Thứ Tư, 31 tháng 12, 2008

Thời sự và suy nghĩ

LÃNG PHÍ LÒNG TIN

Nói nhiều đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí..., thực tế có bao nhiêu lãng phí thấy được, biết được... Chẳng hạn, lãng phí về con người. Mỗi năm nước ta cho ra trường hàng vạn cử nhân kỹ sư nhưng liệu bao nhiêu người có được việc làm đúng chuyên môn, đúng sở trường để không mai một tài năng, kiến thức? Có bao nhiêu người có năng lực nhưng không nhưng vì những lý do khác nhau bị đặt ở những vị trí “ngồi chơi xơi nước”? Có bao nhiêu người Việt Nam ở nước ngoài có tài năng, có nhiệt huyết muốn đóng góp cho đất nước nhưng lại gặp những rào cản không phải do chính sách mà do chính những người thực hiện chính sách gây ra, mà không thể tham gia góp công góp của cho Tổ quốc?...
Tất cả những lãng phí đều được và có thể quy thành tiền, với một số tiền không nhỏ và tất nhiên là tiền của nhân dân. Sự lãng phí vẫn đang diễn ra hàng ngày hàng giờ. Đã có ai thống kê được thiệt hại từ những lãng phí đó chưa? Đã có ai nghĩ ra được cách hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại đó chưa? Và đã có ai quy được trách nhiệm của những người gây lãng phí và thiệt hại đó chưa?...
Lãng phí đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho xã hội. Nhưng điều nguy hiểm nhất lại là thiệt hại về lòng người, tức tình cảm và sự tin tưởng của người dân vào các cơ quan công quyền. Thiệt hại này không thể định lượng được và cũng rất khó khắc phục ngay trong ngày một ngày hai được. Lãng phí này không thể tính bằng tiền mà nó tỉ lệ nghịch với sự đồng thuận, tin tưởng của người dân vào các chính sách của nhà nước.
Thực tế cho thấy, khi chính quyền các cấp đề ra một chính sách gì thì luôn nhận được sự quan tâm và phản ứng của người dân. Điều đó cho thấy người dân luôn mong mỏi có những chính sách phù hợp – hợp tình, hợp lý, hợp với xu thế phát triển chung – và tiến bộ. Khi đã có chính sách phù hợp thì người dân sẵn sàng thực hiện. Chẳng hạn, năm 1994, Chính phủ ra chỉ thị cấm đốt pháo, thì từ đó đến nay việc đốt pháo chỉ còn diễn ra rất ít của một số người xem thường pháp luật. Chủ trương này dù làm thay đổi tập quán khá lâu đời và mang nét đặc trưng văn hóa nhưng tiến bộ nên được người dân hưởng ứng.
Sự lãng phí lòng tin tưởng của người dân vào các cơ quan công quyền đa phần xuất phát từ sự thiếu ý thức trách nhiệm và nhiệt tâm của một số cán bộ công chức chứ không phải do chủ trương, chính sách. Đó là biểu hiện mà gần đây được diễn đạt bằng từ “vô cảm”, tức người có trách nhiệm không quan tâm đến nỗi nhọc nhằn, bức xúc của người dân mà chỉ quan tâm đến việc tránh né hoặc vòi vĩnh. Cũng từ đây, những cán bộ tham mưu thiếu sâu sát, thiếu trách nhiệm đã tham mưu cho lãnh đạo ban hành những chính sách không phù hợp, vừa gây lãng phí lòng tin, vừa làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước. Nếu để đến mức trầm trọng, ngay cả khi có chính sách đúng đắn, người dân cũng dễ sinh ra từ tưởng ngờ vực mà thiếu ý thức chấp hành, cũng làm giảm hiệu lực tác động của chính sách đó. Cả hai trường hợp này đều nguy hiểm và cần nhanh chóng chấn chỉnh.
Và mặc dù đã xảy ra một số vụ việc tiêu cực, nhưng người dân vẫn tin tưởng rằng Đảng và nhà nước luôn kiên quyết và có những biện pháp hữu hiệu để bài trừ tận gốc tham nhũng, lãng phí. Nếu các biện pháp thực hiện này chưa mang lại hiệu quả thực tế tức là lòng tin của người dân đang bị lãng phí và sự lãng phí này sẽ không thể có một đại lượng nào để định lượng được. Bởi vì lòng tin của người dân là vô giá!

Câu chuyện thể thao

VIỆC BẦU CHỌN CẦN SÒNG PHẲNG HƠN!

