Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

Tư liệu

VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ TRUNG QUỐC

Năm 2005, theo số liệu thống kê của Hiệp hội Báo chí thế giới (WAN), Trung Quốc đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản), về sự phát triển của thị trường báo chí; đứng thứ 3 thế giới về số lượng tờ báo phát hành trên 1 triệu bản/kỳ; đứng đầu thế giới về số phát hành. Trong 5 năm gần đây, số lượng phát hành báo chí ở Trung Quốc tăng 35%, trong khi 3 thị trường báo chí lớn nhất thế giới là Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU đều giảm…

Sơ nét về báo chí Trung Quốc
Năm 1978, năm bắt đầu thực hiện cải cách, Trung Quốc có chưa đầy 1 tivi/100 dân và chỉ hơn 10 triệu dân mới có một đài truyền hình. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2003, tỉ lệ này đã tăng lên đáng kể: 35 tivi/100 dân. Tương tự như vậy, năm 1965, Trung Quốc chỉ có 12 đài truyền hình và 93 đài phát thanh thì hiện nay đã có khoảng 700 đài truyền hình với hơn 3.000 kênh và 1.000 đài phát thanh. Hiện Đài Truyền hình quốc gia Trung Quốc (CCTV) có 16 kênh chương trình, là hệ thống truyền hình cấp quốc gia duy nhất với hơn 10.000 nhân viên và doanh thu hàng năm đạt đến 1,12 tỉ nhân dân tệ. CCTV sản xuất và phát tin tức mỗi ngày 3 lần và thực hiện chế độ các đài truyền hình địa phương phải tiếp sóng chương trình thời sự chính phát lúc 19 hàng ngày. Khảo sát do CCTV thực hiện cho biết có khoảng 500 triệu khán giả thường xuyên trong cả nước xem chương trình này. Từ ngày 1-9-2006, Chính phủ Trung Quốc đã cấm phát các chương trình do nước ngoài sản xuất từ 17 đến 20g hàng ngày.
Báo in Trung Quốc cũng tăng nhanh từ 42 năm 1968 lên 382 vào năm 1980 và hiện đã hơn 2.200 tờ. Tính chung, hiện có khoảng 7.000 báo và tạp chí.
Năm 2003, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ đạo đình bản 673 tờ báo của chính quyền cả trung ương lẫn địa phương, chuyển 87 ấn bản khác thành ấn bản miễn phí. Lý do được đưa ra là những tờ báo này không phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đợt cải cách và cắt giảm bớt báo này, hơn 1.400 tờ báo của chính phủ bị ảnh hưởng – chiếm một nửa tổng số báo ở Trung Quốc vào thời điểm đó (tổng cộng 2.119 báo). Các tờ báo còn lại phải hạch toán tài chính độc lập khỏi ngân sách. Nhà nước chỉ cấp vốn cho 2 tờ báo mỗi tỉnh, 1 tờ báo mỗi thành phố lớn. Theo thống kê của Nhân dân nhật báo, khi đó, có đến hơn 1.200 tờ báo sống nhờ hệ thống bắt buộc mua báo. Trong khi đó, theo thống kê của chính phủ, tổng số thu từ việc bán báo ở Trung Quốc là 16 đến 20 tỉ nhân dân tệ (khoảng 1,9 đến 2,4 tỉ USD) hằng năm, trong số này chi phí mua báo của nhà nước chiếm từ 725 triệu đến 1,2 tỉ USD. Các cơ quan chính phủ, văn phòng Đảng ở khắp nơi từ trước tới nay vẫn "có nghĩa vụ" mua một số tờ báo nhất định, vừa tiêu tốn ngân sách, vừa không có tác dụng. Các chính sách báo chí mới được cho là “đảm bảo sao cho không có người nào bị bắt buộc phải mua báo cả, họ mua theo nhu cầu và sở thích của họ”.

Một số cơ quan truyền thông nổi bật
Tân Hoa xã
Tân Hoa xã (Xinhua News Agency), là hãng thông tấn chính thức của chính phủ Trung Quốc, ra đời vào tháng 11-1931 với tên gọi là Hồng Hoa xã (Red China News Agency) và đổi thành tên gọi hiện nay từ năm 1937. Hãng thông tấn có trụ sở tại Bắc Kinh này bắt đầu phát các bản tin bằng tiếng Anh ra nước ngoài từ năm 1941 và lập văn phòng đầu tiên ở nước ngoài vào năm 1947 (tại Luân Đôn – Anh). Hãng hiện có khoảng 10.000 nhân viên (so với 1.300 nhân viên của Reuters) với 107 phân cục trên toàn thế giới để thu thập thông tin từ các nước và tin tức về Trung Quốc ở các nước đó. Tân Hoa xã cũng đồng thời có 31 phân cục đặt ở tất cả các tỉnh, thành phố, khu tự trị. Do hầu hết các báo Trung Quốc không có hệ thống thông tín viên ở nước ngoài và ở đủ tất cả các tỉnh, nên đều phải nhờ Tân Hoa xã cung cấp tin tức. Hiện tin của Tân Hoa xã chiếm khoảng 25% trong tổng số tin trên báo chí Trung Quốc.
Tân Hoa xã có hơn 20 tờ báo và 12 tạp chí, in bằng 6 ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp quốc, gồm tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga và tiếng Ả rập.
Tân Hoa xã điện tử (Xinhuanet) bắt đầu hoạt động từ năm 1997, gồm 6 thứ tiếng chính thức của Liên Hiệp Quốc và được truy cập ở hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 80 triệu lượt xem mỗi ngày. Xinhuanet là một trong những website có ảnh hưởng nhất trong thế giới truyền thông, đứng thứ 160 trong số 108 triệu website trên toàn thế giới và thứ ba trong số các hãng thông tin quốc tế (sau BBC và CNN, bỏ xa Reuters, AP và AFP).
Nhân Dân nhật báo
Nhân Dân nhật báo (People’s Daily) là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ra đời vào ngày 15-6-1948 tại tỉnh Hồ Bắc, trước khi được dời về Bắc Kinh vào tháng 3-1949. Trong cách mạng văn hóa, đây là tờ báo hiếm hoi để các phóng viên nước ngoài có thể dẫn nguồn để thông báo về những gì đang diễn ra tại Trung Quốc. Thời kỳ này, các xã luận của Nhân dân nhật báo gần như là chủ trương chính thức của chính quyền nước này và được cả nước thực hiện. Nhân Dân nhật báo xuất bản 21 ấn phẩm, trong đó có 11 nhật báo, tuần báo, thời báo và 10 tạp chí. Biên chế, chỉ riêng phóng viên, biên tập viên đã hơn 1.000 người; có hơn 70 trạm thường trú ở trong và ngoài nước… Với số lượng phát hành rộng rãi trên toàn thế giới và khá ổn định từ 3 – 4 triệu bản/ngày, gần đây, Nhân dân nhật báo đã hoàn toàn tự chủ về tài chính.
Từ ngày 1-1-1997, bản tin trực tuyến của Nhân Dân nhật báo ra đời và liên tục được cập nhật 24/24 giờ với lượng truy cập trên 35 triệu lượt/ngày. Ngày 14-1-1998, phiên bản tiếng Anh cũng được khai trương, bên cạnh 10 ngôn ngữ khác, gồm tiếng Hoa giản thể, tiếng Hoa phồn thể, tiếng Mông Cổ, tiếng Tây Tạng, tiếng Triều Tiên, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Ả Rập. Cùng với trang chính của Nhân Dân nhật báo còn có 39 trang của các tỉnh, thành phố, khu tự trị và các vùng lãnh thổ Hongkong, Macau, Đài Loan.
Trung Hoa nhật báo
Trung Hoa nhật báo (China Daily) là tờ báo có 8 trang, phát hành từ thứ hai đến thứ bảy và ra đời vào ngày 1-6-1981. Đây báo tiếng Anh lớn nhất của Trung Quốc với số lượng trên 300.000/kỳ, phát hành đến 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Phần giới thiệu của tờ báo này trên internet cho biết, 2/3 độc giả của China Daily là các quan chức chính quyền, các nhà nghiên cứu và lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia. Bản trực tuyến của China Daily cũng là một trong những tờ báo hàng đầu châu Á với 12 triệu lượt truy cập mỗi ngày, trong đó có chỉ có 1/3 là người Trung Quốc.
Bên cạnh đội ngũ phóng viên, biên tập viên hơn 400 người giỏi tiếng Anh, tờ báo này còn thuê khoảng 40 nhà báo chuyên nghiệp ở khắp nơi trên thế giới. China Daily đã hợp tác với nhiều cơ quan truyền thông nước ngoài để phát hành các ấn bản giới thiệu về đất nước Trung Quốc, chẳng hạn liên kết với Washington Post (Mỹ) để ấn hành Reports from China, với tờ The Star (Malaysia) để phát hành BizChina, với The Nation (Thái Lan) để xuất bản tuần báo China Business Weekly…

Sự nhìn nhận khác nhau về báo chí Trung Quốc
Nền báo chí Trung Quốc trong thời gian qua phát triển rất nhanh và có nhiều cải cách theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Hiện nước này đã có nhiều tập đoàn báo chí, hoạt động dần tiếp cận mô hình các tập đoàn truyền phương Tây. Tuy nhiên, do có sự khác biệt trong tiêu chí đánh giá, nhìn nhận mà vẫn có không ít nhận xét thiếu khách quan. Chẳng hạn, với vấn đề Tây Tạng, nguyên tắc nhất quán là “một nước Trung Quốc” nhưng báo chí phương Tây hay soi mói việc báo chí Trung Quốc ít thông tin về tình hình diễn ra tại cao nguyên này. Hay vấn đề Pháp luân công, có dấu hiệu cho thấy đây là hoạt động vi phạm pháp luật nhưng khi báo chí phê phán thì bị rêu rao là “cái loa” của chính quyền…
Nhiều năm qua, Ủy ban Bảo vệ các nhà báo (CPJ) luôn cho rằng Trung Quốc “là nơi dẫn đầu thế giới về việc bắt bớ các nhà báo”. Năm 2007, Tổ chức Phóng viên không biên giới (RWB) đã xếp nước này thứ 163/170 về tự do báo chí.
Trong khi đó, ở một góc độ khác, truyền thông phương Tây cũng cho rằng báo chí Trung Quốc đã có sự cởi mở đáng kể, như giảm báo đảng, mở rộng thông tin và nhất là tăng các báo thương mại, giải trí. Điều này không chỉ thể hiện nhu cầu về lĩnh vực này của người đọc tăng lên mà còn liên quan đến hoạt động quảng cáo. Năm 2003, quảng cáo trên báo chí của Trung Quốc đạt mức 13 tỉ USD, tăng 20% so với năm trước đó. Gần 80% khoản tiền quảng cáo này là dành cho các tạp chí phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người đọc. Song song đó, tuy về mặt chính thức, truyền thông vẫn thuộc sở hữu nhà nước nhưng ngày càng có sự hợp tác, đầu tư rộng rãi của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này. Một số tạp chí như Seventeen, Marie Claire, Elle… cũng đã nhảy vào thị trường mới mẻ này. Chính điều này cũng khiến các báo dễ đi “chệch hướng” so với đường lối chung và làm tăng tính thương mại hóa mà xa rời mục đích tuyên truyền.
Vì vậy, trong xu thế hội nhập, mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc một mặt vừa mở rộng thông tin, nới rộng tự do báo chí, mặt khác cũng phải đảm bảo tính định hướng của báo chí. Nhưng xem ra, đây không phải là việc dễ dàng gì!

Thời sự và suy nghĩ

GIỜ NÀO CŨNG NÊN LÀ GIỜ TRÁI ĐẤT!

Giờ trái đất năm nay được công chúng Việt Nam quan tâm nhiệt liệt. Có cái gì mới mẻ, lạ lẫm mà ý nghĩa rất sâu sắc nên mới dễ dàng thu hút nhiều người như vậy.
Bản thân tôi cũng có dự tính sẽ tắt toàn bộ thiết bị điện trong giờ trái đất, cùng gia đình tận hưởng gió trời và ngắm sao trong buổi tối đó. Ngắm sao vốn là thói quen hồi bé của tôi – mà bây giờ, mỗi khi về nông thôn, tôi vẫn nhắc lại thói quen đó. Ngắm sao không phải để xem thiên văn, cũng không tìm xem ngôi sao chiếu mệnh của mình ở đâu mà để cảm nhận được ánh sáng từ muôn vì tinh tú xa xôi, cảm nhận được từng đám mây trôi trên bầu trời cao mà nghĩ đến những gì khoáng đạt, bao la.
Nhiều người đã nói nhiều đến việc họ sẽ làm gì phục vụ cho giờ trái đất, trong giờ trái đất. Xét cho cùng, đó là trách nhiệm của mỗi thành viên trong ngôi nhà chung của hành tinh này, góp phần giữ gìn nó trước khi bị hủy hoại bởi chính con người. Trong đợt vận động giờ trái đất này ít nhiều đã làm tăng nhận thức của người dân đối với việc gìn giữ hành tinh xanh, bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất.
Nhưng mỗi năm chỉ có một giờ trái đất, những giờ còn lại thì sao? Tâm lý của người Việt chúng ta hay chạy theo phong trào. Cái gì mới, cái gì hấp dẫn thì lúc đầu được rất nhiều người hưởng ứng, nhưng qua đợt rồi thì mọi thứ dần trở trầm lắng và đâu lại vào đó. Thậm chí có khi sự việc còn tệ hại hơn trước khi có phong trào nữa.
Vì vậy, những nhà vận động cho giờ trái đất ở Việt Nam xin đừng “đánh trống bỏ dùi” sau ngày 28-3. Xin những ai có lòng với trái đất hãy giữ nguyên tấm lòng đó, trong suốt thời gian còn lại. Xin những ai đã và đang góp sức mình bảo vệ mái nhà chung hãy tiếp tục những việc làm đó trong khả năng của mình.
Vì vậy, mỗi giờ nên là giờ trái đất. Mỗi ngày nên là ngày trái đất. Mỗi tháng nên là tháng trái đất… Có như vậy, trái đất này mới là nơi ở yên lành cho tất cả chúng ta.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009

Tạp bút

NỖI NIỀM CỘNG TÁC VIÊN

Đến nay, tôi đã có hơn 10 năm làm cộng tác viên cho gần 20 tờ báo và tạp chí của Trung ương, thành phố và một số tỉnh. Vài trăm bài viết – là cả một gia tài của một người viết báo không chuyên – nhưng thực ra chẳng là gì cả. Có những mẩu ý kiến nho nhỏ, những mẩu tin vài chục chữ, những tấm ảnh chỉ được cái là “có nội dung”, những bài tham gia diễn đàn… Nói chung là ai cũng có thể viết được như vậy, nếu… chịu viết và xem việc cộng tác các báo là một phương thức kiếm sống!
Dù đối với những bài viết đầu tiên hay những bài viết mới gần đây, sau ngày gửi bài, tôi đều có chung tâm trạng là hồi hộp, hi vọng bài của mình được lên báo. Có khi sau vài năm đọc lại, thấy vấn đề mình nêu ra cũng bình thường, thậm chí là non nớt nhưng ngay lúc được đăng là một niềm hạnh phúc lớn lao. Vài lần, bài viết được đặt bên cạnh bài của những cây bút lớn hoặc có lời khen, lời động viên của bạn bè, niềm vui sướng càng được nhân lên gấp bội.
Đã cộng tác cho gần 20 tờ báo nên tôi cũng cảm nhận được sự “khác nhau” trong “chính sách” đối với cộng tác viên. Tôi nhớ mãi hình ảnh anh Nguyễn Hạnh – Phó TBT Tạp chí Xưa và nay – ân cần mời nước, rồi tặng những tờ báo mới nhất khi tôi có dịp ghé thăm tòa soạn. Dù thi thoảng mới gửi bài cho tạp chí này nhưng tôi vẫn được anh Nguyễn Hạnh đối xử chẳng khác chi là một cây bút thân thuộc. Tôi cũng nhớ nhà báo Hồng Phương – nguyên TBT Tạp chí Nghề báo – mỗi lần nhận được bài đều gọi điện trao đổi, rồi động viên tôi viết tiếp. Có lần ông còn mời tôi dự một cuộc triển lãm ảnh của ông rồi chân tình trò chuyện như là những người đã quen thân! Cố nhà báo Thế Vũ (báo Thanh niên) thì thường “đặt” tôi viết những bài nhàn đàm về vùng đất Nam Bộ với những ký ức, những ray rứt khôn nguôi. Ông đôi lần mời tôi đến nhà chơi nhưng mãi mãi tôi lỗi hẹn…
Tôi cũng cảm nhận được sự trọng thị của một số tờ báo đối với bài viết của cộng tác viên. Tạp chí Tiếp thị và Gia đình thường gửi thư phản hồi rằng tòa soạn đã nhận được bài viết, xin cảm ơn và mong được tiếp tục cộng tác. Tạp chí Xưa và nay và Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì thông báo ngay bài có thể sử dụng hay không và khi vừa có nhuận bút thì tòa soạn đã gọi điện mời đến nhận. Báo Tuổi trẻ tỏ ra “chu đáo” nhất, đối với bài gửi qua e-mail, tòa soạn luôn phản hồi là đã nhận được kèm theo lời cảm ơn. Vào dịp kỷ niệm ngày thành lập báo, cộng tác viên thường nhận được thiệp chúc mừng. Tôi luôn giữ cẩn thận những tấm thiệp ấy, xem như là một “chiến tích” trong cái nghiệp làm cộng tác viên của mình.
Tuy nhiên, cũng có những tờ báo không tạo ra được cảm giác trọng thị ở nơi cộng tác viên. Một lần gửi bài cho một tờ báo tỉnh, tôi gửi kèm theo một bức thư trình bày lý do viết bài của mình (cốt để tòa soạn quan tâm hơn mà quyết định sử dụng bài viết) và nói rõ nếu cần sửa chữa hoặc có vấn đề gì thì xin vui lòng hồi âm. Thế nhưng, sau đó “bặt vô âm tín”, thư không thấy trả lời mà bài cũng không thấy được đăng! Một vài tờ báo khác thường thiếu báo biếu cho tác giả có bài viết nên khi đến nhận nhuật bút phải chờ đợi, thậm chí “năn nỉ” để có được tờ báo có dấu kính biếu đỏ chót! Có lần, đến tòa báo nọ, không tìm được báo biếu, chị phát báo bèn “mượn” tờ báo của phòng lưu trữ có đóng dấu rất đỏ: “Báo không bán”!
Ngay cả việc trả nhuận bút cũng có nhiều điều “kỳ thú”. Nói chung, mức trả nhuận bút của các báo là không đều nhau, có khi chênh lệch nhau đến vài lần cho những bài viết cùng một thể loại, cùng số chữ. Trong khi bình quân khoảng một tuần sau khi ra báo là có nhuận bút thì có tờ báo đến hàng tháng mới có, thậm chí còn có cảnh “quên nhớ” rất ư là phiền phức. Vì vậy, không ít lần tôi đi nhận nhuận bút nhưng phải “muối mặt” như là kẻ đi mượn nợ vậy!
Xét cho cùng, tờ báo không thể thiếu cộng tác viên. Vì phóng viên có “ba đầu sáu tay” đi nữa cũng không thể “bao sân” toàn bộ được. Cộng tác viên là một phần tất yếu của tòa báo. Đổi lại, nhiều người (trong đó có tôi) đã xem việc cộng tác các báo là nguồn sống chủ yếu của mình, không chỉ để có thêm thu nhập mà chính là kích thích tìm tòi, nghiên cứu, nâng cao trình độ, tay nghề. Mối quan hệ này có tính hữu cơ, chặt chẽ với nhau. Vì vậy, một mặt người cộng tác cần “biết thân biết phận” của mình thì tòa soạn cũng nên có sự tôn trọng đối với đội ngũ cộng tác. Những sự động viên tinh thần, những biện pháp khích lệ, xã giao của tòa soạn đối với cộng tác viên không chỉ người viết có thêm trách nhiệm đối với bài viết và tờ báo mình cộng tác mà còn tạo ra một hình ảnh đẹp của tòa soạn đối với cộng tác viên nói riêng và độc giả nói chung. Một cánh thiệp chúc mừng, một món quà mang ý nghĩa tinh thần, một buổi họp mặt… của tòa soạn dành cho cộng tác viên đều có ý nghĩa rất tích cực trong việc xây dựng mối quan hệ giữa hai bên.

Nhân vật

Trương Văn Bền – người đi tiên phong trong việc xây dựng thương hiệu

Trương Văn Bền sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ công ở Chợ Lớn vào năm 1883. Từ bé, ông đã quen với cảnh mua bán tấp nập. Năm 31 tuổi, ông lập một đồn điền cao su nhỏ ở Thủ Đức; sau đó, ông lập công ty khai khẩn ruộng ở Đồng Tháp Mười. Ông cũng hợp tác với Viện nghiên cứu Nông nghiệp Đông Dương trong việc sản xuất mỗi năm khoảng 30 tấn dầu thông và hàng trăm tấn tùng hương… Là người nhạy cảm trong việc thương mại, nhìn xa thấy rộng, ông Bền biết rõ một trong những tiềm năng kinh tế Việt Nam còn bị lãng quên là cây dừa. Từ năm 1918, ông Bền đã lập xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1.500 tấn.
Những năm 1920 – 1930, ở Chợ Lớn chỉ có các lò nấu nhỏ sản xuất xà phòng, giá không đắt nhưng chất lượng kém. Người Sài Gòn ưa chuộng các sản phẩm xà bông thơm nhập khẩu từ Marseille (Pháp) nên hay gọi là “xà bông Mạc-xây”.
Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập tại “Quai de Cambodge” (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi tháng. Tận dụng nguyên liệu có sẵn, ứng dụng kỹ thuật mới, Trương Văn Bền đã đưa ra những sản phẩm chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá cả phải chăng. Thêm vào đó, ông lại rất chú trọng đến việc quảng cáo và khuếch trương thương hiệu. Trên hộp xà bông của hãng là hình một trong những mỹ nhân nức tiếng Sài Gòn lúc bấy giờ là cô Ba. Xà bông cô Ba xuất hiện trên khắp các báo chí với lời kêu gọi: “Dùng xà bông xấu, mục quần áo” và “Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam”. Đặc biệt trong các cuộc triển lãm, gian hàng của công ty luôn tạo ấn tượng cho khách bởi mô hình cục xà bông khổng lồ và giá cả sản phẩm rẻ hơn bình thường đến 25%. Hơn thế, ông còn tìm cách đưa hình ảnh sản phẩm vào khắp các loại hình nghệ thuật được người Việt ưa thích lúc bấy giờ như ca vọng cổ, thơ lục bát…
Nhiều giai thoại kể lại rằng người đàn bà in hình trong cục xà bông thơm và nhãn hiệu đó chính là người vợ thứ của ông Bền. Một nguồn tin đồn khác kể lại “Cô Ba” chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp vào bậc nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ XX. Cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh “Cô Ba”, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Đó là cách mà ngày nay chúng ta gọi là xây dựng hay quảng bá thương hiệu.
Với những bước đi hợp lý, xà bông cô Ba dần đánh bại xà bông Pháp, nhanh chóng được biết tới trên toàn Đông Dương, thậm chí còn xuất sang Hương Cảng, châu Phi…. Trong một bài trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Xuân 1939, ông Bền đã hé lộ cho độc giả thời đó những bí quyết thành công của mình: “Bất cứ việc gì, trước khi làm mình phải biết rõ việc ấy. Người Tây trước khi làm việc gì họ cũng học trước cả. Cho đến một việc đứng bán hàng, ta cho là tầm thường và tưởng ai ai cũng có thể làm được, nhưng đối với họ đó là việc quan trọng, cũng có sách có trường dạy hẳn hoi, dạy từ cách tiếp khách, khoe hàng làm sao cho người khách mua rồi còn trở lại (…). Như tôi đây cơ sở vững vàng rồi mà ngày nào cũng tìm sách, tìm báo đọc thêm (…). Sức khỏe, sự học hỏi, sự bền chí là những điều kiện của sự thành công”.
Với sự ra đời của hãng xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt Nam hãnh diện có được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai.
Trong thương trường, ông Bền có chủ trương riêng để tạo uy tín là phải giữ phẩm chất tốt, bền bỉ. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt, ăn xổi ở thì. Mặc đầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp. Khi máy giặt được phát minh và nhập về Việt nam, ông Bền cũng liền sản xuất loại bột giặt để thích ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, và bột giặt “Việt Nam” của hãng xà bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành hãng xà bông Việt Nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt của Mỹ nhập cảng.
Là một doanh nhân thành đạt và giàu có, Trương Văn Bền chưa bao giờ là một quan lại đúng nghĩa, dù ông có tham gia một số vị trí trong chính quyền thực dân ở Nam Kỳ (chẳng hạn chức vụ Hội đồng Quản hạt từ năm 1918 – 1943 chỉ mang tính tượng trưng). Ngoài ra, Trương Văn Bền tham gia một số tổ chức kinh tế như Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Nam Kỳ 1932 – 1941, Hội viên Hội đồng Canh nông từ 1922, Hội viên Hội đồng Kinh tế lý tài Đông Dương từ 1929, Hội viên Hội đồng Quản trị Thương cảng Sài gòn từ 1924, Hội viên Hội đồng Quản trị lúa gạo Đông Dương, Hội viên Hội đồng sản xuất kỹ nghệ từ năm 1941…
Trong ký sự Một tháng ở Nam Kỳ (năm 1918), nhà báo Phạm Quỳnh có viết: Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp…
Xem ra, cái mong mỏi đó không chỉ là của ông Phạm Quỳnh mà còn của nhiều người Việt Nam khác, không chỉ cách đây gần 100 năm mà ngay cả bây giờ!

