình hình đó, đối với người dân, các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế dường như không còn mấy ý nghĩa bởi điều quan trọng nhất là chất lượng sống của từng người, từng gia đình. Vì vậy, nhà nước cần đẩy mạnh các chính sách dân sinh để giúp người dân vượt qua khó khăn. Chẳng hạn, quản lý chặt chẽ việc trợ cấp cho các hộ thuộc diện xóa đói giảm nghèo; tạo điều kiện để người dân được sử dụng điện và nước sạch; giúp vốn để người dân sản xuất… Các chính sách về nhà ở, y tế, giáo dục… cho nhân dân, đặc biệt là công nhân, cũng cần được quan tâm nhiều hơn. Về chính sách vĩ mô, cần tăng cường hỗ trợ xuất khẩu nông sản, thủy hải sản, đặc biệt là các mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, hạt tiêu, cá da trơn, tôm… Đặc biệt, cần phát huy vai trò điều tiết của các doanh nghiệp nhà nước trong việc bình ổn giá cả, tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu… Ngoài ra, đối với các dự án đang thực hiện, cần có sự kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo thi công đúng tiến độ, không để xảy ra thất thoát, bởi những thiệt hại đó đều là lãng phí, là tăng thêm giá thành, tức là làm tăng gánh nặng cho nhân dân.
Giá cả nhìn chung đã sụt… một nửa. Sự nỗ lực của nhà nước và toàn xã hội là rất lớn. Nhưng cần phải kiên trì và quyết liệt hơn nữa, vì bao nhiêu đó vẫn chưa đủ!

Câu chuyện thể thao

ĐÃ KHÔNG MUỐN THÌ THÔI!

Huy Hoàng từng không muốn lên tuyển. Bây giờ đến Thế Thế Anh, bằng một lý do không… đàn ông! Thời Calisto lần đầu nắm tuyển, ông đã gọi Công Minh, người đã tuyên bố từ giã đội tuyển quốc gia và đang đá cho đội hạng nhất Đồng Tháp, thế mà anh vẫn khăn gói tập trung, rồi lặng lẽ trở về do không còn đủ phong độ. Hai sự kiện trái ngược nhau làm sao! Một đàng đang ở phong độ tốt, được tập thể trông đợi, có thể là trụ cột nhưng không mặn mà với màu cờ sắc áo. Một đàng ở buổi “xế” của sự nghiệp nhưng vẫn khát khao được cống hiến, vẫn muốn làm gương cho đàn em… Có lẽ vì vậy, mà sự hâm mộ, lòng yêu mến của khán giả đối với các cầu thủ này cũng khác nhau!
Phải thẳng thắn mà nói, một cầu thủ lên tuyển quốc gia có cả quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm nữa. Được khoác lên mình chiếc áo đỏ là một niềm vinh dự lớn lao, lại được đãi ngộ khá tốt, được người hâm mộ quan tâm, được CLB chủ quản trọng vọng, kèm theo đó là những khoản tiền thưởng không nhỏ, nếu đội nhà đạt thành tích tốt trong các giải đấu. Nhưng lên tuyển không chỉ có hoa hồng. Phải thi đấu với cường độ dày (nhất là các cầu thủ trụ cột) gắn liền với sự suy giảm thể lực và những chấn thương. Rồi phải xa gia đình, dở dang việc học tập… Đã thế, khi lên tuyển, nếu không đúng vào điểm rơi phong độ, chơi không tốt thì còn bị “búa rìu” dư luận nữa. Vinh quang của những ngôi sao thì dễ thấy nhưng những nỗi đau mà họ phải đánh đổi không thật dễ nhận ra.
Vì vậy, một cầu thủ không muốn lên tuyển là quyền của họ. Mỗi người có quan niệm về sự cống hiến, sự hi sinh, sự phục vụ theo cách riêng của mình. Có người không mặn mà với tuyển quốc gia nhưng họ muốn góp sức thật nhiều cho CLB, âu cũng là lẽ thường.
Tuy nhiên, là một cầu thủ chuyên nghiệp, đã không muốn tham gia đội tuyển quốc gia thì cứ thẳng thắn trình bày, thà “mất lòng trước mà đặng lòng sau”, để ban huấn luyện chủ động chọn người khác, vừa tiện cho mình của lợi cho tập thể. Bóng đá là môn thi đấu tập thể, không có vị trí nào không thể thay thế và “không mợ thì chợ vẫn đông”.
Với ban huấn luyện, vấn đề kỷ luật dĩ nhiên phải đặt lên hàng đầu. Nhưng cũng có thể có những linh hoạt. Kiểu tuyên bố “còn tôi thì không còn cầu thủ X” phải chăng là quá cứng nhắc? Vì biết đâu nay mai, cầu thủ vốn từng không muốn vào tuyển đã nghĩ lại và có phong độ tốt thì cánh cửa đội tuyển cũng nên rộng mở với họ. Xét cho cùng, tất cả cũng vì làm đội tuyển mạnh hon mà thôi! Tức là, một cầu thủ không muốn lên tuyển thì đừng ép họ nhưng nếu họ mặn mà với nghĩa vụ quốc gia và có năng lực thực sự thì hãy cho họ cơ hội!

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Thời sự và suy nghĩ

NỖI LO THUỐC GIẢ

Có thể nói, người Việt Nam chúng ta còn coi thường sức khỏe cũng như chưa thực sự quan tâm chăm sóc sức khỏe của mình. Chỉ riêng việc mua thuốc khi có bệnh đã thấy. Thường ta chỉ ra tiệm nói triệu chứng bệnh để được bán thuốc chứ chẳng mấy khi đến bệnh viện khám lấy toa thuốc. Có thuốc rồi, việc uống cũng không hẳn hợp lý, chẳng hạn uống quá liều (để cho nhanh khỏi!) hoặc uống chưa đủ liều (khi thấy đã bớt bệnh). Nhiều người còn có tâm lý uống kháng sinh để trị bá bệnh mà quên rằng kháng sinh không phải là thần dược và luôn có tác dụng phụ. Đã vậy, không ít người còn tin vào những loại thuốc hoàn toàn không rõ nguồn gốc, không có tên cơ sở sản xuất, không nhãn mác ghi thành phần, thời hạn sử dùng, liều dùng… (như kiểu thuốc “dân tộc cứu nhân vật”; hoặc tin vào những trò chữa bệnh phản khoa học (đấm bóp, uống nước lã…).
Tuyên truyền, giáo dục người dân để nâng cao ý thức phòng và chữa bệnh đúng cách cần phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài. Còn vấn nạn thuốc giả lại là nỗi lo trước mắt của người dân mà các cơ quan chức năng, trong đó đặc biệt là ngành y tế, phải hết sức quan tâm, xử lý. Thuốc giả không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân (nhất là cùng với tâm lý coi thường sức khỏe như đã nêu), gây thiệt hại kinh tế cho xã hội mà còn làm giảm uy tín của các đơn vị sản xuất thuốc chân chính và cả ngành dược phẩm nước nhà.
Chính vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, xử lý các trường hợp sản xuất, tiêu thụ thuốc giả. Ngành y tế phải tham gia cùng với quản lý thị trường, hải quan, công an… để thường xuyên kiểm tra địa bàn và kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu để ngăn ngừa thuốc giả được tung ra trên thị trường. Bên cạnh đó, cần xem xét điều chỉnh các hình thức xử phạt đối với hành vi sản xuất, tiêu thụ thuốc giả, theo hướng nghiêm khắc hơn hành vi sản xuất hàng giả khác. Một mặt cần sử dụng biện pháp kinh tế (phạt tiền thật nặng) kết hợp với xử lý hình sự đối với những cá nhân có hành vi này.
Ngoài ra, cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân ý thức và cách thức tránh mua phải các loại thuộc giả, chẳng hạn phải mua thuốc có nhãn mác, ở nơi bán tin cậy… Công tác này đồng thời kết hợp với việc tuyên truyền nâng cao ý thực tự bảo vệ sức khỏe của người dân. Có như vậy mới hạn chế được những trường hợp đáng tiếc do sử dụng thuốc giả, đồng thời cũng là cách nâng cao sức khỏe, thể chất của người Việt Nam.