Tôi rất tâm đắc khi đọc bài viết Tiếc cho bóng đá nữ của nhà báo Quang Huy (Thanh Niên 31-12-2008). Trong khi gần như mọi người đều say sưa với chiến thắng vang dội của đội tuyển bóng đá nam tại giải bóng đã vô địch Đông Nam Á thì việc bóng đá nam có đến 3 cầu thủ lọt vào danh sách 10 VĐV tiêu biểu của năm 2008 cũng là điều xứng đáng và hoàn toàn dễ hiểu.
Tuy nhiên, dường như cuộc bình chọn có cái gì đó chưa thật sòng phẳng. Dường như vẫn còn sự “quên nhớ” hay cảm tính khi bỏ phiếu. Điều dễ thấy nhất là khi cuộc bầu chọn diễn ra ngay trong thời điểm đội tuyển bóng đá nam thi đấu rất thành công nên được sự chú ý đặc biệt của các nhà báo. Trong khi đó, thành công của đội bóng đá nữ diễn ra trong nhiều tháng trước (dù thành tích cũng không hề kém cạnh, trong đó có chiến thắng nghẹt thở trước đại kình địch Thái Lan) nên có lẽ không còn được nhớ. Năm ngoái, trong khi lúc đầu năm và giữa năm, bóng đá nam dù rất thành công ở vòng loại Olympic và Asian Cup nhưng thất bại tại SEA Games 24 thì không còn cầu thủ nam nào được vinh danh trong cuộc bầu chọn cuối năm. Vì vậy, có thể nói, cuộc bầu chọn năm 2007 không đánh giá đúng sự đóng góp và chưa sòng phẳng cho bóng đá nam thì năm 2008 lại chưa sòng phẳng cho bóng đá nữ. Điều đó có thể là sự chưa trọn vẹn của cuộc bầu chọn uy tín nhất của thể thao nước nhà.
Vì lẽ đó, để tránh sự “quên nhớ” và giảm sự bầu chọn theo cảm tính, cung cách tổ chức cần chặt chẽ hơn nữa. Số lượng VĐV được đề cử nên nhiều hơn, thành tích trích ngang nên chi tiết hơn và toàn diện hơn. Tiêu chí bầu chọn cũng nên cụ thể hơn; trong đó, tính đóng góp của thành tích nên được xem trọng (mang tính đột phá hoặc tạo tiền đề để thúc đẩy sự phát triển của môn thể thao đó trong nước…)…
Đối với người bỏ phiếu bình chọn – là các phóng viên thể thao – cần có cái nhìn toàn diện hơn, xuyên suốt hơn toàn bộ một năm thi đấu, cả hoạt động và thành tích của VĐV, cả tư cách, đạo đức và sự nỗ lực của VĐV đó. Cần tránh tập trung “nhìn” vào những giải đấu cuối năm mà “quên” những giải đấu đầu năm, cũng như hạn chế việc quá đề cao những môn có nhiều sự chú ý mà ít tính thúc đẩy sự phát triển của môn thể thao đó trong nước…Tóm lại, cuộc bầu chọn – tuy không thể nói là không khách quan, thiếu công bằng – nhưng cần sòng phẳng hơn. Nhất là khi xuất hiện những hạn chế, bất cập trong thể lệ và cách thức bầu chọn (chẳng hạn không thể bầu chọn cho HLV người nước ngoài…) thì cần sớm nghiên cứu để điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2008

Thời sự và suy nghĩ

CHỈ SỐ HẠNH PHÚC

1. Tháng trước, cô em họ tôi từ Đài Loan về than thở: tưởng lấy chồng nước ngoài thì sống khá hơn, không ngờ bây giờ là lao động chính trong nhà, nuôi hai con trai với “thằng chồng” bị mất việc cả năm rồi. Cô bảo: “Bên đó giờ thất nghiệp nhiều lắm! Ai còn việc làm là may lắm rồi”. Chuyện của cô làm thằng em ở nhà hết sức thất vọng, vì anh chàng này đang hi vọng bà chị về cho vài chục triệu để cất nhà và cười vợ…
Tuần rồi, anh bạn học thời phổ thông của tôi từ Úc về Việt Nam cưới vợ. Du học tự túc rồi nhập tịch xứ chuột túi, anh định mua nhà xong sẽ lấy vợ nhưng chờ mãi không mua nổi nhà trong khi anh là con trai đầu, ba mẹ cứ hối anh lập gia đình để có cháu đích tôi... Năm ngoái, nói chuyện qua điện thoại, anh bảo một căn hộ “ở được” tại bang Victoria vào khoảng 3,5 – 4 tỉ đồng Việt Nam. Năm nay, tuy giá nhà có xuống thấp nhưng thu nhập của anh cũng xuống theo… Bây giờ, lấy vợ xong, đành sang bên đó ở trọ tiếp!
Trên báo chí, những vụ phá sản, vỡ nợ ở các nước phát triển xảy ra thường xuyên, kéo theo nhiều người bị mất việc, bị mất nhà cửa. Thế mới biết, trong thời buổi khó khăn này, người dân ở nước nào cũng có thể bị lôi vào vòng xoáy suy thoái kinh tế.
2. Theo thông tin của Liên đoàn Lao động thành phố, do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh nhân sự, trong năm 2008, tính đến giữa tháng 12, có khoảng 10.000 người mất việc làm. Con số này chắc không dừng lại ở đó và đằng sau nó là hàng chục ngàn người khác đang bị ảnh hưởng.
Trong những ngày cuối năm này, chuẩn bị Tết Nguyên đán, hoạt động kinh doanh có phần sôi động hơn ngày thường. Hàng hóa được bày bán nhiều hơn, giá cả cũng không quá đắt đỏ, nhất là khi chủ trương kiềm chế chỉ số tăng giá tiêu dùng của Chính phủ từ giữa năm bây giờ đã phát huy tác dụng rõ rệt. Tuy nhiên, trong khi thu nhập của đại bộ phận người dân không tăng thì tâm lý “phòng thủ” khiến nhiều người ít dám tiêu dùng. Vì vậy, hàng hóa bán nhiều nhưng mãi lực thấp, kể cả những chỗ bán hàng “xôn” hay “sale off” cũng khá ế ẩm. Nhiều người tranh thủ còn đi mua vàng để phòng thân, khiến giá vàng tăng mạnh…
3. Nhưng những ngày cuối năm, người Việt Nam trở nên phấn khởi cao độ bởi thành tích tuyệt vời của đội tuyển bóng đá. Nhiều người dù không quan tâm đến thể thao nhưng cũng cảm thấy hạnh phúc và tự hào với chức vô địch khu vực. Bỗng dưng, sự lo âu, căng thẳng với tình hình kinh tế khó khăn chung giảm đi nhiều. Nhiều người vẫn ví von rằng rồi ngày mai mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, cũng như đội tuyển bóng đá đã đi từ thất vọng não nề đến thành công rực rỡ. Phải biết kiên nhẫn chờ đợi nhưng cũng không được thôi cố gắng.
Sau trận chung kết lượt về, một bình luận viên trên truyền hình trong lúc cao hứng đã nói: có lẽ bây giờ người Việt Nam đang là những người hạnh phúc nhất thế giới… Có thể lắm chứ, nhất là khi mà các thăm dò về chỉ số hạnh phúc đều cho thấy dân ta luôn chiếm ở những hạng đầu…
4. Tôi không tin rằng vì lâu nay người Việt Nam chúng ta phải thường xuyên “đối phó” với nạn kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm môi trường… nên khi có bất kỳ niềm vui nào cũng “cường điệu” nó. Nói vậy chẳng khác nào đã xem nhẹ tinh thần vươn lên và khả năng chịu đựng của người Việt, chẳng khác nào đánh đồng sự “đồng cam cộng khổ” giữa cộng đồng dân cư với nhau, giữa người dân với nhà nước bằng phép thắng lợi tinh thần kiểu A.Q. Sự thật, người Việt chúng ta đã trải qua nhiều đau thương, mất mát, gian khó nên thêm một khó khăn nữa thì cũng không phải là bi kịch và cũng vì vậy mà càng chắt chiu, càng quý trọng những khoảng khắc ngọt ngào, những vận hội mới. Chính vì đã từng gian khó nên cảm giác hạnh phúc rất dễ đến và cũng rất mạnh mẽ, nó không “cầu kỳ” phải đạt được nhiều thứ. Dù vậy, hạnh phúc đã đến thì thường ở lại rất lâu…Trong bối cảnh đó, việc phát huy khả năng vượt khó vươn lên trong mỗi người dân của hệ thống chính trị là rất cần thiết và quan trọng. Khi đó, sẽ dễ dàng tạo ra một sức mạnh tổng hợp, như đã từng xảy ra trong thời kỳ kháng chiến. Những chủ trương như hỗ trợ người nghèo, kích cầu… nếu thực hiện đúng nơi, đúng cách trở nên có ý nghĩa sâu sắc, như là một hấp lực thúc đẩy mọi người chung vai sát cánh để cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách. Do đó, nếu thực hiện những chủ trương này một cách thật tốt thì cũng là một biện pháp “thu phục nhân tâm” đầy ý nghĩa.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2008

Câu chuyện văn hóa

TẢN MẠN VỀ “ĂN TẾT”

1. Dân gian lâu nay vẫn có từ “ăn tết” để chỉ sự thụ hưởng những ngày cuối năm cũ và đầu năm mới sau một năm lao động vất vả. “Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà”, đó là một sự “tiên đoán” của tay thầy bói “ra ma”; tức là, dù ai giàu nghèo gì ngày tết cũng có nồi thịt heo kho Tàu, thịt ướp muối sả treo trên giàn bếp, hay thịt gà thịt vịt làm sẵn để đãi khách.
Không chỉ vậy, ngày tết ngoài “thịt mỡ” còn có “dưa hành”. Trong Nam thường ăn bánh tét với dưa giá, củ kiệu muối chua; ngoài Bắc lại chuộng bánh giò bánh chưng với vài thứ rau cải muối mặn. Ngoài ra, còn có nhiều thứ bánh như bánh ít, bánh phồng, bánh tráng, bánh in, bánh đậu xanh…; các loại mứt như mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt hạt sen, mứt gừng… Dĩ nhiên, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương… luôn là món “khai vị”, vừa vui miệng, vừa mang dấu ấn đặc biệt của ngày tết.
Rồi còn trái cây nữa. Dưa hấu thì khỏi nói. Bởi nhà nào cũng có một cặp dưa tròn xanh đen, bóng vỏ để chưng trên bàn thờ. Nhà khá giả thì cặp dưa to, nghèo thì nhỏ hơn nhưng không nhà nào không có. Trong Nam vào dịp tết thường không có nhiều trái cây nhưng cũng vẫn có xoài, quýt, vú sữa, đu đủ… Dĩ nhiên, dừa tươi thì nhà nào cũng có sẵn, không chỉ để “cầu vừa đủ xài” mà còn để giải khát trong những ngày tết thường bị rượu “hâm nóng”.
Trong ký ức tuổi thơ nhiều người chắc chưa quên những tiếng “thậm… thình” giã nếp, giã khoai mì để làm bánh phồng, những chiếc chiếu phủ những chiếc bánh tròn phơi trước giậu râm bụt… Ta nhớ lại một thời ta “ăn tết” với niềm háo hức, say sưa, dù rằng cái “ăn” của ngày nào cũng còn đơn giản, dân dã hơn bây giờ rất nhiều.
2. Không chỉ có ăn, người ta còn chơi tết. Thời gian nghỉ dài nhất trong năm này thường trùng với đợt giãn ra giữa hai mùa vụ nên đồng áng khá thư thả. “Tháng giêng là tháng ăn chơi” mà! Thanh nhã thì có viết liễn với những câu đối đỏ bằng chữ Nho. Bây giờ còn có thêm viết thư pháp chữ Việt. Những câu răn dạy, nhắc nhở mọi người sống có nghĩa có tình, thủy chung, hiếu đễ thường được mọi người treo trang trọng ở gian giữa trong nhà. Nghệ thuật thư pháp thường chú ý mấy chữ “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”… để cầu năm mới mọi điều tốt lành đều tấn tới. Các kiểu hoa kiểng cũng mang “thế” của những chữ này hoặc ít ra cũng mang ý nghĩa tương tự. Sung, mai… được tạo thành những dáng đẹp, chăm chút để nở hoa đúng ngày tết nhưng vẫn tạo được dáng thanh thoát, ý nhị…
Bình dân thì có trò đốt pháo, nhất là với trẻ con. Đốt pháo theo quan niệm truyền thống là để xua đuổi ma quỷ đang ẩn nấp quanh chúng ta, chực chờ tàn hại con người sau khi nhiều vị thần tốt phù trợ dân gian phải về chầu Ngọc Hoàng. Tuy nhiên, càng về sau, khi nhiều người lạm dụng pháo thì nó trở nên nguy hiểm, vừa không an toàn cho chính người đốt và những người xung quanh, còn gây cháy nổ và cũng rất lãng phí. Vì vậy, gần đây, việc nhà nước đã cấm đốt pháo là điều cần thiết, trong điều kiện dân cư ngày càng đông, hình thức giải trí ngày càng phong phú.
“Máu me” hơn là có đá gà, lắc bầu cua, đánh bài… Các sòng gà thường thu hút nhiều người, vừa xem, vừa cá độ. Ở góc độ văn hóa, đá gà là một thú chơi dân gian độc đáo, tuy nhiên khi bị người ta lợi dụng để trở thành một môn cờ bạc sát phạt lẫn nhau. Nhiều người vì “vui vẻ” với các món cờ bạc trong mấy ngày tết mà trở nên tán gia bại sản, thiết nghĩ “vui chơi như thế bằng mười thiên tai”, vì thiên tai tuy mất nhưng còn được xóm giềng chia sẻ, bà con giúp đỡ còn thua cờ bạc thì chỉ có thêm sự dè bĩu, cười chê của mọi người!
Ở nông thôn, tết thường có các hội chợ, vừa trưng bày sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ vừa có các trò chơi dân gian. Lô tô, thả bọ, ném cổ vịt, thảy vòng… đều là những môn chơi hấp dẫn, hồi hộp, vui nhộn. Tuy nhiên, càng về sau các trò chơi này ngày càng biến tướng thành những thủ thuật lừa lọc mang tính cờ bạc, ít còn tính giải trí thuần túy như xưa.
3. Bây giờ, người ta vẫn còn dùng từ “ăn tết”. Tết thì phải có ăn, dĩ nhiên ăn nhiều hơn và ngon hơn ngày thường. Tuy nhiên cái ăn bây giờ cũng đã khác nhiều. Không còn cảnh các mẹ các dì lục đục chuẩn bị làm bánh, làm mứt như trước; cũng không còn cảnh các chú các anh vật heo, giết bò chia nhau trong xóm để dành ăn tết như ngày nào… Tất cả đều có thể ra chợ mua. Ngay trong mồng một tết vẫn có người buôn bán chứ không nghỉ đến chiều mồng ba tết như ngày nào. Công nghiệp hóa, chuyên môn hóa ít nhiều làm mất đi tính truyền thống của văn hóa nông nghiệp nhưng lại tiện lợi, kinh tế hơn nhiều.
Người ta vẫn còn “chơi tết”. Nhưng nhiều cái chơi bây giờ được tổ chức quy củ, đảm bảo tính văn hóa, tính thẩm mỹ. Những thú chơi tao nhã như viết câu đối, viết thư pháp, văn nghệ, chưng tỉa hoa kiểng… vẫn được giữ lại; các trò chơi mang tính cờ bạc thì bị nghiêm cấm. Cái chơi bây giờ được chuyển thành đi thăm thú bà con xa, đi du lịch, vì cả năm bận rộn không có thì giờ đi lại. Điều này khác nhiều so với trước đây, ngày tết vốn thường chỉ ở nhà tiếp khách và đi thăm viếng họ hàng gần mà thôi.
4. Tết Kỷ Sửu này trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Trong cái vui còn có nhiều cái lo. Vì vậy, chắc không ai bảo ai mà đều tự thực hiện tiết kiệm, vẫn ăn tết, vẫn chơi tết, vẫn vui tết nhưng sao cho giản tiện, để không phải “thâm hụt ngân sách”.
Không chỉ vậy, khó khăn chung đã làm nhiều gia đình nghèo hơn. Trong bối cảnh này mà ăn uống thừa mứa, tiêu xài hoang phí là có tội với người nghèo. Từng gia đình, từng người có thể nhín lại chút ít trong khoản tiêu pha cho ngày tết để góp nhau giúp đỡ những hoàn cảnh cơ nhỡ, neo đơn, hoạn nạn. Chủ trương “để mọi người đều được ăn tết” mang đầy tính nhân văn nhưng cần sự quan tâm, chia sẻ nhiều hơn của tất cả chúng ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, một miếng dành cho người nghèo của ngày thường đôi khi không quý bằng một miếng của ngày tết. Bởi vì, trong lúc mọi người đang hân hoan vui vẻ, những người khốn khó càng thấy chạnh lòng hơn; nếu nhận được sự chia sẻ của mọi người thì niềm vui của người tặng được nhân lên mà sự chạnh lòng của người nhận cũng giảm xuống.
Hẳn mỗi người đều tự tìm cho mình cách tận hưởng một cách tết vui tươi, ý nghĩa, không chỉ cho bản thân mình mà còn cho nhiều người khác!

Bài thơ thứ 16

XÚC CẢM MÙA XUÂN

Heo may
Gọi chúa xuân về
Chòm hoa dại
Nở bên hè rực hơn.
Líu lo
Chim rộn xa gần
Tươi thêm sắc áo
Trắng hồng chợ xuân.
Một nụ cười
Cũng bâng khuâng
Một ánh mắt
Cũng để lòng ai nao.
Nắng hoe
Vườn rộng xôn xao
Gió vờn khóm trúc
Rì rào chòm mai.
Gà đâu
Cuối xóm gáy dài
Đón năm mới
Chào tương lai rực hồng.

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2008

Câu chuyện thể thao

Chung kết lượt đi Thái Lan – Việt Nam: 1-2:
ÔNG TÔ LÀM THẦY LANG!

Không còn gì bàn cãi, thành công của ĐT Việt Nam tại AFF Cup lần này phần lớn là từ HLV Calisto. Nói như vậy không có nghĩa là xem nhẹ sự trưởng thành và nỗ lực của các tuyển thủ nhưng vai trò “đầu tàu”, “bộ óc chiến thuật” của “thầy Tô” là rất lớn. Không chỉ thế, tôi cho rằng ông Tô còn là một thầy lang giỏi. Ông đã “bắt mạch”, tìm đúng bệnh và kê những toa thuốc hiệu nghiệm khiến đội tuyển và từng tuyển thủ gần như “lột xác” hoàn toàn.
Đối với tập thể đội tuyển, ông đã xây dựng một lối chơi thiên về kỹ thuật – chuyền ngắn, ít chạm, có nhiều “miếng đánh” – vừa trung lộ, vừa tấn công biên. Lối chơi này phù hợp với thể hình, thể lực và tố chất khéo léo của cầu thủ Việt Nam. Ở một tập thể không có một ngôi sao thực sự, không có một thủ lĩnh đúng nghĩa, ông Tô đã tạo sự gắn kết cần thiết để phát huy cao độ tính đồng đội, tính tập thể. Ở đó, mỗi người là một mắt xích trong một chuỗi, không có mắt xích nào quan trọng hơn mắt xích nào và nếu thiếu hoặc yếu ở một vị trí nào đó thì chuỗi sẽ bị hỏng. Điều đặc biệt, ông đã thổi vào đội tuyển tinh thần màu cờ sắc áo, niềm từ hào quốc gia, mà chính các trợ lý người Việt cũng chưa làm được tốt. Việc tặng mỗi cầu thủ một lá cờ nhỏ giấu trong giày là một sự khơi gợi tinh thần dân tộc tuyệt vời. Hay việc động viên để các tuyển thủ “thắng không kiêu, bại không nản”, đồng sức đồng lòng không để những chuyện “ngoài đời” (khen chê của truyền thông, sự khiêu khích của đối phương, kể cả tiền thưởng…) cũng là những “liều thuốc” chữa bệnh về tinh thần hết sức hiệu quả. Rõ ràng, trong trận thắng Thái Lan 2-1, người ta không còn thấy một tuyển Việt Nam e dè, run sợ trước người Thái nữa mà chỉ có sự sòng phẳng, quyết tâm cao độ.
Đối với từng cá nhân tuyển thủ, chắc hơn ai hết những Công Vinh, Quang Hải, Hồng Sơn… hiểu mình đã được thầy Tô “chữa bệnh” như thế nào. Tiền đạo số 9 nhiều trận không ghi bàn và chơi khá vật vờ nhưng vẫn được thầy Tô tin dùng để rồi tỏa sáng đúng lúc trong 2 trận cầu quan trọng gặp Singapore và Thái Lan. Quang Hải thì đùng đùng xin về một cách “chưa xứng là đàn ông” nhưng rồi trở thành người hùng bởi sự vỗ về, an ủi một cách chân tình của thầy Tô. Hồng Sơn nhiều khả năng trở thành thủ môn xuất sắc nhất giải cũng đã từng mắc những sai lầm đáng trách trong trận thua Thái Lan 0-2, thắng Malaysia 3-2 ở vòng bảng nhưng rồi liên tiếp trở thành lá chắn thép trước khung thành ĐT… Nếu thầy Tô cực đoan, thiếu kiên nhẫn và nhất là không có biện pháp chữa bệnh tâm lý kịp thời thì e rằng những “công thần” này đã phải ngồi ngoài rồi.
Nhiều người đã nhắc đến việc cần có một bác sĩ hay một chuyên gia tâm lý cho ĐT. Điều đó rất cần thiết. Thế nhưng trong lúc chưa tìm ra một vị trí như thế mà HLV Calisto đã “kiêm nhiệm” một cách xuất sắc thì quả không hổ danh ông là “phù thủy”. Có điều, sự kiêm nhiệm đó phải được VFF quan tâm hỗ trợ nhiều hơn, được sự đồng hành tích cực của các CLB hơn, được sự ủng hộ, hợp tác từ các tuyển thủ chặt chẽ hơn thì mới có hiệu quả dài lâu, mới tạo thành nền móng để phát triển nền bóng đá nước nhà!

