Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2008

Thời sự và suy nghĩ

GIÁ XĂNG DẦU GIẢM CÒN QUÁ ÍT!

Giá xăng lại giảm thêm 500đ/l. Như vậy là đã có “bốn bước lùi ngắn vẫn không so được với một bước tiến dài”! Quyết định giảm giá được đưa ra trong bối cảnh giá dầu thế giới đã có lúc xuống dưới 70 USD mỗi thùng. Chốt phiên giao dịch 16-10 tại New York, giá dầu giao tháng 11 xuống 69,85 USD mỗi thùng, thấp nhất kể từ 23-8-2007. Giá xăng A92 đóng cửa ngày 16-10 tại thị trường Singapore ở mức 73,3 USD mỗi thùng, về đến Việt Nam vào khoảng 76 USD. Với giá này, sau khi tính thuế và tất cả các khoản phí khác, xăng sẽ là 12.000đ/l, tức là doanh nghiệp vẫn lãi 4.000đ/l, tương đương 25%, một mức lãi đáng mơ ước! Với đông đảo người dân, việc mua xăng dù đã có nhiều doanh nghiệp nhưng không hề có cạnh tranh, vẫn phải chấp nhận gần như tình trạng độc quyền (mua mà không được quyền “trả giá”, không được kiểm tra chất lượng, không biết chính xác số lượng…). Dù vậy, đã giảm vẫn là tốt rồi!
Trên thực tế, giá cả tăng cao trong thời gian qua có một phần là do giá xăng dầu (tác động đến việc sản xuất, vận chuyển, nguyên liệu đầu vào…). Giá xăng dầu tăng từ 14.500đ/l lên 19.000đ/l cách đây 3 tháng, tức 31%, thì nhiều mặt hàng khác cũng tăng xấp xỉ mức đó, dù xăng dầu chỉ là một phần trong giá thành. Thành ra người dân đã không chỉ phải bỏ thêm 31% cho việc đi lại mà còn gần như nhiều khoản khác nữa. Thế nhưng, qua 3 lần giảm giá xăng dầu trước đây, hầu hết giá cả của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác gần như “bình chân như vại”, không thèm giảm! Đó là điều bất hợp lý, thể hiện sự bất chấp quy luật thị trường của nhiều doanh nghiệp và nhất là sự thiếu chặt chẽ, quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bình ổn giá cả. Như vậy, giá xăng dầu giảm, được người dân hoan nghênh nhưng thực ra chưa giảm đáng kể được gánh nặng chi tiêu trong từng gia đình. Tức là chỉ vui về tâm lý thôi!
Trong tình hình hiện nay, đặc biệt là với sự giảm giá của xăng dầu thế giới (hiện chỉ còn hơn 50% giá so với lúc doanh nghiệp tăng giá từ 14.500 lên 19.000đ/l), các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu cần tính toán để tiếp tục giảm giá bán. Chính sách giá theo thị trường xăng dầu thế giới của Chính phủ phải được thực hiện cả ở 2 chiều, chiều tăng và chiều giảm, chứ không thể lúc tăng thì vội vã, tăng cao, lúc giảm thì chậm chạp lại giảm ít. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết, bình ổn giá cả thị trường, tức là phải có tăng có giảm ở mức tương xứng với điều kiện thị trường và điều kiện đầu vào (giá thành). Có như vậy, đời sống người dân mới giảm bớt khó khăn do giả cả sinh hoạt tăng cao như hiện nay.
Ngoài ra, biện pháp điều tiết thu nhập bằng các biện pháp đánh thuế với người có thu nhập cao và hỗ trợ người có thu nhập thấp cần được thực hiện quyết liệt hơn nữa. Chẳng hạn, cần nghiên cứu tăng thuế đối với các mặt hàng xa xỉ nhưng giảm thuế và có biện pháp trợ cấp đối với các mặt hàng phục vụ sản xuất… Về lâu dài, đây cũng là cách hạn chế sự giãn cách giàu nghèo trong xã hội.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2008

Câu chuyện thể thao

HÃY THOẢI MÁI ĐI!

Tuyển Việt Nam đã có trận hòa hòa đầu tiên dưới thời Calisto, trong một trận đấu không có bàn thắng nhưng có hàng loạt cơ hội bị bỏ lỡ. Có thể người hâm mộ chưa hài lòng. Riêng tôi cho rằng, chúng ta nên thoải mái đi!
Áp lực thành tích dường như đã trở thành rào cản cho sự phát triển của bóng đá Việt Nam, bởi các HLV thì chỉ tính những bước đi ngắn, theo kiểu “ăn xổi ở thì”, các tuyển thủ thì phải căng sức ra đá, lãnh đạo VFF thì vất vả ngược xuôi để “dàn xếp” mỗi khi đội tuyển thất trận, còn người hâm mộ thì thất vọng, phản đối khi đội nhà chơi không thành công… Bóng được chơi (và được chỉ đạo, cổ vũ) bằng những cái đầu nặng trĩu thì không thể hay, đẹp được! Vậy sao ta không thoải mái và bằng lòng đi với cái mình đó, rồi vạch ra những chiến lược để có kết quả tốt hơn trong thời gian tới, thay vì cứ vướng vào cái vòng luẩn quẩn thành tích trước mắt?
Xét về thực lực, tôi không cho là đội tuyển Việt Nam bây giờ mạnh hơn đội thời Calisto lần đầu nắm tuyển cách đây 6 năm. Hồi đó, trong đội hình có một thủ lĩnh là Lê Huỳnh Đức, có những nhân tố có thể gây đột biến thực sự là Minh Phương, Xuân Thành, Văn Quyến…, khi đó đều là những người mới lên tuyển. Ngoài ra, sau vụ Letard, đội tuyển gặp nhiều bất ổn, nhưng tinh thần thi đấu của các tuyển thủ nhìn chung là thoải mái, vì không có áp lực thành tích.
Còn hiện nay, sau sự trở lại xuất sắc của Hồng Sơn, nhưng chốt chặn cuối cùng của đội tuyển cũng còn là ẩn số, vì những Santos hay Quang Huy đều chưa thể an tâm. Tuyến hậu vệ thì còn nhiều lắp ghép và có vẻ là điểm yếu nhất của tuyển Việt Nam hiện nay và là hàng hậu vệ kém nhất của tuyển trong nhiều năm qua. Tuyến tiền vệ thì chơi thiếu kết dính và ít sáng tạo, không hỗ trợ nhiều cho hàng công lẫn hàng thủ. Hàng tiền đạo thì vẫn phải trông cậy nhiều vào Công Vinh nhưng Vinh không phải là Văn Quyến, càng không phải Huỳnh Đức, hơn nữa hiện cũng không có phong độ tốt nhất. Đã vậy, đội tuyển dường như chưa là một khối thống nhất, trong khi không có một thủ lĩnh thực sự. Trong tình hình đó, đòi hỏi thành tích cao càng tạo thêm áp lực cho các cầu thủ mà thôi! Theo tôi, nếu đội tuyển vào đến bán kết ở AFF Cup sắp tới cũng nên xem là thành công rồi.
Một đất nước 85 triệu dân nhưng đội tuyển bóng đá không thắng được một đảo quốc có hơn 3 triệu dân như Singapore có phải là đáng buồn không, khi cả hai nước không có sự khác biệt lớn về văn hóa, dân tộc? Có lẽ đã đến lúc các nhà hoạch định bóng đá Việt Nam cần can đảm chọn những mũi nhọn thực sự để hướng tới thay vì cứ giải quyết những vụn vặt cụ thể (những giải giao hữu chẳng hạn). Thoải mái, không đặt nặng thành tích nhưng phải đặt ra những mục tiêu rõ ràng và nỗ lực (đầu tư) đạt được. Thiết nghĩ, điều này không đơn thuần là làm người hâm mộ hài lòng mà là cách để phát triển nền bóng đá nước nhà.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2008

Tạp bút

CÁNH HOA DẦU

Thành phố bây giờ vẫn còn nhiều hoa dầu lắm. Đường Trần Quốc Thảo, Nguyễn Chí Thanh, Hùng Vương, Ba tháng Hai… tuy không rợp kín bóng cây dầu nhưng nhiều đoạn vẫn còn sừng sững những tán dầu hằn dấu thời gian. Bao thăng trầm, bao thay đổi của đất Sài Gòn này được những bóng dầu ghi nhận tất cả, kể đã hơn trăm năm và trải qua ba thế kỷ. Nó không những tạo nên một thành phố xanh, mát mẻ mà còn ra dáng cổ kính, uy nghiêm. Và đầy xúc cảm.
Mùa mưa. Gió lắc lư những cành cây phần nhiều đã được cắt tỉa gọn để tránh gãy đổ. Từng đợt hoa dầu xoay tít trong không trung rồi từ từ rơi xuống. Hoa rơi trên những mái nhà cao tầng, trên những tấm bạt di động, trên những tán cây thấp hơn, xuống mặt đường và cả trên tóc những cô gái Sài Gòn đang hối hả tránh mưa. Hoa rơi vô tình. Nhưng người ngắm nó thì chẳng vô tình. Nó gợi bao xúc cảm trong tâm hồn những ngươi đã một ngày bận bịu với công việc. Giờ những cánh hoa gợi một cảm giác thanh bình, dịu dàng, êm ả dù giông gió đang gào thét trên đầu và mưa đang chực đổ xuống. Cái điều gì đó bất thường cũng đáng chú ý. Cái gì đẹp thì nó dẫu trong một không gian đầy mưa gió cũng đẹp.
Mùa nào hoa cũng rụng. Mùa nào hoa cũng vương trên tóc một đôi người. Mùa nào cũng có người lặng lẽ viết những vần thơ về hoa dầu và khe khẽ hát vài câu của một bài hát. Ở thành phố này, sẽ buồn và lạ lắm nếu không còn hoa dầu.
Đêm. Phố phường lên đèn. Người ta có thể đang suy tư với cánh hoa sắp chết. Nhưng thành phố đang bước vào một cuộc sống khác. Những nhát chổi lấp loáng cùng ánh bạc của chiếc áo phản quang đưa đi đưa lại. Hoa giờ lẫn trong rác rưởi. Hoa giờ là rác rưởi. Người ta phải quét cật lực để dọn hết số hoa rụng vương vai, để làm sạch thành phố. Người đi đường không còn biết gì đến một kiếp hoa đã rụng, cũng không để ý gì đến những nhát chổi đều đều xào xạc nữa. Hoa đã chết. Hoa đã làm tròn sứ mệnh của mình. Đã bắt đầu một cuộc song khác.
Chỉ mùa mưa, thành phố mới có hoa dầu mới rụng. Nhưng đêm nào thành phố cũng có những ánh bạc lấp lánh.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

Tạp bút

NHỚ MỘT “ĐÊM HIẾN MÁU”

Mười giờ một đêm cuối năm 2002. Tôi chuẩn bị đi ngủ thì có điện thoại. Bệnh viện Chợ Rẫy đang có mấy ca mổ, cần máu gấp, mời các thành viên của Đội Hiến máu dự bị có cùng nhóm máu đến ngay Trung tâm Hiến máu nhân đạo thành phố để tiếp máu. Tôi vội vã phóng xe đến, lòng hồi hộp không biết mình có đến trễ không... Người nhận máu thì có thể không được phép chờ đợi...

Tôi đến Trung tâm, đèn mở sáng choang. Ngoài cổng cũng có mấy người hối hả dắt xe vào. Tôi nhận ra ngay họ cũng như tôi, là những người đến hiến máu đột xuất.
Khám xong, uống vội ly trà đường, tôi nằm vào giường để cho máu. Đã nhiều lần hiến máu, nhưng đây là lần thứ hai tôi cảm thấy rất vui khi nằm vào chiếc giường trải drap trắng có cô y tá ngồi bên cạnh cầm chiếc kim thật to để rút máu. Lần trước cách đó vài năm, khi tôi hiến máu lần đầu, lúc tôi còn là sinh viên, nhằm đúng vào sinh nhật của người bạn thân nhất của tôi. Ngay buổi trưa hôm đó, tôi viết thư cho bạn tôi ngay để kể lại câu chuyện lần đầu hiến máu và không quên nói rằng: “Tao hiến máu là để chào mừng sinh nhật mày đó!”. Vừa viết tôi vừa nghĩ ngay đến nụ cười của thằng bạn khi đọc những dòng thư này. Tôi cảm thấy mình đã làm việc có ý nghĩa lần đầu tiên trong đời!
Đã có “kinh nghiệm”, nên tôi cảm thấy rất tự nhiên. Nhìn xung quanh, mấy người khác cũng cười cười nói nói vui vẻ. Tôi để ý thấy một người đàn ông vóc người trung bình, khuôn mặt cương nghị đi lại như con thoi để nhắc người này, động viên người kia. Tôi thầm đoán, chắc là “sếp”, chí ít cũng là người trực chính đêm nay, một đêm bình thường của Trung tâm nhưng lại rất quan trọng đến nhiều số phận con người. Một lúc sau, tôi khẽ hỏi cô y tá. Cô nở nụ cười rất tươi bảo: “Bác Mẫm đó!”. Tôi “à” lên một tiếng, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, Giám đốc Trung tâm Hiến máu nhân đạo, một con người “khét tiếng” mà tôi từng ngưỡng mộ đây mà! Lòng tôi chợt lại hồi hộp lạ thường.
Lấy máu xong, tôi ấn ngón cái vào vết thương đi đi lại lại rồi sà vào câu chuyện của “bác Mẫm” với mấy người nữa. Tôi nghe đến đoạn một người đàn ông – một kiến trúc sư, nhà ở Gò Vấp – tự nhận mình cũng từng tham gia phong trào học sinh sinh viên ở Sài Gòn những năm trước 1975. Tôi nghe chăm chú. Họ đang ôn lại câu chuyện về một thời tuổi trẻ hào hùng và oanh liệt. Tôi buột miệng hỏi: “Chú Mẫm tham gia vậy chứ có lần nào bị bắt không?” “Có chứ!” Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm trả lời rất nhanh, rồi ông cũng tự giải thích: “Tôi bị bắt 11 lần, có năm bị bắt mấy lần. Tôi bị giam đủ nơi hết, Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Bình Tuy, Vũng Tàu, Gò Công, Tân An... Tất nhiên là cũng nếm đủ mùi tra tấn hết. Mà nhằm nhò gì, vì bây giờ tôi vẫn còn mạnh đùng đây!” Mười một lần bị bắt. Đã từng nghe những thủ đoạn tra tấn rất tàn bạo của các nhà tù chế độ cũ, tôi không khỏi rùng mình khi biết đến một người từng mười một lần bị bắt, tất nhiên mười một lần bị tra tấn. Đi tàu bay, lộn mề gà, chích điện, trấn nước... hay đánh bằng chày vồ, ma trắc, dùng kim chích trên mười đầu ngón tay... là những cách dã man nhất mà con người có thể nghĩ ra để hành hạ đồng loại mình. Mà nạn nhân của những trò dã man đó là ai? Là những thanh niên nhiệt tình, hừng hực lửa đấu tranh, dạt dào tình yêu nước, là những sinh viên, học sinh của các trường học ngay tại Sài Gòn. Họ đã làm gì? Thì có phải đâu làm những việc bình thường, họ biểu tình chống chế độ, đốt xe Mỹ, xé cờ Mỹ... Chế độ ấy thì, ôm chân quan thầy Mỹ để duy trì quyền lực trên máu của đồng bào. Còn người Mỹ là những kẻ xâm lược từ bên kia đại dương mang bom đạn giết hại đồng bào ta. Là người có lòng yêu nước, có lương tri hầu như ai cũng đứng lên chống Mỹ và chế độ đó. Huỳnh Tấn Mẫm cũng vậy. Dù biết rằng phải đối mặt với bắt bớ, tù đày, giết chóc...
Tôi nhớ lại một dòng tư liệu. Ngày 10-2-1972, Nguyễn Thái Bình, người thanh niên yêu nước được Mỹ cấp học bổng du học tại xứ cờ hoa, cùng 9 sinh viên khác đã chiếm Văn phòng Tòa Lãnh sự chính quyền Sài Gòn tại thành phố New York, phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn bán nước. Bản tuyên bố gồm 3 nội dung chính, trong đó có nội dung: “Trả tự do tức khắc cho những tù nhân Việt Nam như bà Ngô Bá Thành, ông Huỳnh Tấn Mẫm, ông Lê Văn Nuôi, Linh mục Chân Tín, ông Nguyễn Xuân Lập, ông Vũ Sĩ Hùng và hơn 100.000 tù chính trị khác”. Đọc các tư liệu khác, tôi được biết Huỳnh Tấn Mẫm được các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước nói đến rất nhiều về những hành động quả cảm của mình. Con người đó không chỉ là nhà tranh đấu mà còn là bác sĩ, là phó tiến sĩ triết học ở Liên Xô... Con người đó tôi may mắn có dịp trò chuyện trong một đêm hiến máu thật đáng nhớ.
Trước đây tôi cũng từng “bị rủ rê” đi hiến máu. Vài lần tôi đã từ chối. Tôi ngại đau, ngại cây kim to, ngại... mất máu. Giá như có dịp gặp và trò chuyện về những ngày tù đày của Huỳnh Tấn Mẫm sớm hơn, thì tôi đã trở thành người hiến máu sớm hơn rồi. Nghĩ lại thật xấu hổ, có những con người dũng cảm tranh đấu không hề sợ bắt bớ, tra tấn, tù đày, thậm chí cái chết. Còn tôi, tôi lại sợ… cây kim rút máu! Nhưng tôi tự an ủi mình, dù sao, lần hiến máu thứ 10 trong đêm đó đối với tôi thật có ý nghĩa. Tôi ra về mà lòng rộn niềm vui, không chỉ vì tôi đạt được “huy chương bạc”, vì tôi đã làm một việc có ích mà còn tôi được gặp bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm! Đó là “đêm hiến máu”!

Câu chuyện văn hóa

NGƯỜI CÓ VĂN HÓA LÀ NGƯỜI BIẾT NGHĨ ĐẾN NGƯỜI KHÁC

Thành phố ta đang xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Sống văn minh thì không thể không có văn hóa. Môi trường xã hội nào cũng cần có văn hóa nhưng môi trường đô thị thì tính văn hóa càng đòi hỏi nhiều hơn. Bởi vì, bất kỳ một hành vi thiếu văn hóa nào cũng có ảnh hưởng xấu đến nhiều người khác. Chẳng hạn, ở nông thôn, việc bỏ rác hay phóng uế bừa bãi của một vài người có ảnh hưởng không đáng kể đến môi trường và người khác, nhưng ở đô thị thì đó trở thành vấn đề lớn.
Trên thực tế, thành phố ta nói riêng và người Việt nói chung còn nhiều biểu hiện chưa có văn hóa, văn minh. Việc lưu thông trên đường, xả rác, phóng uế… có thể dễ thấy nhưng những hành vi khác thường không “bị” xem là biểu hiện đáng lên án, như chen lấn nhau ở nơi công cộng, không giúp đỡ, nhường nhịn người già, trẻ em, phụ nữ, ăn mặc không lịch sự, nói năng thô tục… Những hành vi này không chỉ tạo ra một cái nhìn xấu đối với bản thân người có biểu hiện thiếu văn hóa mà còn tạo ra hình ảnh không đẹp cho môi trường đô thị và nhất là ít nhiều tác động xấu đến từng cá nhân trong cộng đồng.
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng được một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Có lẽ ở xã hội nào và thời nào, mỗi một cá nhân dù có quyền tự do, dù có được tôn trọng sở thích cá nhân đến đâu cũng không thể tự tách mình ra khỏi xã hội, ra khỏi cộng đồng. Do đó, trong mối quan hệ giữa người với người, yêu cầu quan trọng nhất để mỗi cá nhân tồn tại được và có thể khẳng định được mình phải có sự ràng buộc với người khác. Để mối ràng buộc được bền chặt, gắn bó thì mỗi người phải tôn trọng người khác (để được người khác tôn trọng lại), mỗi người phải biết nghĩ đến quyền lợi chính đáng của người khác (để được tôn trọng lại). Tức là mỗi người có “vì mọi người” thì mới mong mọi người “vì mình”. Đó chính là tính văn hóa, nhân văn của từng cá nhân và của cả xã hội.
Để góp phần vun đắp tính “vì mọi người” trong từng cá nhân, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần có nhiều biện pháp giáo dục truyền thống. Bởi vì trong văn hóa truyền thống, người Việt Nam luôn thể hiện tính cố kết cộng đồng bền chặt, không chỉ trong chống giặc ngoại xâm mà còn trong sản xuất, trong đời sống bình thường. Việc tiếp thu những tinh hóa văn hóa phương Tây là cần thiết nhưng nếu quá đề cao quyền lợi cá nhân, vai trò cá nhân mà không đặt trong sự hài hòa với quan hệ cộng đồng, lợi ích cộng đồng là không chỉ đi ngược lại bản sắc văn hóa truyền thống mà còn góp phần tạo ra những cá nhân vị kỷ. Không đề cao việc tuyên truyền, giáo dục bản sắc, khi xã hội phát triển đến trình độ cao, có thể có tính văn minh cao nhưng không thể coi là có tính văn hóa cao nếu xã hội chỉ là một “túi khoai tây”, mỗi người là một thực thể độc lập. Mỗi người không nghĩ đến người khác, không tôn trọng quyền và lợi ích của người khác thì chính bản thân người đó cũng không thể đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền và lợi ích của mình. Một xã hội với những con người đó có thể gọi là xã hội gì, chắc chắn không phải là xã hội của dân tộc Việt Nam!

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI TÔN TRỌNG NGƯỜI TÀI ĐÚNG MỨC!

Lâu nay ta đã nghe những từ “chiêu hiền đãi sĩ”, “trải thảm đỏ”… để mời gọi nhân tài đến với địa phương, đến với cơ quan, đến với ngành mình. Trên thực tế, dù nước ta hiện không phải “nhân tài như lá mùa thu” nhưng nhiều nơi vẫn than thiếu người có năng lực, người có tâm huyết đến làm việc. Như vậy, liệu có phải có điều gì đó chưa ổn trong chính sách thu hút nhân tài? Hỏi tức là trả lời. Dường như tình trạng này nằm ở chỗ người tài chưa được tôn trọng đúng mức. Có mấy biểu hiện:
Thứ nhất, việc tuyển dụng, bổ nhiệm có lúc có nơi còn chưa công khai, minh bạch, bình đẳng. Lâu nay, khi có 2 người đến xin tuyển vào 1 vị trí (nhất là ở khu vực công), người ta hay dựa nhiều vào lý lịch, gốc gác, thân thế hơn là năng lực thực tế và người có “thế” hơn, có “mối quan hệ” tốt hơn thường được chọn. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi trong một cuộc khảo sát của báo điện tử Việt Nam net, với câu hỏi “Theo bạn, điều gì có thể giữ chân và thu hút người tài vào khu vực công?” thì 43,95% trong tổng số 28.401 phiếu cho rằng cần phải “tuyển dụng và bổ nhiệm công khai, minh bạch”. Thực tế cho thấy, nếu ngoài miệng cứ hô hào khuyến khích, thu hút nhân tài mà bên trong lại áp dụng “lý lịch chủ nghĩa”, “gia thế chủ nghĩa”, “gửi gắm chủ nghĩa” thì thật khó để có thể thu hút được đông đảo người giỏi.
Thứ hai, chính sách đãi ngộ chưa thật sự thỏa đáng. Ở khu vực công hiện nay, gần như có sự cào bằng trong chính sách đãi ngộ đối với mọi thành phần, không phân biệt người tài hay không phải là người tài, tức là người tài cũng không được tôn trọng gì hơn so với những người khác. Chẳng hạn, một công chức “làm cho có” (nhưng chưa đến mức kỷ luật, sa thải) với một công chức năng nổ, có nhiều sáng kiến thì gần như vẫn được trả lương như nhau, thậm chí nếu công chức “làng nhàng” mà có thâm niên thì lương còn cao hơn. Như vậy không khuyến khích được người giỏi đến với đơn vị, càng không động viên họ ra sức cống hiến. Từ đó, hoặc là họ tìm nơi khác làm việc hoặc họ chịu ở lại nhưng “chân ngoài chân trong” hoặc họ chịu thui chột năng lực. Bởi vậy, trong cuộc khảo sát nói trên, có đến 41,6% đề nghị phải cải cách lương bổng, thực chất là trả lương theo năng lực và hiệu quả công việc chứ không phải theo hệ số.
Thứ ba, vướng những “rào cản” ngoài năng lực. Hiện có những vấn đề có thể làm trở ngại việc thu hút và sử dụng người tài. Chẳng hạn, việc một người có tham gia các tổ chức chính trị hay không lại có tính quyết định để người đó được nhận vào làm việc ở một cơ quan khu vực nhà nước hoặc được đề bạt giữ một nhiệm vụ nào đó. Thực tế hiện nay hầu hết các vị trí lãnh đạo đều đòi hỏi phải là đảng viên nhưng bên cạnh nhiều người có năng lực, có điều kiện đã tự nguyện xin vào Đảng thì vẫn có không ít người giỏi khác vì nhiều lý do lại không vào Đảng, thành ra họ không được giao những công việc phù hợp với năng lực của họ. Ngoài ra, điều kiện làm việc đôi khi quá chặt chẽ lại không hẳn phù hợp với tất cả người giỏi. Chẳng hạn, không nhất thiết buộc mọi cán bộ phải có mặt tại cơ quan đủ 8giờ vàng ngọc thì mới làm được việc. Nhất là trong điều kiện tiến bộ của công nghệ thông tin hiện nay, nhiều người có thể làm việc từ xa mà vẫn đảm bảo yêu cầu công tác…
Ngoài ra, môi trường làm việc cũng rất quan trọng. Nói ví von, người tài như con cá phải được thả trong một môi trường nước phù hợp và đủ rộng để vùng vẫy. Hiện nay, trong không ít cơ quan, mọi người làm việc phải “ngó trước ngó sau”, phải “đoán ý của lãnh đạo”, tức là phải “thủ thế” nhằm tránh bị “bắt giò”, như vậy người có sáng kiến cũng ít dám bộc lộ sáng kiến, bởi dễ bị “dập” trước khi sáng kiến có thể phát huy kết quả tích cực, thậm chí đã được phát huy rồi thì cũng bị “búa rìu” vì sự “trội” hơn người khác!
Do đó, cần phải có sự tôn trọng người tài đúng mức, tức là phải khắc phục những hạn chế trên. Trên hết là phải phát huy dân chủ, dân chủ trong việc tuyển chọn, đề bạt, bổ nhiệm; dân chủ trong chính sách đãi ngộ; dân chủ trong điều kiện và môi trường làm việc… Người tài phải được nói những tâm tư, nguyện vọng, những đề xuất của mình và những ý kiến này phải được lắng nghe một cách cầu thị. Thành ngữ “tam cố thảo lư” nên hiểu là ngoài việc ba lần hạ mình đến lều cỏ để mời cho được người tài còn có việc chịu lắng nghe và thực thi những gì đúng, những gì có lý.
Người có tài thường có lòng tự trọng. Bản thân họ thường tôn trọng người khác và cũng muốn người khác tôn trọng mình. Vì vậy, muốn họ phát huy năng lực, tâm huyết của mình đối với công việc, đối với đơn vị thì rất cần thể hiện sự tôn trọng một cách thực sự đối với họ. Nếu nói việc tìm kiếm nhân tài như việc “đãi cát tìm vàng”, phải rất cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì thì cũng cần phải tôn trọng từng bụi vàng. Đó cũng chính là tôn trọng thành quả sự tìm kiếm của mình.

Câu chuyện thể thao

Đội tuyển Việt Nam tại Cúp bóng đá TP.HCM:
THUA CÓ LỢI GÌ KHÔNG?

Sau 2 trận thua, đội tuyển Việt Nam gần như nắm chắc vị trí cuối cùng trong 4 đội dự Cúp bóng đá TP.HCM. Đó là điều nằm ngoài dự đoán của gần như tất cả mọi người. Đã có nhiều phân tích, lý giải nguyên nhân thua trận. Điều đó là cần thiết, để có thể tìm ra điểm yếu, điểm mạnh nhằm chuẩn bị tốt hơn cho Suzuki Cup vào cuối năm. Nói cách khác, việc thất bại tại giải giao hữu này có lợi gì không? Chắc chắn là có lợi, nếu ta nhìn ở góc độ tích cực của hiện tượng tiêu cực bằng thái độ bình tĩnh, cầu thị.
Thứ nhất, về tinh thần thi đấu. Dù thất bại trong một giải giao hữu nhưng đã tạo ra áp lực cho đội tuyển, do đó càng kích thích các tuyển thủ tinh thần khát khao chiến thắng. Vì vậy, cần có biện pháp động viên tinh thần nhằm không để các tuyển thủ rơi vào tình trạng “ì” hay “chai” về tâm lý, khiến họ mất động lực thi đấu. Lúc này, vai trò của “bác sĩ tâm lý” là rất cần thiết. “Bác sĩ tâm lý” có thể là bác sĩ chuyên khoa tâm lý mà cũng có thể là lãnh đạo Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, gia đình, dư luận… Kể cả báo chí cũng nên đóng vai trò tích cực hơn cho đội tuyển, thay vì chỉ trích thì nên có những phân tích, góp ý với tinh thần xây dựng, động viên toàn đội.
Thứ hai, về đấu pháp. Đối đầu với các đội bóng có lối chơi khác nhau, thể hình thể lực khác nhau cũng có thể giúp ban huấn luyện xây dựng được những đấu pháp biến hóa, phù hợp với từng loại đối thủ, từng hoàn cảnh thi đấu. Nói chung, một đội bóng thi đấu tốt phải có nhiều “miếng” chiến thuật, áp dụng trong từng tình huống cụ thể, trên một nền tảng nhất định về thể lực, kỹ thuật, tư duy chiến thuật… Qua thất bại tại giải này, chắc chắn sẽ “vỡ” ra nhiều vấn đề để giúp ích ban huấn luyện có thể xây dựng đấu pháp.
Thứ ba, kiểm tra năng lực của từng vị trí. Đối với những tân binh thì đây là dịp rèn luyện bổ ích, cả trong thể hiện năng lực và khả năng phối hợp với đồng đội. Chẳng hạn với Phước Tứ, Hoàng Vương, Chí Công… thì đây rõ ràng là cơ hội tốt để họ tự thể hiện mình, đồng thời vừa thích nghi với các đồng đội vừa với cường độ thi đấu căng thẳng. Với các cựu binh, họ cũng phải nỗ lực để khẳng định mình và làm động lực phấn đấu cho các cầu thủ trẻ. Từ đó có thể chọn được đội hình mạnh nhất. Ngoài ra, giải đấu cũng giúp các tuyển thủ cọ xát với nhiều loại đối thủ, nhiều “miếng” thi đấu, kể cả các tiểu xảo…
Thực ra, những ích lợi vừa kể có thể tích lũy được qua một giải đấu thành công. Nhưng khi đó, bên cạnh tâm lý “say sưa” còn có sự chủ quan mà ít tìm thấy những hạn chế, khuyết điểm. Khi thất bại, người ta thường có xu hướng “mổ xẻ” nên những hạn chế dễ được phát hiện hơn.
Do đó, nhiệm vụ sắp tới của đội tuyển là phải tìm ra được những hạn chế và có biện pháp khắc phục hợp lý. Nếu “thất bại là mẹ thành công” thì rõ ràng sẽ rất cần những “bà đỡ” “mát tay”, có năng lực, có kinh nghiệm và cả có tâm huyết!