Kỷ niệm gia đình

THƯ GỬI CON GÁI

Con yêu,
Mấy tuần nay, ba đôi lần giận dữ đánh đòn con để lại vết hằn trên da thịt. Đánh xong, ba thương con quá, thế nào rồi ba cũng ôm con vào lòng, hôn lấy hôn để, xoa xoa trên chỗ đau. Ba hay hỏi: “Có đau không con?” Lần nào cũng vậy, con nhoẻn miệng cười bảo: “Không đau”!
Con không đau mà lòng ba thì đau nhói. Đau vì phút nóng giận đã đánh đòn đòn. Đau vì nhiều điều không thể nói ra được.
Con gái của ba thật ra cũng đáng đánh đòn lắm. Ba giận nhất là cái tính biếng ăn của con. Hôm nào, dù dỗ ngon dỗ ngọt, dù đe nẹt, dù dùng cái gì đó để dẫn dụ, chỉ được vài muỗng, thế nào con cũng ngả ngớn. Miệng thì ngậm mãi, tay chân múa may… Hôm nào, ba cũng để sẵn cái roi tre lấy từ nhà nội để dọa con. Riết rồi con cũng chẳng sợ, mới nghe ba rầy vài tiếng con đã tự lấy roi đến cho ba. Vậy là hết cách! Rồi cái tật ham chơi, hiếu động nữa. Ba mừng vì con khỏe mạnh, lanh lợi nhưng cũng lắm khi phát bực vì cái tính ấy. Nhất là cái tật mè nheo đòi đi chơi… Mà thôi, dù thế nào, con cũng có quyền đó mà!
Sau buổi đòn của ba, chưa bao giờ ba thấy con giận. Con thật biết chuyện, vì con biết mình có lỗi, và có lỗi thì phải chịu đánh đòn. Dù mỗi lần chỉ đánh một hai roi nhưng ba biết như thế cũng là nhiều. Đôi lúc ba đành đổ thừa cho tính nóng giận của mình… Thực ra chưa bao giờ vì “giận cá chém thớt” nhưng đôi lúc có điều gì đó đã làm ba thiếu kiềm chế…
Dù thế nào, ba vẫn yêu con nhất. Ba còn sợ mai này có em, ba sẽ không công bằng với chị em con nữa! Có lẽ hiểu vậy nên lần nào ba hỏi: “Ai thương con nhất”, con không ngần ngại nói: “Ba”. Tối, dạo này con hay ôm ba, rồi gác chân lên người ba nữa. Có hôm con còn bảo ba ôm con mới chịu…
Hãy ngoan con nhé! Ba không bao giờ muốn dùng roi để dạy dỗ con cái nhưng dường như ba đã bất lực. Ba không biết làm sao để con phải vâng lời. Có những điều bất lực còn lớn hơn việc dạy co nữa!
Nói sao cho con hiểu đây. Mai này chắc con cũng sẽ hiểu. Nhưng không biết con sẽ thông cảm hay oán giận ba nữa!
Ở đời, có phải điều gì cũng diễn ra theo ý mình phải không con!
Ba yêu con nhất.
Hãy ngoan nhé con!