Câu chuyện giáo dục

SINH VIÊN NGÀNH BÁO CHÍ:
NÊN HỌC HAY HÀNH?
Trên Nghề báo, từng có ý kiến băn khoăn rằng, sinh viên ngành báo chí nên tập trung học hay là học “cầm chừng” để tập tành viết báo. Có thể thấy đây là một sự băn khoăn chính đáng và cần có lời giải đáp hợp lý từ phía nhà trường.

Các “khuynh hướng” trong sinh viên báo chí
Từng là một sinh viên ngành này, tôi nghĩ rằng, lâu nay, sinh viên báo chí thường có các “khuynh hướng”sau:
Thứ nhất, chuyên tâm học tập trên lớp. Số này có vẻ chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng 30 – 40%. Đây có thể là những sinh viên lấy sự học làm trọng, muốn chú tâm vào lý thuyết cho vững, trước khi trở thành phóng viên thực thụ sau khi ra trường. Họ cũng có thể vì không có người giúp đỡ, định hướng để có thể tập viết hay cộng tác cho tờ báo nào đó, nên không biết bắt đầu từ đâu và như thế nào. Cũng có người không xem việc học báo chí để trở thành phóng viên mà đơn thuần chỉ để có một tấm bằng đại học, sau đó tìm việc gì đó phù hợp với khả năng của mình hơn. Nhóm cuối, ít hơn, đó là những người kém năng động, thậm chí kém siêng năng nên “đến đâu hay đến đó”! Có một điều đáng chú ý là những sinh viên dù đã rất chăm chỉ học tập này nhưng thường có thành tích học tập không thực sự nổi bật. Điều này có thể lý giải rằng, ngành báo chí đòi hỏi chặt chẽ giữa học và hành, nếu học mà không hành thì vốn kiến thức để làm bài thi không thể tốt được. Và đa số sinh viên trong nhóm này khi ra trường thường làm trái nghề.
Thứ hai, vừa đầu tư học lý thuyết nhưng cũng tích cực tập viết báo. Nhóm này cũng khá đông, chiếm khoảng 30% số sinh viên và có vẻ càng về các khóa sau này, tỉ lệ này càng tăng lên. Đây là những sinh viên có tư tưởng xác định nghề nghiệp khá rõ ràng nên có cố gắng cả học lẫn hành, với ý định tạo được một vốn kinh nghiệm viết lách từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Với những sinh viên có sự đầu tư hợp lý, kết quả học tập thường khá tốt và tạo được nền tảng khá tốt sau khi ra trường và tiếp tục theo nghề, mà số này chiếm khá đông.
Thứ ba, chủ yếu dành thời gian cho viết báo. Số này thường chiếm tỉ lệ không nhiều, phổ biến rơi vào những người đã có mối quan hệ gắn bó với các tòa soạn (do quen biết, gửi gắm hoặc qua cộng tác đã tạo được sự tín nhiệm...) hoặc những người ngay từ đầu đã xác định rằng sẽ bám nghề, việc học chẳng qua để có bằng cấp hợp thức hóa mà thôi. Có một số người hầu như chỉ có mặt trên lớp lúc bắt đầu môn, lúc kiểm tra hoặc thi mà thôi. Vì vậy, thành tích học tập thường không cao, cốt cho đủ điểm hết môn. Bù lại, họ đã trở thành những cây bút có chút tên tuổi và có được thu nhập đáng kể, đủ để trang trải việc học hành.
Thứ tư, những người học ngành báo chí cũng như những ngành khác, cốt cho xong đại học và có bằng cấp, thường “bận” kiếm sống. Họ làm nhiều nghề nhưng không phải nghề báo và xuất hiện trên lớp không đều. Tất nhiên những người không thể có thành tích học tập tốt và cũng không thể theo nghề báo.

Nên “học” hay nên “hành”?
Học phải đi đôi với hành, đó là điều không có gì phải bàn cãi. Vấn đề là “tỉ lệ” học và hành như thế nào là hợp lý. Cái hợp lý ở đây không chỉ là nhằm vào việc đảm bảo chương trình học, đảm bảo việc tiếp thu của sinh viên (thường do nhà trường quyết định) mà còn đối với cả từng sinh viên (do bản thân sinh viên quyết định). Đó là, tỉ lệ giờ học lý thuyết và giờ học thực hành (đối với chương trình chung và ở từng môn chuyên ngành) sao cho phù hợp. Hợp lý là để tránh tình trạng dành nhiều thì giờ học nhiều môn tổng hợp mà dành ít hơn cho các môn chuyên ngành, hoặc dành nhiều thời gian nói về lịch sử, cấu trúc... của các môn chuyên ngành mà ít hướng dẫn sinh viên viết thể loại đó ra sao hay dành thời gian để sửa chữa các lỗi của sinh viên trong các bài tập...
Theo chương trình học hiện nay, ngoài các môn ở 3 học kỳ đại cương hầu như không dính dáng gì đến báo chí thì ở các học kỳ còn lại, số môn học tổng hợp cũng được xen với các môn chuyên ngành. Trong khi đó, các môn tổng hợp cũng chỉ cung cấp được kiến thức đại cương và hầu như khó vận dụng được vào hoạt động nghề nghiệp sau này. Chẳng hạn, các môn Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô… (trước đây) gần như giới thiệu sơ lược các vấn đề về kinh tế thường hiểu theo cách truyền thống mà ít tiếp cận với các vấn đề kinh tế hiện đại. Tương tự, các môn Văn học phương Đông, Văn học phương Tây thì nên đưa vào chương trình đại cương và học cùng với các môn Văn minh phương Đông và Văn minh phương Tây.
Bên cạnh đó, việc giảng dạy các môn tổng hợp phải nhằm vào mục đích góp những kiến thức căn bản cho sinh viên khi làm việc sau này. Vì vậy, nội dung cần theo hướng cung cấp kiến thức – tác nghiệp báo chí. Điều đó sẽ giúp cho sinh viên có những kiến thức cần thiết và những định hướng tác nghiệp sau khi ra trường. Chẳng hạn, về kinh tế, bên cạnh các nội dung chủ yếu về chuyên đề, cần nêu ra những vấn đề người phóng viên nên quan tâm và khai thác khi tác nghiệp, những kinh nghiệm khi viết bài về kinh tế… Chính vì vậy, ở nhóm các môn này, nên có ít nhất hai giảng viên, một giảng viên chuyên về kinh tế và một giảng viên là phóng viên kinh tế có kinh nghiệm. Trong quá trình phát triển chung, cần bổ sung những môn mới, chẳng hạn hiện nay nên có môn Thị trường chứng khoán…
Ngoài ra, thời gian cho từng môn học chuyên ngành cũng cần có sự phân bổ cho hợp lý. Chẳng hạn, môn Phóng sự, thì không cần tập trung nhiều về định nghĩa và các giai đoạn phát triển của nền phóng sự nước ta mà nên đi sâu vào các kỹ năng viết một phóng sự, đồng thời có thực hành ngay trên lớp với ít nhất 2 bài về các đề tài tự chọn. Phần cuối môn học này, giảng viên sẽ đọc và phân tích, góp ý từng phóng sự cụ thể để rút ra các bài học kinh nghiệm. Cũng cần tránh tình trạng có giảng viên hay kể chuyện tác nghiệp của mình với tính chất trò chuyện mà ít để lại kinh nghiệm tác nghiệp, làm mất thì giờ của toàn môn. Ở các môn Nghị luận báo chí, Viết tin, Phỏng vấn… cũng tương tự như vậy. Cuối cùng, cũng cần xem lại chương trình học các môn về phát thanh và truyền hình, tránh tình trạng dạy khá sơ sài và học để cho biết hiện nay.

Cần xem lại việc thực tập
Việc thực tập hiện nay chủ yếu thực hiện dưới 3 hình thức: thứ nhất là làm bài tập ngay trên lớp (giảng viên cho đề bài, sinh viên thực hiện, như viết tin theo nội dung cho trước, biên tập bài viết thành tin, tập chụp ảnh, tập quay video...); thứ hai là thực tập dưới các dạng sinh hoạt ngoại khóa (ra bài tập về nhà làm - viết một phóng sự theo chủ đề nào đó, thực hiện bài phỏng vấn theo nhóm nhân vật, gặp gỡ, giao lưu vào tiến hành phỏng vấn các nhân vật do giảng viên mời...); thứ ba là thực tập tại các tòa soạn (thường vào cuối học kỳ VI, trong thời gian 3 tháng và cuối đợt phải nộp một số sản phẩm báo chí kèm bản nhận xét của tòa soạn). Ngoài ra, sinh viên còn có những đợt đi tham quan các tòa soạn, các nhà in để tìm hiểu về quy trình sản xuất, phát hành một tờ báo, hoặc đi tham quan các đơn vị, cơ sở kinh tế và nghe giảng viên hướng dẫn các hướng để khai thác thông tin... Đây nên xem là hoạt động kiến tập bổ ích và nên thực hiện thường xuyên hơn.
Tuy nhiên, cách thực tập “truyền thống” không tạo những điều kiện tốt nhất để sinh viên có thể thực tập và được thực tập trong môi trường tương đối giống nhau. Một sinh viên chủ động tìm được tòa soạn thực tập và ở những tờ báo có diện phát hành rộng, ra nhiều kỳ, thì đó là một lợi thế không nhỏ. Nhưng nếu “bí” thì sinh viên đó sẽ được giới thiệu đến một tòa soạn bất kỳ, kể cả chỉ là một tờ báo, tạp chí ngành, ra hàng nửa tháng hoặc một tháng, coi như cơ hội thể hiện mình trở nên quá nhỏ bé. Đó là chưa kể có những tòa soạn không thực sự mặn mà với sinh viên thực tập vì những lý do tế nhị, nên càng gây cho những sinh viên này nhiều khó khăn hơn.
Vì vậy, trước khi bắt đầu kỳ thực tập, nhà trường nên nghiên cứu kỹ những nơi mà sinh viên sẽ thực tập để xác định từng nhóm, nhóm sinh viên chủ động tìm được nơi thực tập, nhóm sinh viên được trường giới thiệu đến những tòa soạn thuận lợi (báo ra nhiều kỳ, có nhiều mảng viết, có quan hệ tốt với nhà trường…) và nhóm còn lại. Từ đó, có thể có barem đánh giá chất lượng thực tập khác nhau, như ở nhóm 1, tiêu chí đòi hỏi sẽ tương đối cao hơn nhóm 2 và càng cao hơn nhóm 3. Ngoài ra, việc yêu cầu cung cấp sản phẩm báo chí sau 3 tháng thực tập cần đòi hỏi nhiều hơn để sinh viên thực sự phải vận động nhiều hơn. Đó là, thay vì chỉ yêu cầu cung cấp một số sản phẩm (có lúc chỉ cần có 3 sản phẩm, bất kể ở thể loại nào) thì nên yêu cầu cung cấp các sản phẩm theo một số thể loại. Chẳng hạn, nên có 3 tin tức, 1 bài phóng sự (hoặc phóng sự điều tra), 1 bài bình luận (dạng nghị luận, hoặc ý kiến), 1 ảnh báo chí, 1 phỏng vấn… Đồng thời, nên yêu cầu kèm theo một (hoặc một vài) quy trình tác nghiệp thực tế của sinh viên để có được một trong sản phẩm đó (như việc phân công của tòa soạn hay tự chủ động tìm kiếm, phát hiện đề tài, cách tiếp cận, cách khai thác thông tin, cách xử lý thông tin, ý kiến của của ban biên tập hoặc người phụ trách về bản thảo, quá trình được đăng, kinh nghiệm của bản thân…). Đòi hỏi cuối cùng này nhằm hạn chế những bài “viết dùm”, đồng thời nâng cao trách nhiệm của sinh viên trong hoạt động tác nghiệp cũng như chú ý nhiều hơn đến việc tích lũy kinh nghiệm trong quá trình tác nghiệp. Các yêu này cần công khai cho tất cả sinh viên để họ nắm vững và nỗ lực thực hiện.
***
Tóm lại, cần đổi mới phương pháp dạy và học trong ngành báo chí theo hướng tăng cường thực hành và thực tập, đề cao sự năng động, chủ động của sinh viên, thậm chí chấp nhận sự đào thải cần thiết (bởi vì sự đào thải khi ra nghề còn khắc nghiệt hơn nhiều). Cần phải tạo cho sinh viên thấy rằng, học trên lớp là cần thiết, vì nó cung cấp những kiến thức và kinh nghiệm viết căn bản cho nghề nghiệp; nhưng cũng phải thực hành thường xuyên mới có thể nắm vững lý thuyết và tự rút ra kinh nghiệm cho mình. Có như vậy, nhà trường mới kết hợp hài hòa được mục tiêu đào tạo ra cử nhân báo chí nhưng đồng thời cũng tạo nền tảng vững chắc cho một phóng viên tương lai.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2009

Câu chuyện giáo dục

DẠY CHO AI? HỌC CHO AI?

Dư luận đã nhiều lần lên tiếng về nền giáo dục mang tính “đồng phục” hiện nay ở nước ta. Đó là nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục gần như không thay đổi đối với các đối tượng khác nhau, ở các thời điểm khác nhau... Hệ quả là nhiều thế hệ người trưởng thành nhưng không bắt nguồn một cách căn bản từ những gì họ đã học được. Cũng từ đây, xét ở bậc đại học, hiện nay không ít người tốt nghiệp ngành này nhưng làm việc ở ngành khác mà chẳng cần liên quan kiến thức chút nào, hoặc đã tốt nghiệp một ngành nhưng không thể làm được công việc của ngành đó… Bài toán nguồn nhân lực thiếu đáp án cũng từ đây.
Quả thực, bản chất cơ bản của giáo dục là một quá trình học liên tục, học để biết cách giải quyết những vấn đề của cuộc sống: học làm người, học làm việc và học làm dân. Tức là, phải xác định rõ ràng mục đích của giáo dục, dạy cho ai và học cho ai. Dạy, trước hết phải cho bản thân người học được cung cấp những kiến thức cần thiết cho cuộc sống trước mắt và tương lai. Do vậy, với một đứa trẻ miền sông nước học cầm kỳ thi họa đôi khi chẳng được gì mà còn “mất cả cuộc đời” như trong câu chuyện dân gian về một anh chàng tự đắc chữ nghĩa phải chết đuối. Dạy, sau đó giúp người học hoàn thiện quá trình phát triển làm người, để trở thành người không gây hại cho người khác và tiến tới có ích cho xã hội. Dạy, tiếp theo là để tạo ra những người có năng lực, có nhận thức, có ý thức tham gia xây dựng cuộc sống cho bản thân mình, cho gia đình và cho xã hội. Kết hợp đầy đủ các quá trình đó là tạo ra nguồn nhân lực để phục vụ đất nước.
Còn học, trước hết cũng là cho người học, tức là bản thân người học có thể áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn của mình, một cách có ích nhất. Tức là, học vật lý, người học có thể ứng dụng trong việc nâng vật nặng bằng đòn bẩy, bằng con lăn, biết mắc dây điện ở gia đình mình…; học toán thì có thể tính toán được việc mua bán trong nhà, đo đạc được nhà đất của mình… Do đó, học không phải chỉ có lý thuyết, không chỉ thạo lý thuyết mà phải có thực hành và phải thạo thực hành. Học, tiếp theo là để hoàn thiện mình, kết hợp với ý chí, nhận thức của bản thân mà có ý thức và khả năng tham gia xây dựng xã hội, với tư cách là một thành viên của xã hội và có sự tác động qua lại với xã hội.
Thế nhưng hiện nay, phải chăng việc dạy là cho giáo viên, cho tổ chức giáo dục (nhà trường, phòng, sở, bộ), khi mà những mục đích của việc dạy đã không được xem trọng đúng mức, trong khi thành tích lại được đề cao thái quá? Phải chăng, học là cho cha mẹ, cho gia đình, thậm chí cho ai khác ngoài bản thân người học, khi mà khả năng tiếp thu, nhu cầu tiếp thu của người học đã không được quan tâm hợp lý.
Vì vậy, cần có một triết lý giáo dục hợp lý mới có thể có phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục hợp lý. Trong đó, vấn đề dạy cho ai, học cho ai cần phải được nghiên cứu một cách khoa học cho từng đối tượng – lứa tuổi, giới tính, vùng miền, hoàn cảnh kinh tế, thời điểm…

Thời sự và suy nghĩ

GIẢI QUYẾT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG:
THÊM MỘT GÓC NHÌN VỀ MÂU THUẪN LỢI ÍCH

Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường đã bị tạm ngưng hoạt động. Dẫu việc xử lý này tuy có muộn màng nhưng rất cần thiết. Môi trường sống thuộc về tất cả mọi người và mọi người cùng có trách nhiệm gìn giữ nó, đồng thời phải lên án, xử lý những ai xâm hại đến nó.
Trên thực tế, vấn đề môi trường luôn gắn với lợi ích của các nhóm người khác nhau: nhóm thì vì lợi ích của mình mà xâm hại môi trường; nhóm thì bị ảnh hưởng cuộc sống (sức khỏe, việc làm, thu nhập…) vì môi trường bị ô nhiễm… Nhưng chính trong từng nhóm người ấy cũng có những xung đột lợi ích với nhau. Chẳng hạn, Công ty Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải (thực tế không chỉ có Vedan), làm nhiều nông dân sống nhờ nguồn nước sông này bị thiệt hại nặng nề. Một mặt, Vedan (ông chủ Vedan) được lợi vì không phải đầu tư cho việc xử lý nước thải; mặt kia thì người dân chịu thiệt do thất mùa. Ở góc độ khác, ông chủ Vedan có lợi thì công nhân của ông ta cũng ít nhiều được hưởng lợi vì lợi nhuận của công ty nhiều hơn, họ được nhiều ưu đãi hơn; trong số công nhân đó có cả con em của các gia đình nông dân sống nhờ vào sông Thị Vải; đồng thời có cả những người cung cấp nguyên liệu cho Vedan (không chừng trong số này có cả gia đình công nhân và một số nông dân có một phần cuộc sống gắn với sông Thị Vải). Đến khi Vedan bị đình chỉ hoạt động, những người chịu thiệt bao gồm ông chủ Vedan, công nhân và những người cung cấp nguyên liệu cho Vedan. Ai được lợi? Rất khó nói. Vì sông Thị Vải không phải ngày một ngày hai sạch được ngay. Người dân sống nhờ vào dòng sông này cũng chưa phải thu lợi được ngay. Nhưng có thể thấy rằng, kỷ cương được siết chặt, tính thượng tôn pháp luật được xem trọng.
Nói như vậy, không có nghĩa cứ tính cái lợi cụ thể trước mắt mà quyết định tính đúng sai của vấn đề. Điều căn bản là làm sao để giải quyết các mâu thuẫn lợi ích, nhất là giữa những lợi ích cụ thể, rõ ràng với những lợi ích có vẻ mơ hồ và lâu dài. Bởi vậy, khi vụ việc của Vedan (và nhiều công ty khác) xảy ra, dư luận phẫn nộ, đòi phải xử lý nghiêm các kẻ vi phạm, nhiều khi vượt qua các quy định của pháp luật hiện hành. Như vậy, vấn đề là quan điểm xử lý, sâu xa hơn là quan điểm giải quyết mâu thuẫn lợi ích, chứ không phải phải xử lý từng vụ việc cụ thể.
Thực tiễn cho thấy, với những vấn đề mà lợi ích không gắn trực tiếp với mình thì sự quan tâm và tính quyết liệt trong xử lý thường không cao. Ngay cả với những người làm lãnh đạo, quản lý cũng vậy, khi sự việc không trở thành nỗi bức xúc cá nhân hoặc bức xúc của nhóm người mà mình là thành viên trong đó thì mức độ quan tâm ít nhiều giảm đi. Vấn đề bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế trong thời gian qua có một phần từ lý do này: khi phát triển kinh tế, người lãnh vừa được tiếng thơm vừa ít nhiều được hưởng lợi từ sự phát triển đó. Trong khi đó, hậu quả về môi trường xảy đến rất chậm (do đó không thấy trước hoặc không cần thiết phải thấy trước) và trở thành gánh nặng của rất nhiều người chứ không phải chỉ tập trung vào một nhóm người nhất định (nên luôn có sự “san sẻ”).
Chính vì vậy, cần có một quan điểm mới hơn về vấn đề bảo vệ môi trường, đặt trong điều kiện giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích. Trước hết, lợi ích của cộng đồng, của đất nước phải được đặt lên hàng đầu, dù có thể có cân nhắc tính tức thời (trước mắt) hay lâu dài của lợi ích. Để bảo vệ các lợi ích chính đáng thì cần phải có hệ thống pháp luật đầy đủ và chặt chẽ để điều chỉnh các quan hệ về môi trường – bảo vệ môi trường một cách hiệu quả và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến môi trường. Trong đó, cần có quy định cụ thể về yêu cầu bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là khi thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời phải kiện toàn cơ cấu tổ chức các cơ quan về bảo vệ môi trường, để đảm bảo phát huy được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, căn cơ hơn cả vẫn là đẩy mạnh công tác tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân, để mọi người dân đều thấy đó là trách nhiệm của mình và vì lợi ích trực tiếp và trước mắt của mình.