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2008

Tạp bút

ĐẮNG HOÀI RAU ĐẮNG QUÊ NHÀ

Quê tôi có những vùng mọc rất nhiều rau đắng, nhất là ở các “rộc”. Về chữ “rộc”, một cuốn tự điển đã giải thích như sau: “Đất trũng ven các cánh đồng, hoặc giữa hai sườn đồi núi”. Đó là những ruộng cát, mùa nắng cũng có nước xâm xấp, còn mùa mưa thì nước ngập đầy, nhưng mùa nào nước cũng được cát lọc trong veo. Các rộc này được bao quanh cũng bằng những bờ cát mà người ta gọi là “giồng cui”, do có nhiều cây cui mọc hoang. “Giồng” được giải thích là “dải đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông”. Theo các cụ cao niên, rộc và giồng là kết quả của những đợt sóng biển lớn, cát bị hất từng đụn to vào đất liền, nhẹ nhàng như người ta vốc từng nắm cát mà ném vậy. Năm này qua tháng nọ, giồng và rộc cứ được xếp nối nhau, hết giồng rồi tới rộc. Từ đó có thể suy đoán rằng, nơi này ngày xưa rất gần biển, hiện nay, hoặc là biển đã lùi xa đất liền hoặc đất nơi đây đã được nâng cao trong quá trình vận động của vỏ quả đất. Nói vậy để biết rằng đây là nơi đất không màu mỡ. Có lẽ trong quá trình này, tạo hóa đã trộn lẫn vài hạt giống rau đắng hoặc một ít thân rau đang tua rễ trắng để làm bạn với những thứ cỏ dại như cỏ phụng, cỏ nước mặn, năn, lác… Đến giờ, nếu không hiểu bừa theo cách đó, tôi vẫn không hiểu vì sao ở những ruộng do phù sa bồi đắp, rau đắng lại không thèm mọc mà chọn những rộc cát ít dinh dưỡng là chỗ trú ngụ cho mình.
Trước mỗi vụ lúa hàng năm, sau những cơn mưa đầu mùa như trút nước và kèm theo sấm sét rền rĩ, dạo tháng tư tháng năm âm lịch, lúc mà các gốc rạ đã mục rũ cả, những rộc cát lại được phủ bằng những mảng rau đắng xanh mướt, nom có vẻ làm dịu cả cái nắng chói chang của mùa hè. Rau mọc dày nhưng cũng cho xen các loài cỏ dại lẫn, như thể chúng là bạn bè với nhau cả. Nhưng rau đắng không bao giờ bị lẫn hay bị chìm trong đám cỏ dại tầm thường ấy. Nó nổi bật lên bằng cái màu sắc của sự sống, của niềm tin, của hy vọng và đôi khi bằng những chiếc hoa trắng li ti mỏng mảnh, tinh khiết dễ thương lạ!
Lâu lâu, từng nhóm nhỏ các cô gái trẻ từ các xóm ríu rít cùng nhau đi hái rau đắng. Men theo những bờ cát mịn, phần đông vốn là dân ruộng nên ai cũng đi thoăn thoắt, nhưng cũng có cô lội bì bõm một cách rụt rè theo sau. Bàn chân con gái của những người đi sau này dù ngâm trong nước đã bị cát làm đục vẫn để lộ làm da hồng hồng. Các bàn chân ấy đã làm bật những sợi rễ trắng tinh của rau đắng mọc ven bờ cát. Họ vừa đi vừa nói, cả những chuyện con gái hay mắc cỡ, rồi cười vang, làm rung rinh những ngọn rau non tơ mơn mởn. Họ chọn những chỗ rau mọc dày nhất và cùng ngồi bệt xuống, túm lấy từng nắm ngọn rau mà dùng dao nhỏ xén ngang. Những cọng rau non vừa mập mạp vừa mềm mại lần lượt được cho cái bịch đệm (cói) – vốn rất phổ biến ở quê tôi dạo ấy – được buộc quai bằng dây lạt dừa mang theo sẵn bên người. Rồi cái màu xanh non dịu dàng ấy tương phản cũng theo một cách ngọt ngào sẽ còn lưu lại trong ký ức của các cô và của bao nhiêu người khác nữa.
Các cô là những người nhân lúc nông nhàn – ở quê tôi với chỉ một vụ lúa hàng năm thì khoảng nông nhàn dài lắm – mà tìm ít việc để làm thêm, kiếm mớ rau cho bữa cơm chiều, hoặc tìm vài đồng lẻ phụ vào tiền chi tiêu của gia đình, hoặc sắm vài thứ lặt vặt cho con gái. Có thể là một đôi guốc mộc, một chiếc vòng đeo tay, vài cái ống quấn để làm quăn tóc, một đôi hoa tai bằng nhựa, hoặc để dành lâu hơn mà mua hẳn một bộ quần áo mới… Đi hái rau, họ có nhiều niềm vui, vừa thành một nhóm tha hồ trò chuyện, vừa có thêm ít tiền tiêu vặt. Nhưng vui nhất không phải là mấy cô con nhà khá giả ít khi lội ruộng, mà vẫn là những người quen với công việc đồng án – họ xem những cọng rau là sự tiếp nối những thành quả lao động của mình, và họ sẽ rất buồn nếu không được làm việc gì! Và, có người còn vui hơn khi nghĩ đến món tiền bán rau đắng sẽ mua được một món trang sức nho nhỏ gì đó, để làm duyên trong buổi có đoàn dân công tỉnh về hát hoặc ít ra cũng gây được sự chú ý trong hôm cúng đình…
Nếu hái để ăn, thì chỉ một loáng là có đủ rồi. Nhưng có người muốn hái thêm một chút để mang về biếu hàng xóm, người ta hay biếu qua lại ít bánh trái, mớ rau, hay con cua con cá… Bạn đừng nghĩ đó là một sự đổi chác theo kiểu của nền kinh tế giản đơn thời sơ sử. Họ trao đổi ân tình đấy chứ! Họ đang cùng nhau thắt sợi dây xóm giềng thêm bền chặt bằng những thứ như rau đắng đó. Có người hái nhiều để ra chợ bán. Họ không chỉ bán phần rau của họ mà cả của những người bạn – họ gửi nhau một nửa hay cả bịch rau cho bạn mình bán, rồi hôm sau lại đến phiên họ làm người đi chợ. Họ giúp nhau như thế và hầu như không có tị hiềm hay nghi ngờ gì. Cũng có người “hái dùm” cho người khác để bữa sau có thể nhờ họ “trả công” lại.
Có lẽ vì thế mà rau đắng có được vị ngọt, đó là sự ngọt ngào của tình làng nghĩa xóm.
Rau đắng mang về rửa sạch. Những cọng rau xanh mởn đủ bắt mắt những ai đang… đói bụng. Người ta luộc rau đắng trong nước cơm mẻ, chờ nước sôi, đổ ào cả rổ rau vào, trộn sơ rồi nhắc xuống. Những cọng rau rũ xuống rất nhanh và ngả sang màu vàng nhạt, không biết vì nóng hay vì vị chua của cơm mẻ, nhưng sẽ có vị đặc biệt: vừa đắng đậm cũng vừa chua thanh. Bữa cơm với đắng luộc cơm mẻ chấm nước cá kho bao giờ cũng ngon, chẳng kém gì ăn với rau cải hay rau lụa bán ở chợ. Rau đắng có thể nấu canh chua lá me với cá chình hoặc với cá bống kèo, và sẽ còn ngon hơn với món nấu chua rau đắng với cá rô đồng như trong lời vọng cổ của bài “Còn thương rau đắng mọc sau hè”. Nhân nhắc đến bài hát này, người Tây Nam Bộ chúng tôi sẽ mãi nhớ ơn nhạc sĩ Bắc Sơn, người đã âm nhạc hóa và thi vị hóa về một món ăn dân dã, mà nếu không e rằng đến ngày nào đó người ta sẽ quên nó mất. Vì hiện nay, không phải rau đắng đang mất đi mà chính là tình cảm với nó đang cạn dần. Người ta ăn rau đắng như là một thói quen (ăn lẩu chua phải có rau đắng chẳng hạn), mà cũng là ăn một thứ rau xanh (đại loại) cho có chất xơ. Người ta đã quên rằng rau đắng là thứ mọc ở những nơi mà các loại rau khác khó sống được như ở các rộc vừa kể, ở ven bờ sông (nơi thường bị cỏ dại lấn chiếm và bị sóng vỗ mất gốc), ở “sau hè” như trong bài hát… Người ta đã quên rằng rau tuy đắng nhưng có vị ngọt (là thức ăn mát, giải nhiệt), và ngọt hơn là hương vị của quê hương, xứ sở. Và tệ hơn, ngày nay rau đắng được trồng theo kiểu “công nghiệp”, tẩm đầy hóa chất, tuy vẫn xanh tươi nhưng có cảm giác thiêu thiếu sự tự nhiên và nhất là không còn đắng như rau đắng ngày xưa nữa.
Buồn hơn, rau đắng khó còn tìm thấy vị ngọt của tình người xưa cũ nữa. Chúng ta đang tìm lại thời ấy hay đang đánh mất nó? Tôi nghĩ là cả hai. Cũng như rau đắng, nó đang đấu tranh cho sự sinh tồn của mình, thì chúng ta cũng đang đấu tranh để bảo vệ những gì thuộc về truyền thống, nguồn cội.
Nhưng có một điều đặc biệt. Cùng với rau nhút, rau dừa, rau cù nèo, bông súng, bông điên điển, bông so đũa, rau chóc, rau mã tiền, rau năn…, rau đắng ngày nay trở thành… hàng hiếm, là một món ăn thuộc loại… đặc sản ở thành phố, thường xuất hiện trong các món ăn hơi cách điệu, ở những quán xá sang trọng. Đó là một sự bù đắp cho loài rau dại này chăng? Tôi không cho là như vậy, mà nghĩ rằng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì người ta lại có xu hướng “hoài cổ”, ao ước được sống lại phần nào cuộc sống của những ngày xưa cũ. Nhưng dù vậy, chúng ta ngày càng xa rời cái ngày xưa đó hơn (cũng như rau đắng ngày càng… ít đắng hơn vậy!), bản thân ít còn có dịp để gần gũi, tìm hiểu về “một thời để nhớ” đó nữa.
Dù vậy, những ai đã từng có sống gắn bó với rau đắng thì sẽ còn nhớ hoài loài rau này, cũng như thương mãi quê nhà hương yêu dấu của mình.
Bài đã đăng báo Thanh niên ngày 6.10.2002

