Công tác quy hoạch, quản lý ở các đô thị phải mang tính định hướng, tính chiến lược cao
Với đặc thù của các đô thị là khu vực đông dân cư, mật độ dân số dày, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung đều cao hơn mức bình quân của cả nước, việc quy hoạch và quản lý các đô thị cũng phải phù hợp với đặc thù đó. Không thể đem mô hình quản lý khu vực nông thôn và cách nghĩ của một người ở nông thôn để quản lý đô thị được.
Thứ nhất, công tác quản lý đô thị phải mang tính định hướng và lấy xây dựng chiến lược làm trọng tâm, thay vì chỉ tập trung giải quyết vào các sự vụ hoặc các công việc trước mắt. Chẳng hạn, ngành giao thông công chính không phải chỉ lo xử lý các điểm ngập nước, các điểm kẹt xe mà phải vạch ra chiến lược và lộ trình trong một khoảng thời gian tới mang tính khả thi và hiệu quả để chống ngập cho toàn đô thị, chống kẹt xe trong nội thị… Ngành tài nguyên môi trường không phải chỉ xử lý số rác trên địa bàn mà phải vạch ra chiến lược xử lý rác, tái chế rác, sử dụng rác trong 5 – 10 năm tới. Ngành giáo dục không phải chỉ lo việc dạy và học của con em trên địa bàn mà phải xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng dạy và học sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị nói riêng và có sự phát triển cao hơn mức bình quân chung của cả nước… Tóm lại, các cơ quan tham mưu của đô thị phải thường xuyên phác họa khả năng phát triển của đô thị trong 15 – 20 năm tới để có những định hướng phát triển và chuẩn bị cho sự phát triển đó một cách phù hợp, tránh những tầm nhìn ngắn hạn, đưa ra những quyết sách thiếu tính dự báo dài lâu.
Thứ hai, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực ở đô thị phải gắn với những tầm nhìn chiến lược trong công tác phát triển đô thị cho 15 – 20 năm nữa, thay vì chỉ quan tâm vào những công việc hiện tại hoặc tầm nhìn không mang tính chiến lược. Trên cơ sở những định hướng phát triển trong 15 – 20 năm tới, các cơ quan, các ngành cần phải đưa ra chiến lược phát triển và chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển đó trong phạm vi ngành mình. Trong công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan đào tạo, sử dụng, sao cho nguồn nhân lực được đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn cụ thể.
Nhìn lại các đô thị lớn như Sài Gòn (TP.HCM hiện nay), Hà Nội, người Pháp đã quy hoạch mang tầm dự báo rất cao. Vì thế, các thành phố này đã “thoải mái” phát triển cao gấp nhiều lần so với khởi điểm. Thế nhưng hơn 30 năm qua, việc quy hoạch còn loay hoay với các phương án trong khi thành phố thì liên tục “nở nồi”, hậu quả là xảy ra quá nhiều sự bức xúc về giao thông, cấp thoát nước, hệ thống điện – viễn thông… Chính vì vậy, các đô thị đã “lỡ” vướng vào quy hoạch cũ và mới thì nên mạnh dạn làm mới, chấp nhận tốn kém và mất thời gian, còn hơn là tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” rồi cứ dây dưa, lần lữa mãi, không dứt ra được. Hậu quả của tình trạng đó sẽ còn kéo dài nhiều năm nữa, thiệt hại sẽ khó lường!
Với đặc thù của các đô thị là khu vực đông dân cư, mật độ dân số dày, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung đều cao hơn mức bình quân của cả nước, việc quy hoạch và quản lý các đô thị cũng phải phù hợp với đặc thù đó. Không thể đem mô hình quản lý khu vực nông thôn và cách nghĩ của một người ở nông thôn để quản lý đô thị được.
Thứ nhất, công tác quản lý đô thị phải mang tính định hướng và lấy xây dựng chiến lược làm trọng tâm, thay vì chỉ tập trung giải quyết vào các sự vụ hoặc các công việc trước mắt. Chẳng hạn, ngành giao thông công chính không phải chỉ lo xử lý các điểm ngập nước, các điểm kẹt xe mà phải vạch ra chiến lược và lộ trình trong một khoảng thời gian tới mang tính khả thi và hiệu quả để chống ngập cho toàn đô thị, chống kẹt xe trong nội thị… Ngành tài nguyên môi trường không phải chỉ xử lý số rác trên địa bàn mà phải vạch ra chiến lược xử lý rác, tái chế rác, sử dụng rác trong 5 – 10 năm tới. Ngành giáo dục không phải chỉ lo việc dạy và học của con em trên địa bàn mà phải xây dựng chiến lược nâng cao chất lượng dạy và học sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đô thị nói riêng và có sự phát triển cao hơn mức bình quân chung của cả nước… Tóm lại, các cơ quan tham mưu của đô thị phải thường xuyên phác họa khả năng phát triển của đô thị trong 15 – 20 năm tới để có những định hướng phát triển và chuẩn bị cho sự phát triển đó một cách phù hợp, tránh những tầm nhìn ngắn hạn, đưa ra những quyết sách thiếu tính dự báo dài lâu.
Thứ hai, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực ở đô thị phải gắn với những tầm nhìn chiến lược trong công tác phát triển đô thị cho 15 – 20 năm nữa, thay vì chỉ quan tâm vào những công việc hiện tại hoặc tầm nhìn không mang tính chiến lược. Trên cơ sở những định hướng phát triển trong 15 – 20 năm tới, các cơ quan, các ngành cần phải đưa ra chiến lược phát triển và chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự phát triển đó trong phạm vi ngành mình. Trong công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan đào tạo, sử dụng, sao cho nguồn nhân lực được đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn cụ thể.
Nhìn lại các đô thị lớn như Sài Gòn (TP.HCM hiện nay), Hà Nội, người Pháp đã quy hoạch mang tầm dự báo rất cao. Vì thế, các thành phố này đã “thoải mái” phát triển cao gấp nhiều lần so với khởi điểm. Thế nhưng hơn 30 năm qua, việc quy hoạch còn loay hoay với các phương án trong khi thành phố thì liên tục “nở nồi”, hậu quả là xảy ra quá nhiều sự bức xúc về giao thông, cấp thoát nước, hệ thống điện – viễn thông… Chính vì vậy, các đô thị đã “lỡ” vướng vào quy hoạch cũ và mới thì nên mạnh dạn làm mới, chấp nhận tốn kém và mất thời gian, còn hơn là tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” rồi cứ dây dưa, lần lữa mãi, không dứt ra được. Hậu quả của tình trạng đó sẽ còn kéo dài nhiều năm nữa, thiệt hại sẽ khó lường!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét