MỘT THỜI… CON CÚI
Cảm thương những nông dân đã hy sinh khi vì thù nhà nợ nước mà bất đắc dĩ thành chiến binh, mà đúng hơn là những nghĩa binh vô cùng dũng cảm, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu đã dành những lời hết sức xúc động. Từ những người quen tay cày tay cuốc, họ đã trở thành chiến sĩ với những vũ khí thô sơ mà như Nguyễn Đình Chiểu đã viết:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng giết xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đao làm bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Có lẽ đối với những người đã từng sống ở nông thôn, nhất là vùng trồng lúa, mới có thể biết “con cúi” là con gì hay cái gì. Con cúi ở đây là một vật dụng bện bằng rơm (đan theo kiểu như tóc thắt bính hay tết đuôi sam), có rất nhiều công dụng. Con cúi bện chặt dùng để giữ lửa. Ngày trước tìm được lửa và giữ nó là rất khó khăn, không phải lúc nào thần Promethée cũng dễ tính. Ở nông thôn, người ta giữ lửa bằng cách để lửa cháy âm ỉ trong củi ướt hoặc than. Ngoài ra còn có thể giữ lửa bằng con cúi như trong một quyển tự điển tiếng Việt, con cúi đã được giải thích là “cuộn rơm tết, dùng để giữ lửa”. Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra lửa ngày trước (độ mười lăm hai chục năm trước đây thôi) là khá vất vả. Ngoài diêm, người ta thường dùng hộp quẹt (bật lửa) đánh lửa bằng viên đá nhỏ xíu để bắt lửa vào một mồi bông gòn có tẩm dầu hỏa hoặc xăng. Những người cẩn thận luôn trữ sẵn rất nhiều đá lửa trong nhà để đề phòng bất trắc. Dù vậy, nếu lỡ mồi bông gòn bị ướt thì để “quẹt” ra được lửa cũng gian nan vô cùng, có khi phồng cả ngón tay cái!
Con cúi để giữ lửa được đánh rất chặt bằng rơm hơi ướt một chút. Có ba lọn rơm, tùy theo yêu cầu cần con cúi to hay nhỏ mà chọn lọn to hay nhỏ, nhưng mỗi lọn đều được xoắn chặt và khi bện vào nhau cũng xiết hết tay để chiếm hết những khoảng không dù nhỏ nhoi trong con cúi, để tránh lửa bùng cháy. Lửa được giữ cháy âm ỉ trong lòng con cúi và lúc nào cũng ngún khói. Để con cúi không tắt, thỉnh thoảng người ta thổi cho những đóm lửa sáng lên hoặc treo ngược nó lên.
Nhưng con cúi không chỉ có chức năng đó thôi. Ở quê tôi, vùng duyên hải Tây Nam Bộ, cứ sau Tết là đến mùa nước kém và cũng là mùa nước mặn. Dòng kênh nước tràn bờ trong mùa nước nổi được thay bằng những ngày nước kém khô cạn tận đáy. Nước cạn, không có xuồng, đi bộ hoặc băng qua kênh rạch khá dễ dàng nhưng ai cũng ngại ra đồng vì ngại một thứ côn trùng bé tẹo: đó là con bù mắt – người địa phương quê tôi gọi thế – tôi không biết nó còn tên gọi nào khác không. Loại côn trùng này, (xuất hiện trong câu thành ngữ “cọp ăn bù mắt”), đốt rất ngứa và khó chịu hơn bị muỗi đốt rất nhiều, đến nỗi không ai không thể không gãi. Mà đã gãi thì đến mê mệt, xước da rướm máu mới thôi. Có người thì dùng khăn trùm kín mặt lại, mặc áo dài tay. Nhưng lội đồng thì không thể mặc quần dài được nên người ta có sáng kiến là thoa bùn non lên đầy chân, từ bàn chân cho đến… quần. Bù mắt đánh hơi có máu là xông vào nhưng bị lớp bùn non giữ chặt lấy nó, thế là… tàn đời. Nhưng cũng chưa phải toàn vẹn, vì còn tay, cổ, mặt,… chẳng lẽ thoa bùn khắp cả? Nhiều người dùng con cúi hun khói để đuổi chúng. Vậy là con cúi còn có thêm một chức năng nữa là để… đuổi bù mắt!
Tôi nhớ, ngày nhỏ, sáng sáng trước khi đi học, ba đánh sẵn cho anh em tôi mỗi đứa một con cúi nho nhỏ. Cứ huơ đi huơ lại trước hai chân và khắp người, bù mắt nghe khói không dám xông vào đốt. Cứ như vậy cho đến khi nắng lên cao không còn bù mắt thì chúng tôi vứt con cúi đi hoặc có khi, con cúi cháy hết thì tôi đã qua khỏi đám ruộng. Con cúi của ba tôi làm bao giờ cũng đẹp, cũng gọn, hun khói nhiều và không sút đổ. (Tôi cũng thử làm nhưng những lần đầu đều không thành: lúc thì chặt quá không cháy được, lúc lỏng quá, rơm rơi vãi). Vì vậy, tôi nghĩ rằng đối với cụ Đồ Chiểu hay nhiều người con cúi có thể trở thành một thứ vũ khí, một công cụ giết giặc, thì với chúng tôi, con cúi là bạn đồng hành trong những ngày đi học.
Ngoài ra, con cúi còn được dùng trong nhiều việc khác nữa. Người ta bện một con cúi dài rồi quấn quanh chân bồ lúa để tránh bị chuột khoét. Con cúi còn được dùng làm ổ gà đẻ. Đơn giản hơn là người ta đánh rơm thành những con cúi để dễ trữ, dễ vận chuyển. Và vì vậy, nếu giải thích như cuốn tự điển kia thì e rằng con cúi còn thiếu nhiều chức năng quá!
Con cúi ngày càng xa vời. (Gia đình tôi sau chuyển đến sống ở một vùng cao nguyên. Từ đó, con cúi rơm không còn hiện diện trong đời sống chúng tôi nữa. Lâu ngày con cúi chỉ còn là một hình ảnh phai mờ). Ở nông thôn, ngày nay chẳng ai phải giữ lửa nữa. Hộp quẹt ga không ngại bị ướt. Hiện đại hơn là đã có biogas, chẳng cần đến hộp quẹt nữa! Còn đồng ruộng đã được hiện đại hóa, có thể cưỡi xe máy đến tận nơi, không lo bị bù mắt đốt. Sang hơn có thể dùng thuốc bôi ngoài da. Lúa làm ra cũng không nhất thiết phải giữ trong bồ nữa, mà năng suất ngày càng cao, cũng không phải nhà nào cũng quây được bồ to mà vựa. Lúa đã trở thành hàng hóa, nếu không thì cũng đã có nhiều chỗ để gửi, không cần phải mang về nhà cho tốn sức. Còn nuôi gà đẻ công nghiệp thì chẳng ai cần đến một cái ổ “cầu kỳ” như thế. Và rơm ngày nay được chuyên chở trên những xe công nông mạnh bằng sức của cả chục con trâu, con bò cộng lại. Tóm lại, con cúi đối với nhiều người chỉ là kỷ niệm và đối với nhiều người khác thậm chí nó còn chưa bao giờ xuất hiện trong ý nghĩ của họ.
Nhưng đối với tôi, con cúi sẽ còn mãi trong tâm trí, không phải chỉ vì ba tôi đã từng đánh con cúi cho anh em chúng tôi đi học với biết bao tình cảm và hy vọng chất chứa trong ấy, mà còn vì nó đã gắn bó suốt một thời làm nông của tôi, gia đình và họ hàng nhà tôi. Bởi vậy, không phải chỉ có ba và mẹ mới là bạn đồng hành với chúng tôi trong cuộc đời, mà những con cúi giản dị cũng đã từng cùng sống với chúng tôi trong những ngày đi học, đi làm đồng…
Tôi không chắc mình bây giờ có còn làm được những con cúi nữa không nhưng có lẽ mãi mãi tôi không bao giờ quên được những con cúi đơn giản, mộc mạc của một thời thơ ấu, một thời còn là một “tiểu nông dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nhớ con cúi nhưng tôi mừng khi thấy người ta cũng đã quên dần nó. Đơn giản vì con cúi đã đi cùng với nông dân ta trong thời kỳ gian khổ, nghèo khó nhất, mà tôi thì muốn nó đi qua càng nhanh càng tốt!