Câu chuyện thể thao

ĐIỂM YẾU KỶ LUẬT

Cuối cùng thì tuyển Việt Nam cũng vào bán kết của AFF Suzuki Cup – có vẻ là đội kém nhất trong 4 đội đấu ở vòng này! Có nhiều điều để bàn, để mổ xẻ từ kết quả này. Nhưng hình như điều ít được nói đến là tính kỷ luật của đội tuyển – của các tuyển thủ - trong quá trình tham gia giải.
Đã có những thông tin về các vụ va chạm, cãi vả giữa các tuyển thủ. Điều đó cho thấy tính đoàn kết, thống nhất của đội tuyển chưa thật cao. Đội vẫn cần một thủ lĩnh thực sự, cả trong và ngoài sân, để làm đầu tàu tập luyện, thi đấu và cả trong sinh hoạt. Dù HLV Calisto được cho là rất tâm lý nhưng dường như ông vẫn quá bận rộn và cũng khó có điều kiện để tham gia “trị liệu tinh thần” cho các tuyển thủ. Vì vậy, vai trò của các trợ lý người Việt và nhất là đội trưởng, đội phó cần thể hiện rõ hơn nữa, để hóa giải, dàn xếp các mâu thuẫn (nếu có) và nhất tạo ra sự nhất trí cao để đội tuyển trở thành một tập thể mạnh.
Một điểm yếu nữa, nghiêm trọng hơn, là tính kỷ luật trong việc tuân thủ ý đồ chiến thuật của ban huấn luyện. Gần như trong các trận gặp Thái Lan, Malaysia và cả trong hiệp 1 trận gặp Lào, đấu pháp không được các cầu thủ thực hiện một cách triệt để. Có lúc, mạnh ai nấy đá, dẫn đến sự gắn kết giữa các tuyến quá lỏng lẻo, dĩ nhiên là không phát huy được sức mạnh tập thể. Thất bại trong trận gặp Thái Lan, kể ra có nhiều nguyên nhân, kể cả tâm lý “khớp” trước người Thái, thì việc chấp hành đấu pháp nên coi là điểm then chốt. Nhất là trận gặp Malaysia, nhìn toàn cục, chính sự tỏa sáng của các cá nhân (cộng với sự may mắn) mới giúp chúng ta giành được chiến thắng. Các miếng tấn công thường khá đơn điệu, sự phối hợp không thể hiện rõ nét, vai trò của từng vị trí không phát huy đúng mức nên không những tạo ra ưu thế trước người Mã mà còn nhiều lúc bị động, bị vây hãm.
Ngoài ra, việc phạm lỗi liên tục cũng là một biểu hiện kém tính kỷ luật của các tuyển thủ. Những hình huống nhận thẻ vàng của Thành Lương, Việt Thắng (trận gặp Thái Lan), Quang Cường (trong trận gặp Lào)… đều rất đáng tiếc, hoàn toàn có thể tránh được nếu các cầu thủ bình tâm hơn, chuyên nghiệp hơn. Biểu hiện rõ nhất là trong trận gặp Lào, tuyển Việt Nam giành thắng lợi đậm đà 4-0 thì cũng áp đảo về số lần phạm lỗi. Rất nhiều tình huống không nhất thiết phải phạm lỗi nhưng dường như các tuyển thủ quá nặng nề về tâm lý nên thiếu biện pháp xử lý an toàn hơn. Chính điều đó cũng cho thấy các tuyển thủ chưa được hướng dẫn đầy đủ cách chơi fair-play.
Kỷ luật là sức mạnh. Tiếc rằng các tuyển thủ chúng ta chưa triệt để tuân thủ kỷ luật nên chưa phát huy đầy đủ sức mạnh cũng là điều dễ hiểu. Trước vòng bán kết, nhất thiết phải khắc phục được điểm yếu này, nếu muốn đạt thành tích tốt ở giải đấu năm nay. Và, vấn đề kỷ luật cũng đặt ra trách nhiệm ở các câu lạc bộ, để giúp cầu thủ chuyên nghiệp hơn, chơi hiệu quả và chơi đẹp hơn.
Bài đã đăng báo Tuổi trẻ, ngày 12-12-2008

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008

Câu chuyện thể thao

TÔI QUÁ XÚC ĐỘNG…

Thú thật, tôi không phải là người hâm mộ cuồng nhiệt của Công Vinh. Tôi không phủ nhận tài năng đá bóng của Công Vinh (dù nếu so sánh, Vinh còn kém xa Văn Quyến về độ tinh quái cũng như không thể bì được với Huỳnh Đức về độ cần cù) nhưng tôi không có cảm tình lắm với cách anh thi đấu. Người ta đã nhắc đến cụm từ “bệnh ngôi sao” khi chỉ về cầu thủ xứ Nghệ này. Tôi không chắc lắm, nhưng giá như anh chịu “cày ải” nhiều hơn – chạy nhiều hơn, tranh bóng tích cực hơn, chịu “xách xe không” nhiều hơn… - thì chắc Vinh sẽ chiếm được cảm tình của nhiều người nữa!
Dù thế nào Vinh vẫn là tiền đạo số một Việt Nam hiện nay. Nhưng sự xưng tụng này chẳng có ý nghĩa gì đáng kể nếu như Vinh không ghi được bàn thắng nào và không giúp tuyển Việt Nam giành kết quả tốt tại AFF Cup.
Nhưng ngay trước khi lên đường, Vinh đã kịp “ghi” một “bàn thắng” rất đẹp, có thể nói là một trong những “bàn thắng” đẹp nhất trong đời cầu thủ của anh, là nhận một cậu bé bị bệnh ung thư làm em nuôi. Cái nghĩa cử đó làm tôi quá xúc động đến rưng rưng nước mắt. Cái nghĩa cử nhân ái đó hẳn xuất phát từ cuộc giao lưu của đội tuyển với các trẻ em mắc bệnh trước ngày lên đường sang Thái Lan, nhưng tôi tin rằng nó còn xuất phát từ trái tim nhân ái của một cầu thủ. Đừng ai nói với tôi rằng đó là một “nghĩa cử tượng trưng”, bởi nó không chỉ dập tắt một cách thô bạo niềm xúc động mãnh liệt trong tôi mà còn giết chết một tâm hồn ngây thơ trong một cơ thể bệnh tật nữa. Chắc chắn không đâu, tình yêu bóng đá của Công Vinh, không thể tách rời tình nhân ái, bởi xét cho cùng, bóng đá cũng góp phần làm đẹp hơn cho cuộc sống, để phục vụ tốt hơn cho con người.
Tôi không muốn thấy “nhân” sự kiện này để các cầu thủ khác có hành động tương tự với mục đích đánh bóng hình ảnh. Tôi chỉ mong các cầu thủ khi rời khỏi quả bóng hãy nghĩ nhiều hơn đến những người đang dõi theo họ, trong đó có những hoàn cảnh bất hạnh, những số phận hẩm hiu. Và hãy dang tay với họ, không giúp được nhiều về vật chất thì ít ra cũng trao cho họ niềm tin yêu cuộc sống, nghị lực và sự quyết tâm vượt lên số phận của mình. Bóng đá, khi đó không còn là một trò chơi nữa, mà là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhân văn.
Sau pha “ghi bàn” ở nhà, tôi mong sao Công Vinh sẽ đều đặn “nhả đạn” tại đấu trường AFF Cup. Hẳn anh giờ đây có thêm trách nhiệm, không chỉ với Tổ quốc quá lớn lao, với hàng triệu cổ động viên quá đông đảo mà còn có sự cầu mong, hi vọng của em Hồng Quân, người em nuôi mới nhận.
Có lẽ phải cảm ơn người đã nghĩ ra “liệu pháp tâm lý” tuyệt vời này cho các tuyển thủ. Chính ý tưởng đó đã làm cho hình ảnh các tuyển thủ đẹp đẽ hơn bội phần, làm cho bóng đá trở nên gần gũi và nhân văn nhiều lần…