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2008

Thời sự và suy nghĩ

ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG CHUNG TAY…

Nhiều người đã cho rằng ngày nay “Lục Vân Tiên” không còn nhiều. Có lẽ vậy, vì một cô gái bị đánh hội đồng giữa phố mà không ai can thiệp; cũng vì vậy mà bọn Đạt “trắng” ngông nhiên quay lại tấn công người đã can thiệp hành vi cướp giật của chúng… Cái tâm lý “thúc thủ cầu an” tuy không bao trùm tất cả nhưng dường như nó luôn có trong mỗi người. Khi có sự dũng cảm của ai đó thì cái tâm lý ấy nhỏ lại, còn khi “đồng loạt” cầu an thì cái tâm lý ấy lớn nhất. Tôi chợt nhớ chuyện trong một bộ phim hoạt hình, có một con quái vật sống bằng sự sợ hãi của người khác, khi ai đó càng sợ thì nó càng lớn và ngược lại!
Tình trạng vắng bóng “Lục Vân Tiên” cũng có sự gần gũi với những sự việc mà bài “Không phải việc của tôi” của Nguyễn Son (Tuổi trẻ ngày 25-7-2008) đã phản ánh. Có một sự thật phổ biến và đau lòng là mọi người đều thấy có những sự việc không hay, đáng trách, đáng lên án, hoặc đáng làm nhưng ai nấy nhìn nhau, xem như mình vô can. “Không phải việc của tôi”, vậy là việc của ai, nào ai biết! Nguyễn Son viết: “Mọi người đều yên trí rằng: sẽ có vài người hoặc ai đó làm việc ấy. Nhưng rốt cuộc chẳng có người nào làm. Thấy vậy, mấy người nổi giận, bảo đó là việc của mọi người. Còn mọi người cho rằng người nào đó cũng làm được. Vậy mà: Chẳng người nào nhận ra rằng: mọi người đều không ai làm. Kết cuộc: mọi người đổ lỗi cho mấy người, trong khi chẳng người nào làm cái việc mà người nào đó đã làm”. Nó có gì mỉa mai như câu “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, “cha chung không ai khóc”, vì “đâu phải của tôi”, “đâu phải việc của tôi”!
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng mấy bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Thực tế có một sự liên hệ về mối quan hệ nhân quả giữa “không phải việc của tôi” với “hậu quả của tôi”. Chẳng hạn như, một người thấy người khác xả rác bừa bãi mà không nhắc nhở thì chính bản thân người đó sẽ phải sống trong môi trường đầy rác; một người thấy trộm mà không tri hô, không đấu tranh thì sẽ có lúc trở thành nạn nhân của tên trộm đó… Tức là “giông gió bạo tàn không tha thứ cho kẻ thúc thủ cầu an”.
Tuy nhiên, để mọi người cùng chung tay để đẩy lùi dần cái ác, cái xấu (không chỉ trên đường phố và trong xã hội) thì không thể kêu gọi suông. Ai cũng có lý do chính đáng để không trực tiếp đương đầu với cái ác, cái xấu. Vai trò của các cơ quan công quyền phải được phát huy một cách tích cực nhất. Vẫn còn đó phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”, nhưng các phong trào này sẽ đi đến đâu nếu vai trò hạt nhân của các cơ quan công quyền, của các cán bộ, công chức quá mờ nhạt? Tức là, để một người mạnh dạn ra tay truy bắt cướp thì ít nhất họ cũng được biết rằng sau lưng họ là ai, chứ không phải sự lo lắng rằng sẽ không có ai cả, hoặc mọi người xung quanh thì chỉ dám nhìn qua khe cửa, còn lực lượng công an không biết bao giờ mới đến… Hoặc nếu họ gặp rủi ro thì có sự quan tâm nào đến gia đình họ không… Như vậy, cơ quan công quyền vẫn là lực lượng chính, sự tham gia của người dân chỉ là phụ trợ, bổ sung.
Tôi được biết, ở một số nước phát triển, ý thức công dân của người dân rất cao nhưng hiếm có việc họ trở thành “Lục Vân Tiên”, vì việc một cá nhân tấn công một cá nhân khác mà không phải hành vi tự vệ chính đáng đều là vi phạm pháp luật. Hành động ý nghĩa nhất của họ là báo cảnh sát và lực lượng an ninh của họ thường xuyên làm việc hiệu quả, tạo được niềm tin cho người dân. Còn ở ta thì sao? Nếu vì các cơ quan công quyền chưa làm tròn chức trách của mình mà chỉ kêu gọi tinh thần nghĩa hiệp của người dân thì e rằng sẽ ngày càng có ít “Lục Vân Tiên” hơn!