Cảm thương những nông dân đã hy sinh khi vì thù nhà nợ nước mà bất đắc dĩ thành chiến binh, mà đúng hơn là những nghĩa binh vô cùng dũng cảm, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu đã dành những lời hết sức xúc động. Từ những người quen tay cày tay cuốc, họ đã trở thành chiến sĩ với những vũ khí thô sơ mà như Nguyễn Đình Chiểu đã viết:
“Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng giết xong nhà dạy đạo kia,
Gươm đao làm bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai nọ”.
Có lẽ đối với những người đã từng sống ở nông thôn, nhất là vùng trồng lúa, mới có thể biết “con cúi” là con gì hay cái gì. Con cúi ở đây là một vật dụng bện bằng rơm (đan theo kiểu như tóc thắt bính hay tết đuôi sam), có rất nhiều công dụng. Con cúi bện chặt dùng để giữ lửa. Ngày trước tìm được lửa và giữ nó là rất khó khăn, không phải lúc nào thần Promethée cũng dễ tính. Ở nông thôn, người ta giữ lửa bằng cách để lửa cháy âm ỉ trong củi ướt hoặc than. Ngoài ra còn có thể giữ lửa bằng con cúi như trong một quyển tự điển tiếng Việt, con cúi đã được giải thích là “cuộn rơm tết, dùng để giữ lửa”. Cũng cần phải nói thêm rằng việc tạo ra lửa ngày trước (độ mười lăm hai chục năm trước đây thôi) là khá vất vả. Ngoài diêm, người ta thường dùng hộp quẹt (bật lửa) đánh lửa bằng viên đá nhỏ xíu để bắt lửa vào một mồi bông gòn có tẩm dầu hỏa hoặc xăng. Những người cẩn thận luôn trữ sẵn rất nhiều đá lửa trong nhà để đề phòng bất trắc. Dù vậy, nếu lỡ mồi bông gòn bị ướt thì để “quẹt” ra được lửa cũng gian nan vô cùng, có khi phồng cả ngón tay cái!
Con cúi để giữ lửa được đánh rất chặt bằng rơm hơi ướt một chút. Có ba lọn rơm, tùy theo yêu cầu cần con cúi to hay nhỏ mà chọn lọn to hay nhỏ, nhưng mỗi lọn đều được xoắn chặt và khi bện vào nhau cũng xiết hết tay để chiếm hết những khoảng không dù nhỏ nhoi trong con cúi, để tránh lửa bùng cháy. Lửa được giữ cháy âm ỉ trong lòng con cúi và lúc nào cũng ngún khói. Để con cúi không tắt, thỉnh thoảng người ta thổi cho những đóm lửa sáng lên hoặc treo ngược nó lên.
Nhưng con cúi không chỉ có chức năng đó thôi. Ở quê tôi, vùng duyên hải Tây Nam Bộ, cứ sau Tết là đến mùa nước kém và cũng là mùa nước mặn. Dòng kênh nước tràn bờ trong mùa nước nổi được thay bằng những ngày nước kém khô cạn tận đáy. Nước cạn, không có xuồng, đi bộ hoặc băng qua kênh rạch khá dễ dàng nhưng ai cũng ngại ra đồng vì ngại một thứ côn trùng bé tẹo: đó là con bù mắt – người địa phương quê tôi gọi thế – tôi không biết nó còn tên gọi nào khác không. Loại côn trùng này, (xuất hiện trong câu thành ngữ “cọp ăn bù mắt”), đốt rất ngứa và khó chịu hơn bị muỗi đốt rất nhiều, đến nỗi không ai không thể không gãi. Mà đã gãi thì đến mê mệt, xước da rướm máu mới thôi. Có người thì dùng khăn trùm kín mặt lại, mặc áo dài tay. Nhưng lội đồng thì không thể mặc quần dài được nên người ta có sáng kiến là thoa bùn non lên đầy chân, từ bàn chân cho đến… quần. Bù mắt đánh hơi có máu là xông vào nhưng bị lớp bùn non giữ chặt lấy nó, thế là… tàn đời. Nhưng cũng chưa phải toàn vẹn, vì còn tay, cổ, mặt,… chẳng lẽ thoa bùn khắp cả? Nhiều người dùng con cúi hun khói để đuổi chúng. Vậy là con cúi còn có thêm một chức năng nữa là để… đuổi bù mắt!
