Thứ Hai, 24 tháng 11, 2008

Thời sự và suy nghĩ

NGẬP LỤT TẠI TP.HCM:
TRÁCH NHIỆM CỦA CỘNG ĐỒNG Ở ĐÂU?

Hàng năm, cứ vào dịp triều cường trong những tháng cuối năm, một số quận huyện ở TP.HCM (nhất là khu vực vùng ven) lại xảy ra tình trạng ngập lụt. Năm nay, mức độ ngập lụt còn nghiêm trọng hơn các năm trước. Tình hình này không thể không đặt ra trách nhiệm của cộng đồng, để từ đó có biện pháp phòng ngừa, hạn chế và ngăn chặn ngập lụt tiếp tục xảy ra trong các năm tới.
Việc ngập lụt dù diễn ra trong thời gian không dài nhưng cũng gây nhiều thiệt hại cho xã hội. Đó là gây trở ngại việc đi lại, sinh hoạt của người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của một bộ phận cư dân vùng bị ngập, làm hư hỏng hệ thống đường sá, đê bao, nhà cửa, gây tổn thất về tài sản của người dân (hư hỏng đồ đạc, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi…). Đó là tạo ra hình ảnh không đẹp về một thành phố văn minh, hiện đại, một trung tâm kinh tế - văn hóa cùa cả nước nhưng hàng năm bà con phải chống chọi với ngập lụt chẳng khác vì vùng đồng bằng. Nhưng thiệt hại lớn nhất có lẽ là sự giảm sút lòng tin của người dân vào khả năng quản lý, bảo vệ tài sản và tính mạng nhân dân đối với sự quản lý của chính quyền các cấp.
Trong thực tế, triều cường là hiện tượng tự nhiên khi nước ở đầu nguồn các sông lớn về nhiều, gây ngập úng cục bộ. Tuy nhiên, triều cường có quy luật của nó và con người hoàn toàn có cách “khắc chế” hoặc “sống chung” với nó. Việc để xảy ra tình trạng ngập lụt một cách thụ động với nhiều thiệt hại trước hết là do yếu kém về quản lý của một số cơ quan quản lý nhà nước. Chẳng hạn, công tác dự báo đã thực hiện hết trách nhiệm chưa? Công tác kiểm tra, sửa chữa, gia cố các đê bao đã được thực hiện nghiêm túc, chính xác? Việc khơi thông các cống thoát nước, kênh thoát nước… đã được thực hiện thường xuyên? Việc tuyên truyền nâng cao ý thức phòng chống ngập lụt và hạn chế thiệt hại do ngập lụt gây ra đã được tiến hành đến nơi đến chốn? Việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm (nhất là các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính về phòng chống ngập lụt ở thành phố, quận huyện) được thực hiện nghiêm túc?... Tất cả những điều này dường như lâu nay chưa được quan tâm thực hiện một cách đúng mức.
Ngay cả người dân, ý thức tự bảo vệ tính mạng, tài sản của chính họ trong việc cũng không triệt để. Điều này thể hiện rõ trong việc lấn chiếm hàng lang bảo vệ đê bao, gây ảnh hưởng đến khả năng chịu lũ của các đê bao; tình trạng xây cất ảnh hưởng đến dòng chảy và khả năng thoát nước; tình trạng xả rác bừa bãi làm nghẹt các cống thoát nước dẫn đến giảm hiệu năng hoạt động của hệ thống thoát nước… Bên cạnh đó, việc theo dõi tình hình dự báo và thực hiện các biện pháp phòng tránh ngập lụt cũng chưa được thực hiện đầy đủ…
Chính vì vậy, nếu những hạn chế trong công tác phòng chống ngập lụt của năm nay không được khắc triệt để thì tình hình sẽ càng trầm trọng hơn trong các năm tới. Cần xác định đầy đủ trách nhiệm của từng thành viên, từng tổ chức trong cộng đồng để cùng nhau thực hiện việc phòng chống ngập lụt có hiệu quả.

Thời sự và suy nghĩ


NẾU BẠN LÀ CÔ GIÁO MẦM NON...

Trên trang VnExpress (hồi tháng 11-2007), tôi khá ngạc nhiên khi có hơn một nửa số người tham gia trả lời câu hỏi “Bạn nghĩ gì về hành động dọa trẻ mầm non?” đã cho rằng “không chấp nhận được”. Có khoảng dưới 20% số người cho rằng đó là “bình thường” và trên 20% thì cho rằng “không nên” (tức là không tán đồng một cách khá dùng hòa). Bản thân tôi cũng nghĩ rằng vấn đề này thực là không nên, chúng ta chỉ nên phản ứng mạnh trừ khi sự đe dọa đó (bằng lời nói hoặc hành vi) quá nghiêm trọng.
Trong thực tế, có lẽ hầu hết các bậc cha mẹ đều “dọa” con cái của mình khi chúng không vâng lời và xem đó là một cách giáo dục khá bình thường. Chẳng hạn, “nếu con không chịu ăn, mẹ cho bạn X ăn hết nhé!”, hoặc, “nếu con không ăn nhanh, mẹ không cho con…. (làm điều gì đó mà trẻ thích)”, hay, “con mà còn hư như vậy, mẹ bỏ con luôn”… Đó là những cách dọa, vì thường chúng ta không thực hiện điều đó, chẳng qua muốn trẻ sợ mà vâng lời thôi. Tôi tin rằng nhiều giáo viên mầm non cũng thực hiện theo cách dọa tương tự, như dọa sẽ “méc ba mẹ”, “không cưng nữa”, “không cho ăn”, “đánh đòn”… Xét về tâm lý, khi một đứa trẻ (3 – 5 tuổi) chưa có đầy đủ nhận thức về những điều nên – không nên, phải – không phải, đúng – sai thì việc làm cho chúng thấy trước một “nguy cơ” nào đó liên quan đến quyền lợi, tình thương, sự quan tâm… đối với chúng sẽ có những tác động nhất định đến hành vi của chúng. Tôi cho rằng không nên lạm dùng việc dọa dẫm trong cách giáo dục trẻ. Vì điều đó diễn ra thường xuyên khiến trẻ cảm thấy “nguy cơ” về điều không tốt xảy đến với mình một cách thường trực, làm chúng hoang mang, lo lắng. Hơn nữa, khi vượt qua “ngưỡng” chịu đựng, sự dọa dẫm sẽ không còn tác dụng nữa (“muốn ra sao thì ra” hoặc “đó là dọa, thực tế không xảy ra đâu”…).
Trở lại sự việc của các cô giáo mầm non, tôi nghĩ rằng không nên quá khắt khe, nặng nề với các cô. Bản thân tôi, nhiều lúc trông cô con gái còn rất vất vả, bởi sự nghịch ngợm của nó, hết buông cái này lại bắt cái kia, hết phá bên này lại nghịch bên kia… Những lúc như vậy, thật khó mà kiềm chế để không lớn tiếng, thậm còn phát vài cái vào đít để nó vâng lời. Tôi không bào chữa cho cách giáo dục chưa thực sự khoa học của mình, nhưng nói vậy để thông cảm cho các cô. Về tình cảm, dĩ nhiên là chúng ta thương con mình hơn các cô thương học trò; về trách nhiệm, các cô chỉ có trách nhiệm với trẻ trong thời gian học, còn chúng ta có trách nhiệm thường xuyên với con cái của mình; về thời gian, các cô bị thời khóa biểu gò bó, giờ nào việc ấy, khác với chúng ta thoải mái hơn nhiều; về số trẻ, rõ ràng mỗi cô phải chăm cả chục cháu, trong khi mỗi cha mẹ chỉ chăm một vài cháu; về sự ràng buộc pháp lý, nếu các cô để trẻ bị xây sát hoặc bị thương thì rõ ràng là “có chuyện” (với phụ huynh, với nhà trường, đôi khi với pháp luật), trong nếu có sơ sẩy, chúng ta đau lòng hơn là phải gánh trách nhiệm pháp lý… Ngoài ra, sự tăng giảm cân hay biến động sức khỏe bất thường cũng có liên quan đến vai trò của cô giáo.
Nếu đặt mình vào vị trí của cô giáo mầm non, chúng ta quả là có rất nhiều áp lực. Tôi cho rằng, ngoài chuyên môn, nếu không có tình thương trẻ, tình yêu nghề, hay sự thiếu trách nhiệm, thì có lẽ các cô rất khó hoàn thành nhiệm vụ của mình. Điều đó cho thấy, nghề giáo viên mầm non phải chịu đòi hỏi nhiều hơn nhiều nghề nghiệp khác, trong khi lương bổng không phải nơi nào cũng khá.
Vì vậy, các bậc phụ huynh chúng ta nên có sự hợp tác chặt chẽ với nhà trường và các giáo viên, thay vì chỉ xem họ là người được chúng ta trả tiền để trông trẻ rồi không cần quan đến những điều khác. Không thể phủ nhận được sự tác động của cô giáo mầm non đối với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Vì thông thường, trẻ ở cô giáo khoảng 10 tiếng mỗi ngày, trong khi 14 tiếng còn lại, đã có đến 8 – 10 tiếng để trẻ ngủ, thời gian còn lại 4 – 6 tiếng không phải lúc nào chúng ta cũng ở bên trẻ. Chúng ta cũng cần có sự thân mật cần thiết với các cô, không chỉ đơn giản qua quà tặng, mà còn có sự thăm hỏi, động viên, thậm chí các sự giúp đỡ cần thiết.
Thiết nghĩ, chúng ta luôn muốn các cô giáo đối xử với con em chúng ta có tâm, với một tấm lòng “cô giáo như mẹ hiền” thì các cô cũng cần được một sự tôn trọng xứng đáng!

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2008

Thời sự và suy nghĩ

CHUYỆN NĂM “NHÀ” VÀ NHÀ NÔNG

Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải từng chỉ đạo các “nhà” phải hợp tác lại với nhau. Đó là “nhà khoa học”, “nhà nước”, “nhà doanh nghiệp” và “nhà nông”; sau thêm một “nhà” nữa là “nhà băng”. Xem ra, nếu năm nhà này mà hợp tác chặt chẽ thì cả năm nhà đều được lợi, người dân đều được sung sướng và tất nhiên nước nhà cũng thêm phát triển.
Có lẽ nhà nông chưa bao giờ nhận được sự hợp tác đầy đủ và bình bẳng với bốn nhà còn lại. Rõ nhất là nhà nước. Nhà nước ở đây có thể hiểu là chính quyền ở địa phương (cấp xã, huyện chẳng hạn), hoặc cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý nông nghiệp của vùng (phòng nông nghiệp/phòng kinh tế, trung tâm khuyến nông…). Nhà nước nhiều khi nói hoạch định này khác nhưng hình như mang tầm rất vĩ mô chứ ít khi đi vào cụ thể. Nông dân X. có miếng đất ở vị trí A. muốn trồng cây N. thì ông ta phải tự nghĩ, rồi tự đi mua giống, tự trồng, tự bán chứ hiếm khi nhận được ý kiến gì của nhà nước rằng với thổ nhưỡng đó thì nên trồng loại cây gì, mua giống ở đâu, kỹ thuật ra sao, bán cho ai và nếu thiếu vốn thì làm sao… Nếu có thì cũng chỉ những khuyến cáo chung chung. Nhà nước có chức năng quản lý và điều phối các hoạt động của xã hội nhưng lại gần như không tham gia đáng kể vào việc sản xuất của người dân (như trong ví dụ ở trên) thì quả là đã chưa làm tròn chức trách của mình. Vì vậy, nhà nước phải đứng ra làm cầu nối giữa nhà nông với các nhà khác, vì có tiếng nói của nhà nước thì hiệu lực và hiệu quả mới cao. Trong quá trình đó, thế nào cũng phát sinh những yêu cầu như cái cần văn bản pháp lý, cái cần uy tín, cái cần chính sách… thì chỉ có nhà nước mới giải quyết được.
Vì vậy, định kỳ hàng năm, nhà nước (tức chính quyền hoặc cơ quan quản lý về nông nghiệp) tổ chức họp mặt giữa các “nhà” lại. Trong cuộc họp đó, nhà nước sẽ trình bày về các chủ trương, định hướng cơ bản về phát triển nông nghiệp để tránh đầu tư tràn lan, không hiệu quả, ảnh hưởng lợi ích địa phương về lâu dài…; nhà khoa học sẽ nêu tình hình thời tiết, thổ nhưỡng, các loại giống cây trồng vật nuôi và đưa ra lời khuyên nông dân nên trồng loại cây gì, nuôi con gì trong điều kiện đất và thời tiết như thế; nhà doanh nghiệp sẽ cho biết thị trường đang cần loại nông sản nào, giá cả và hiệu quả ra sao; nhà băng sẽ đưa ra những lời hứa giúp vốn cho đối tượng nào, với loại hình đầu tư gì… Trên cơ sở đó, nhà nước sẽ cụ thể hóa chủ trương bằng những chính sách như nếu trồng loại cây M. đúng như nhà khoa học đề nghị thì sẽ tác động bên ngân hàng cho vay vốn lãi suất ưu đãi, cấp giấy phép cho các cơ sở cung cấp cây giống, vật tư nông nghiệp, cơ sở thu mua… Và với những điều đó có lẽ nhà nông sẽ hết sức hoan nghênh vì có cơ hội thoát cơ bản tình trạng đầu tư tự phát, không biết có trúng mùa thất giá hay không; đương nhiên là hiệu quả sẽ tăng lên.
Đó mới là cách giúp nông dân thiết thực nhất!

Thời sự và suy nghĩ

Có những hôm không còn đường đi!
(Nhân đọc bài “Mưa như Hà Nội, TP.HCM ngập nặng hơn”, Tuổi Trẻ ngày 6-11)
Cách đây khoảng mười năm, khi tôi còn sống tại P.13, Q.Bình Thạnh (TP.HCM), vào đợt triều cường gần như không còn đường nào để vào trung tâm TP. Đường Nơ Trang Long bị ngập sâu từ ngã ba Nguyễn Xí kéo dài đến cầu Băng Ky; đường Nguyễn Xí ngập đến cầu Đỏ, qua khỏi cầu Đỏ lại ngập tiếp đến ngã năm đài liệt sĩ; đi vòng qua cầu Bình Lợi thì bị ngập trên đường Đinh Bộ Lĩnh…
Xe máy chết máy đã đành, ôtô con cũng không thể đi. Tình trạng này đến nay cũng chưa được cải thiện triệt để.
Hiện nay tôi sống tại P.Tam Phú, Q.Thủ Đức. Trong đợt triều cường, muốn đi vào trung tâm TP khó khăn vô cùng. Các tuyến đường quanh P.Tam Phú như Tô Ngọc Vân (tỉnh lộ 43), Tam Bình… đều ngập. Nhưng thoát ra khỏi đây để đến được đường Kha Vạn Cân thì cũng không còn đường đi vì đường này có nhiều chỗ ngập, sâu nhất là ở hai đầu của cầu Gò Dưa. Mọi người chỉ còn cách len lỏi trong các đường nhỏ rồi ra Võ Văn Ngân, vòng ra xa lộ Hà Nội mới có thể chạy đến cầu Sài Gòn, để rồi… chịu ngập ở đường Điện Biên Phủ!
Chiều tối 1-8-2008 (tôi nhớ chính xác vì hôm đó diễn ra trận đấu giữa đội tuyển VN và Olympic Brazil), tôi đi từ Q.3 về Thủ Đức. Hôm đó trời mưa rất to. Vì sợ đường ngập nên tôi cố tình về muộn, khi trời đã ngớt mưa. Nhưng ở đường Đinh Tiên Hoàng, dòng người ngoi ngóp dắt xe dưới dòng nước ngập đến nửa mét đi giữa những dãy “lô cốt” xiêu vẹo. Mọi người vừa đi vừa nhắc nhau coi chừng rơi xuống hố!
Qua khỏi đường này, tôi chạy vào đường Nơ Trang Long nhưng đến cầu Băng Ky thì bị kẹt xe vì phía trước cũng bị ngập. Vất vả lắm tôi mới quay xe lại được, chạy qua đường Bạch Đằng thì chịu một chỗ ngập khác dài đến tận ngã tư Hàng Xanh. Rẽ ra Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng phải vượt qua nhiều chỗ ngập nhẹ khác mới về đến cầu Bình Triệu… Hôm đó đường Điện Biên Phủ, đường đi hằng ngày của tôi, cũng trở thành dòng sông!
Sống chung với ngập đã trở thành chuyện thường ngày ở TP này. Hiện chắc không ai không chịu cảnh ngập, đến độ gần như không muốn than vãn nữa! Nhưng ngập đến độ muốn đi đến một nơi nào đó mà không còn đường để đi thì thật quá bức xúc! Do vậy, chống ngập úng phải xem là vấn đề cấp bách của thành phố hiện nay. Là một trong 12 công trình, chương trình trọng điểm được nêu ra từ Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ VII (2001), nhưng đến nay công tác chống ngập không có tiến triển tích cực. Đã đến lúc lãnh đạo thành phố cần đẩy mạnh công tác chống ngập với những biện pháp quyết liệt và căn cơ. Nếu không, nguy cơ thành phố “chỉ còn một điểm ngập” sẽ không còn xa nữa!
Bài đã đăng Báo Tuổi trẻ, ngày 9-11-2008.

Thời sự và suy nghĩ

Công tác quy hoạch, quản lý ở các đô thị phải mang tính định hướng, tính chiến lược cao

Với đặc thù của các đô thị là khu vực đông dân cư, mật độ dân số dày, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung đều cao hơn mức bình quân của cả nước, việc quy hoạch và quản lý các đô thị cũng phải phù hợp với đặc thù đó. Không thể đem mô hình quản lý khu vực nông thôn và cách nghĩ của một người ở nông thôn để quản lý đô thị được.
Thứ nhất, công tác quản lý đô thị phải mang tính định hướng và lấy xây dựng chiến lược làm trọng tâm, thay vì chỉ tập trung giải quyết vào các sự vụ hoặc các công việc trước mắt. Chẳng hạn, ngành giao thông công chính không phải chỉ lo xử lý các điểm ngập nước, các điểm kẹt xe mà phải vạch ra chiến lược và lộ trình trong một khoảng thời gian tới mang tính khả thi và hiệu quả để chống ngập cho toàn đô thị, chống kẹt xe trong nội thị… Ngành tài nguyên môi trường không phải chỉ xử lý số rác trên địa bàn mà phải vạch ra chiến lược xử lý rác, tái chế rác, sử dụng rác trong 5 – 10 năm tới. Ngành giáo dục không phải chỉ lo việc dạy và học của con em trên địa bàn mà phải xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng dạy và học sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị nói riêng và có sự phát triển cao hơn mức bình quân chung của cả nước… Tóm lại, các cơ quan tham mưu của đô thị phải thường xuyên phác họa khả năng phát triển của đô thị trong 15 – 20 năm tới để có những định hướng phát triển và chuẩn bị cho sự phát triển đó một cách phù hợp, tránh những tầm nhìn ngắn hạn, đưa ra những quyết sách thiếu tính dự báo dài lâu.
Thứ hai, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực ở đô thị phải gắn với những tầm nhìn chiến lược trong công tác phát triển đô thị cho 15 – 20 năm nữa, thay vì chỉ quan tâm vào những công việc hiện tại hoặc tầm nhìn không mang tính chiến lược. Trên cơ sở những định hướng phát triển trong 15 – 20 năm tới, các cơ quan, các ngành cần phải đưa ra chiến lược phát triển và chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển đó trong phạm vi ngành mình. Trong công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan đào tạo, sử dụng, sao cho nguồn nhân lực được đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn cụ thể.
Nhìn lại các đô thị lớn như Sài Gòn (TP.HCM hiện nay), Hà Nội, người Pháp đã quy hoạch mang tầm dự báo rất cao. Vì thế, các thành phố này đã “thoải mái” phát triển cao gấp nhiều lần so với khởi điểm. Thế nhưng hơn 30 năm qua, việc quy hoạch còn loay hoay với các phương án trong khi thành phố thì liên tục “nở nồi”, hậu quả là xảy ra quá nhiều sự bức xúc về giao thông, cấp thoát nước, hệ thống điện – viễn thông… Chính vì vậy, các đô thị đã “lỡ” vướng vào quy hoạch cũ và mới thì nên mạnh dạn làm mới, chấp nhận tốn kém và mất thời gian, còn hơn là tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” rồi cứ dây dưa, lần lữa mãi, không dứt ra được. Hậu quả của tình trạng đó sẽ còn kéo dài nhiều năm nữa, thiệt hại sẽ khó lường!