CHÍNH SÁCH VÀ SỰ HI SINH
1. Hồi làm cầu Mỹ Thuận, nhiều người đã băn khoăn đến việc 3.000 người có đời sống gắn với phà Mỹ Thuận, vốn đã tồn tại hàng chục năm, sẽ sống như thế nào. Những người bán trái cây, trà đá, quà bánh, vé số, người đưa đò,… đã gần như phải bỏ nghề hoàn toàn khi chiếc cầu hoàn thành. Ngoài ra, một nếp sống đã đi vào thơ vào nhạc cũng chấm dứt tồn tại.
Trải qua 10 năm từ khi chiếc cầu dây văng này đi vào sử dụng, chưa ai điều tra, thống kê một cách cụ thể, chính xác rằng 3.000 người này đã sống như thế nào, bao nhiêu người sống tốt hơn và bao nhiêu người sống kém hơn. Rõ ràng rằng, họ là những người đã phải hi sinh đời sống kinh tế của riêng mình cho một công trình mới hiện đại hơn, tiện lợi hơn cho rất nhiều người khác. Và, sự thích nghi một cách tốt đẹp với cuộc sống mới của những người này chắc sẽ làm các nhà hoạch định, các nhà quản lý yên tâm và tự tin hơn khi ban hành các chính sách có liên quan đến nhiều người dân.
2. Từ ngày 19-1-2009, hàng ngàn người dân sống hai bờ của bến phà Rạch Miễu cũng sẽ phải thay đổi cách kiếm sống như họ đã làm lâu nay. Từ những người có vốn để mở một quầy bán ngay trên bến phà, bán quán ăn uống, người mua xe máy để chạy xe ôm đến người chỉ có chút tiền để sắm một rổ bánh ít, bánh dừa hoặc một thùng nước ướp lạnh, thậm chí cả những người ăn xin, rồi đây sẽ không thể chờ vào sự qua lại của khách đi phà mà kiếm ăn được nữa. Rồi đây, nhiều người, mà phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em, có thể trở thành gánh nặng cho gia đình…
Không chỉ vậy, đời sống kinh tế của một quãng đường dài từ ngã ba Bình Đức đến bến phà phía Mỹ Tho – Tiền Giang và từ bến phà đến ngã tư Huyện phía Châu Thành – Bến Tre cũng sẽ thay đổi không nhỏ. Xe cộ qua lại đoạn đường này vắng hẳn tức là cũng làm việc buôn bán trở nên khó khăn hơn, thu nhập sẽ giảm đi… Vì vậy, trong những ngày trước khi cầu Rạch Miễu được đưa vào sử dụng, tâm trạng chung của người dân ở khu vực này vui buồn lẫn lộn. Người ta vui với niềm vui chung vì có được một cây cầu lớn bắc qua sông Tiền, chiếc cầu dây văng lớn nhất do người Việt Nam thiết kế và xây dựng. Nhưng người ta buồn vì cái “cần câu cơm” bị teo tóp lại. Nhiều người còn buồn hơn vị không nhận thấy sự quan tâm, giúp đỡ của chính quyền địa phương.
Đã thế, khi nhiều người có điều kiện chuyển sang mua hoặc thuê đất để xây dựng các kios hoặc quán sá dưới chân cầu để buôn bán thì cũng phải chấp nhận rủi ro, chẳng hạn giá đất bị đẩy quá cao, khả năng kiếm lời vẫn còn là ẩn số; đó là chưa kể có thể bị lôi vào vòng xoáy của những kẻ đầu cơ bất chính. Tức là, trừ một số ít bằng cách này hoặc cách khác kiếm chác được từ chiếc cầu Rạch Miễu thì tuyệt đại đa số những người từng gắn bó với bến phà này phải chịu thiệt thòi khi bến phà ngưng hoạt động.
3. Rõ ràng khi miền Tây có thêm một cây cầu lớn thì nhiều người dân ở hai đầu cầu đã phải chịu sự hi sinh. Nhưng chính quyền địa phương hoàn toàn có thể vận động những người có đời sống bến phà Rạch Miễu… chấp nhận hi sinh (nhưng có điều kiện, chẳng hạn có trợ giúp chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ học nghề…).
Nhìn rộng ra, ngay cả khi một chủ trương, chính sách hợp pháp, hợp lý ra đời thì vẫn có một bộ phận người dân chịu thiệt thòi với chủ trương, chính sách đó. Chẳng hạn, vấn đề đang còn tính thời sự là việc hạn chế (tiến tới cấm) xe thô sơ, xe tự chế dù góp phần hạn chế tai nạn giao thông, xây dựng mỹ quan đô thị, giảm ô nhiễm môi trường…, nhưng có nhiều người bỗng dưng bị “treo” nồi cơm của mình. Cùng với họ là nhiều người phụ thuộc khác cũng bị ảnh hưởng. Còn với những chính sách chủ quan, không phù hợp thực tiễn, chẳng hợp lòng dân thì có khi “lợi bất cập hại”.
Do đó, để người phải hi sinh “vui lòng” thực hiện một chính sách mới, công tác tuyên truyền cần được thực hiện một cách sâu rộng. Đồng thời cần có sự hỗ trợ cần thiết để người dân buộc phải thay đổi cuộc sống, công việc do chính sách đó có đời sống tốt hơn.