Tôi nhớ, ngày nhỏ, sáng sáng trước khi đi học, ba đánh sẵn cho anh em tôi mỗi đứa một con cúi nho nhỏ. Cứ huơ đi huơ lại trước hai chân và khắp người, bù mắt nghe khói không dám xông vào đốt. Cứ như vậy cho đến khi nắng lên cao không còn bù mắt thì chúng tôi vứt con cúi đi hoặc có khi, con cúi cháy hết thì tôi đã qua khỏi đám ruộng. Con cúi của ba tôi làm bao giờ cũng đẹp, cũng gọn, hun khói nhiều và không sút đổ. (Tôi cũng thử làm nhưng những lần đầu đều không thành: lúc thì chặt quá không cháy được, lúc lỏng quá, rơm rơi vãi). Vì vậy, tôi nghĩ rằng đối với cụ Đồ Chiểu hay nhiều người con cúi có thể trở thành một thứ vũ khí, một công cụ giết giặc, thì với chúng tôi, con cúi là bạn đồng hành trong những ngày đi học.
Ngoài ra, con cúi còn được dùng trong nhiều việc khác nữa. Người ta bện một con cúi dài rồi quấn quanh chân bồ lúa để tránh bị chuột khoét. Con cúi còn được dùng làm ổ gà đẻ. Đơn giản hơn là người ta đánh rơm thành những con cúi để dễ trữ, dễ vận chuyển. Và vì vậy, nếu giải thích như cuốn tự điển kia thì e rằng con cúi còn thiếu nhiều chức năng quá!
Con cúi ngày càng xa vời. (Gia đình tôi sau chuyển đến sống ở một vùng cao nguyên. Từ đó, con cúi rơm không còn hiện diện trong đời sống chúng tôi nữa. Lâu ngày con cúi chỉ còn là một hình ảnh phai mờ). Ở nông thôn, ngày nay chẳng ai phải giữ lửa nữa. Hộp quẹt ga không ngại bị ướt. Hiện đại hơn là đã có biogas, chẳng cần đến hộp quẹt nữa! Còn đồng ruộng đã được hiện đại hóa, có thể cưỡi xe máy đến tận nơi, không lo bị bù mắt đốt. Sang hơn có thể dùng thuốc bôi ngoài da. Lúa làm ra cũng không nhất thiết phải giữ trong bồ nữa, mà năng suất ngày càng cao, cũng không phải nhà nào cũng quây được bồ to mà vựa. Lúa đã trở thành hàng hóa, nếu không thì cũng đã có nhiều chỗ để gửi, không cần phải mang về nhà cho tốn sức. Còn nuôi gà đẻ công nghiệp thì chẳng ai cần đến một cái ổ “cầu kỳ” như thế. Và rơm ngày nay được chuyên chở trên những xe công nông mạnh bằng sức của cả chục con trâu, con bò cộng lại. Tóm lại, con cúi đối với nhiều người chỉ là kỷ niệm và đối với nhiều người khác thậm chí nó còn chưa bao giờ xuất hiện trong ý nghĩ của họ.
Nhưng đối với tôi, con cúi sẽ còn mãi trong tâm trí, không phải chỉ vì ba tôi đã từng đánh con cúi cho anh em chúng tôi đi học với biết bao tình cảm và hy vọng chất chứa trong ấy, mà còn vì nó đã gắn bó suốt một thời làm nông của tôi, gia đình và họ hàng nhà tôi. Bởi vậy, không phải chỉ có ba và mẹ mới là bạn đồng hành với chúng tôi trong cuộc đời, mà những con cúi giản dị cũng đã từng cùng sống với chúng tôi trong những ngày đi học, đi làm đồng…
Tôi không chắc mình bây giờ có còn làm được những con cúi nữa không nhưng có lẽ mãi mãi tôi không bao giờ quên được những con cúi đơn giản, mộc mạc của một thời thơ ấu, một thời còn là một “tiểu nông dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Nhớ con cúi nhưng tôi mừng khi thấy người ta cũng đã quên dần nó. Đơn giản vì con cúi đã đi cùng với nông dân ta trong thời kỳ gian khổ, nghèo khó nhất, mà tôi thì muốn nó đi qua càng nhanh càng tốt!
Bài đã đăng trên Thanh niên chủ nhật, ngày 21.7.2002

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét