NGƯỜI CÓ VĂN HÓA LÀ NGƯỜI BIẾT NGHĨ ĐẾN NGƯỜI KHÁC
Thành phố ta đang xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Sống văn minh thì không thể không có văn hóa. Môi trường xã hội nào cũng cần có văn hóa nhưng môi trường đô thị thì tính văn hóa càng đòi hỏi nhiều hơn. Bởi vì, bất kỳ một hành vi thiếu văn hóa nào cũng có ảnh hưởng xấu đến nhiều người khác. Chẳng hạn, ở nông thôn, việc bỏ rác hay phóng uế bừa bãi của một vài người có ảnh hưởng không đáng kể đến môi trường và người khác, nhưng ở đô thị thì đó trở thành vấn đề lớn.
Trên thực tế, thành phố ta nói riêng và người Việt nói chung còn nhiều biểu hiện chưa có văn hóa, văn minh. Việc lưu thông trên đường, xả rác, phóng uế… có thể dễ thấy nhưng những hành vi khác thường không “bị” xem là biểu hiện đáng lên án, như chen lấn nhau ở nơi công cộng, không giúp đỡ, nhường nhịn người già, trẻ em, phụ nữ, ăn mặc không lịch sự, nói năng thô tục… Những hành vi này không chỉ tạo ra một cái nhìn xấu đối với bản thân người có biểu hiện thiếu văn hóa mà còn tạo ra hình ảnh không đẹp cho môi trường đô thị và nhất là ít nhiều tác động xấu đến từng cá nhân trong cộng đồng.
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng được một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Có lẽ ở xã hội nào và thời nào, mỗi một cá nhân dù có quyền tự do, dù có được tôn trọng sở thích cá nhân đến đâu cũng không thể tự tách mình ra khỏi xã hội, ra khỏi cộng đồng. Do đó, trong mối quan hệ giữa người với người, yêu cầu quan trọng nhất để mỗi cá nhân tồn tại được và có thể khẳng định được mình phải có sự ràng buộc với người khác. Để mối ràng buộc được bền chặt, gắn bó thì mỗi người phải tôn trọng người khác (để được người khác tôn trọng lại), mỗi người phải biết nghĩ đến quyền lợi chính đáng của người khác (để được tôn trọng lại). Tức là mỗi người có “vì mọi người” thì mới mong mọi người “vì mình”. Đó chính là tính văn hóa, nhân văn của từng cá nhân và của cả xã hội.
Để góp phần vun đắp tính “vì mọi người” trong từng cá nhân, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần có nhiều biện pháp giáo dục truyền thống. Bởi vì trong văn hóa truyền thống, người Việt Nam luôn thể hiện tính cố kết cộng đồng bền chặt, không chỉ trong chống giặc ngoại xâm mà còn trong sản xuất, trong đời sống bình thường. Việc tiếp thu những tinh hóa văn hóa phương Tây là cần thiết nhưng nếu quá đề cao quyền lợi cá nhân, vai trò cá nhân mà không đặt trong sự hài hòa với quan hệ cộng đồng, lợi ích cộng đồng là không chỉ đi ngược lại bản sắc văn hóa truyền thống mà còn góp phần tạo ra những cá nhân vị kỷ. Không đề cao việc tuyên truyền, giáo dục bản sắc, khi xã hội phát triển đến trình độ cao, có thể có tính văn minh cao nhưng không thể coi là có tính văn hóa cao nếu xã hội chỉ là một “túi khoai tây”, mỗi người là một thực thể độc lập. Mỗi người không nghĩ đến người khác, không tôn trọng quyền và lợi ích của người khác thì chính bản thân người đó cũng không thể đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền và lợi ích của mình. Một xã hội với những con người đó có thể gọi là xã hội gì, chắc chắn không phải là xã hội của dân tộc Việt Nam!
Thành phố ta đang xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Sống văn minh thì không thể không có văn hóa. Môi trường xã hội nào cũng cần có văn hóa nhưng môi trường đô thị thì tính văn hóa càng đòi hỏi nhiều hơn. Bởi vì, bất kỳ một hành vi thiếu văn hóa nào cũng có ảnh hưởng xấu đến nhiều người khác. Chẳng hạn, ở nông thôn, việc bỏ rác hay phóng uế bừa bãi của một vài người có ảnh hưởng không đáng kể đến môi trường và người khác, nhưng ở đô thị thì đó trở thành vấn đề lớn.
Trên thực tế, thành phố ta nói riêng và người Việt nói chung còn nhiều biểu hiện chưa có văn hóa, văn minh. Việc lưu thông trên đường, xả rác, phóng uế… có thể dễ thấy nhưng những hành vi khác thường không “bị” xem là biểu hiện đáng lên án, như chen lấn nhau ở nơi công cộng, không giúp đỡ, nhường nhịn người già, trẻ em, phụ nữ, ăn mặc không lịch sự, nói năng thô tục… Những hành vi này không chỉ tạo ra một cái nhìn xấu đối với bản thân người có biểu hiện thiếu văn hóa mà còn tạo ra hình ảnh không đẹp cho môi trường đô thị và nhất là ít nhiều tác động xấu đến từng cá nhân trong cộng đồng.
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng được một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Có lẽ ở xã hội nào và thời nào, mỗi một cá nhân dù có quyền tự do, dù có được tôn trọng sở thích cá nhân đến đâu cũng không thể tự tách mình ra khỏi xã hội, ra khỏi cộng đồng. Do đó, trong mối quan hệ giữa người với người, yêu cầu quan trọng nhất để mỗi cá nhân tồn tại được và có thể khẳng định được mình phải có sự ràng buộc với người khác. Để mối ràng buộc được bền chặt, gắn bó thì mỗi người phải tôn trọng người khác (để được người khác tôn trọng lại), mỗi người phải biết nghĩ đến quyền lợi chính đáng của người khác (để được tôn trọng lại). Tức là mỗi người có “vì mọi người” thì mới mong mọi người “vì mình”. Đó chính là tính văn hóa, nhân văn của từng cá nhân và của cả xã hội.
Để góp phần vun đắp tính “vì mọi người” trong từng cá nhân, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần có nhiều biện pháp giáo dục truyền thống. Bởi vì trong văn hóa truyền thống, người Việt Nam luôn thể hiện tính cố kết cộng đồng bền chặt, không chỉ trong chống giặc ngoại xâm mà còn trong sản xuất, trong đời sống bình thường. Việc tiếp thu những tinh hóa văn hóa phương Tây là cần thiết nhưng nếu quá đề cao quyền lợi cá nhân, vai trò cá nhân mà không đặt trong sự hài hòa với quan hệ cộng đồng, lợi ích cộng đồng là không chỉ đi ngược lại bản sắc văn hóa truyền thống mà còn góp phần tạo ra những cá nhân vị kỷ. Không đề cao việc tuyên truyền, giáo dục bản sắc, khi xã hội phát triển đến trình độ cao, có thể có tính văn minh cao nhưng không thể coi là có tính văn hóa cao nếu xã hội chỉ là một “túi khoai tây”, mỗi người là một thực thể độc lập. Mỗi người không nghĩ đến người khác, không tôn trọng quyền và lợi ích của người khác thì chính bản thân người đó cũng không thể đòi hỏi người khác phải tôn trọng quyền và lợi ích của mình. Một xã hội với những con người đó có thể gọi là xã hội gì, chắc chắn không phải là xã hội của dân tộc Việt Nam!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét