Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2009

Câu chuyện thể thao

NHỮNG NGHỊCH LÝ CỦA THỂ THAO” TP.HCM

TP.HCM có thể coi là một “điểm đến” lý tưởng của rất nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau trong cả nước: người có trình độ thì muốn đến để tìm được công việc tốt, có thu nhập cao, có điều kiện học tập nâng cao, có điều kiện để trau dồi… Người chưa có trình độ thì cũng muốn đến để học tập nâng cao trình độ, cả học trong trường lớp lẫn qua hoạt động thực tiễn, vốn rất phong phú và sinh động. Người chỉ có khả năng lao động giản đơn cũng tìm về thành phố để tìm những công việc chỉ đòi hỏi sức khỏe hoặc không cần vốn nhiều với tâm lý “giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành thị”…
Thế nhưng, trong thể thao, điều đó lại gần như ngược lại. Hiện nay, rất nhiều VĐV tài năng ở nhiều môn đã lần lượt rời TP.HCM để tìm “bến đỗ” mới. Quần vợt, xe đạp, điền kinh, bóng chuyền, thể hình… của thành phố từng có VĐV hàng đầu quốc gia thì hiện nay những VĐV đó đã đầu quân cho các tỉnh thành khác, trong số này có những địa chỉ còn rất “mờ” trên bản đồ thể thao cả nước. Võ thuật, bóng đá nữ… ở thành phố từng là “cái nôi” hình thành và phát triển thì hiện nay cũng chỉ xếp ở những vị trí khiêm tốn, không có nhiều VĐV giỏi như trước. Trong bối cảnh đó, bóng đá thành phố trở nên “điêu tàn” thì cũng là điều dễ hiểu.
So sánh hoạt động thể thao với các hoạt động nghề nghiệp khác giữa TP.HCM và các tỉnh thành khác rõ ràng thấy ngay một nghịch lý. Muốn xóa bỏ nghịch lý này, ngành thể thao cần phải học các ngành nghề khác, với các yêu cầu về: chế độ đào tạo, chế độ đãi ngộ, khả năng phát triển, sự chăm lo sau khi thôi thi đấu… Nếu tất cả những yêu cầu này chỉ cần có tiền thì rõ ràng TP.HCM không thiếu nhưng cái thiếu lại là cách quản lý, khả năng quản lý. Ở đây, dường như không phải vấn đề “cơ chế” (chủ trương, chính sách) mà chính là cái tâm và cái tầm của đội ngũ cán bộ của ngành.
Bên cạnh đó, ở TP.HCM có nhiều cá nhân có đủ điều kiện kinh tế để đầu tư cho con em họ phát triển tài năng thể thao. Trường hợp của Nguyễn Hoàng Thiên (quần vợt) hay Nguyễn Tiến Minh (cầu lông) có thể thấy rất rõ. Vậy phải chăng lãnh đạo ngành thể thao thành phố không biết cách kết hợp khả năng “nhà nước và nhân dân cùng làm” để phát triển thể thao thành phố?
Ngoài ra, còn có một nghịch lý nữa, trong khi thể thao phong trào ở thành phố phát triển rất mạnh thì thể thao thành tích cao lại khá khiêm tốn (nhất là so với tiềm năng kinh tế và thể thao phong trào). Phải chăng ngành thể thao thành phố chưa biết cách phát huy thế mạnh của thể thao phong trào vào thể thao thành tích cao?Để xóa bỏ được những nghịch lý đó, ngành thể thao thành phố nên mạnh dạn cải tổ, “xóa làm lại” như nhiều người nói. Trước hết, phải cải tổ từ bộ máy quản lý, sau đó đến mô hình hoạt động, cách thức tổ chức. Ta phải chấp nhận có thể trong vài năm tới, thể thao thành phố chịu lép vế nhưng sẽ với hướng đi đúng, thành phố sẽ trở lại “vàng son” như trước kia!

Thời sự và suy nghĩ

CHẠY THEO BẰNG CẤP SAO GỌI LÀ “VẤN NẠN”?

Nói gì thì nói, trong xã hội ta hiện nay, bằng cấp vẫn là một thang giá trị để đánh giá trình độ học vấn, qua đó phản ánh năng lực, là một tiêu chí để tìm việc làm. Có mấy người tự giới thiệu mình có khả năng này khác rồi được nhận vào làm việc mà không cần xem xét đến bằng cấp? Hay có mấy người chấp nhận tốn tiền đi học để cho biết mà không cần lấy bằng?... Nói vậy để thấy rằng bằng cấp là một phần của cuộc sống, là một trong những mục tiêu quan trọng mà mỗi người – nhất là thanh niên – luôn hướng tới. Tức là, bằng cấp là mục tiêu của mỗi cá nhân mà cũng là yêu cầu của xã hội – cụ thể là của người sử dụng lao động.
Vì vậy, phải phân biệt bằng cấp thông qua con đường học vấn nghiêm túc với việc chạy theo bằng cấp bằng mọi giá. Không ít người phản nhà, cầm ruộng, bản thân đi làm thuê để cho con em đi học, nếu không lấy được bằng cấp thì không thể coi là đạt được mục đích. Một số người khác trong lúc đi học còn phải làm việc vất vả, cũng chỉ mong cuối cùng lấy được tấm bằng để tìm được công việc tốt hơn, có thu nhập cao hơn. Như vậy cả bản thân người học và phụ huynh của họ đều phải nỗ lực, phấn đấu, để đạt được kết quả tích cực trong học tập, thể hiện qua tấm bằng.
Ngược lại, ta phải phê phán, lên án những người không học có được tấm bằng mà không học tập nghiêm túc. Họ dùng tiền thuê người đi học, thuê người làm luận văn, luận án, để “chung chi” cho một số giáo viên làm ngơ “cho qua”; họ dùng quyền lực để tạo áp lực cho giáo viên, cho nhà trường mà lấy điểm; họ lợi dụng tâm lý “thôi kệ” của một số cá nhân trong ngành giáo dục để đi từng bước một rồi lấy tấm bằng mà không cần nỗ lực học tập thực sự… Những người này có bằng thật nhưng học giả. Thậm chí có người còn dùng tiền mua bằng giả.
Thật khó có lý do để bảo rằng chạy theo bằng cấp là “vấn nạn”. Những người chạy tìm tấm bằng nhưng qua nỗ lực học tập thì nên động viên, khuyến khích học. Chỉ những người chạy theo bằng cấp mà không qua học hành nghiêm túc mới đáng bị lên án; hành vi đó mới đáng coi là vấn nạn.
Cũng phải nói thêm rằng, nỗ lực học tập để có tấm bằng thì không nên quan trọng đó là bằng gì, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… Tuỳ theo năng lực và điều kiện của từng người, từng lúc mà phấn đấu lấy tấm bằng cho phù hợp. Người có năng lực vừa phải, điều kiện gia đình khó khăn thì nên tập trung lấy tấm bằng nghề để nhanh đi làm, có thu nhập trang trải cuộc sống, nếu lại cố lấy cho được bằng đại học thì mới là không nên. Cũng như vậy, người đã có bằng đại học, đã đi làm nhưng muốn tranh chức quyền, cố “chạy” để được học cao hơn vừa tốn tiền bạc của nhà nước mà còn làm nội bộ cơ quan bất ổn, thì rõ là không nên…Tóm lại, bằng cấp là một trong những thước đo học vấn. Có bằng cấp mà có học vấn thực chất thì nên xem là điều tích cực, không chỉ cho cá nhân đó mà còn cho xã hội. Còn ngược lại, có bằng mà không thông qua học hành nghiêm túc thì chỉ tạo ra giá trị học vấn ảo, sẽ gây tác hại không chỉ cho bản thân mà cho cả xã hội.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

Bài thơ thứ 18

TIẾNG ĐÀN GUITAR
Tặng chàng Quasimodo trên CXQ


Em nhớ những tiếng guitar thuở nhỏ
Tích tịch tình tang như trong chuyện Thạch Sanh
Trong veo như những giọt sương lành
Của các chú, các anh quây quần bên bếp lửa.

Em nhớ những tiếng guitar lọt qua khe cửa
Nỉ non như tiếng đàn tìm chồng của nàng Thoại Khanh
Tưởng máu bật ngón tay mỏng mảnh sợi chỉ mành
Của người hành khất bước lần theo năm tháng.

Em nhớ tiếng guitar những chiều lãng đãng
Khi xa nhà, nỗi nhớ cứ nôn nao
Thương đời bình yên giữa phố thị ồn ào
Mỗi phím tưởng lời quê đương trách móc.

Em đã nghe bao tiếng guitar như tiếng ngọc
Của những danh cầm trên khắp thế gian
Những ngón tay làm xiếc với dây đàn
Muôn giai điệu ngất ngây, say đắm.

Em chưa từng biết tiếng đàn của những nàng Digan lạ lẫm
Điều chi lạ kỳ cuốn hút chàng Quasimodo?
Trong phút thăng hoa chàng sừng sững một anh hào
Tấm lưng gù giờ đâu còn là mặc cảm…

Tiếng guitar vẫn vọng từ nơi xa lắm
Tiếng đàn của anh, em vẫn chỉ tưởng tượng mà thôi
Vẫn tươi non như lộc mới đâm chồi
Vẫn mãnh liệt như chàng gù kéo chuông trong tiểu thuyết.

Bởi em yêu tiếng đàn bất diệt
Những cung thương cung nhớ của muôn đời
Bởi sau lệ buồn sẽ đến tiếng cười tươi
Bởi sự sống không bao giờ kết thúc.

Tiếng guitar, tiếng đàn em yêu thứ nhất
Yêu muôn người, trong đó có cả anh!
19 và 22-8-2009

Thời sự và suy nghĩ

KHÔNG ĐỌC – CHÉP THÌ LÀM GÌ?

Bộ Giáo dục – Đào tạo chủ trương ngay từ năm học 2009 – 2010 sẽ không còn việc đọc - chép. Chủ trương này ngay lập tức được sự hưởng ứng, đồng tình của dư luận, trong đó có học sinh. Không phải ai cũng kỳ vọng rằng đây sẽ biện pháp mang tính đột phá trong việc nâng chất lượng dạy và học nhưng đều nhất trí rằng việc hạn chế đọc – chép sẽ mở đầu cho một thời kỳ cải tiến chất lượng giáo dục một cách sâu rộng. Thế nhưng, qua báo chí, dường như chủ trương này chưa thấy có sự đồng tình hưởng ứng của các giáo viên – nhân vật chính của nội dung cải tiến này – và cũng không thấy ngành giáo dục có kế hoạch từ bỏ đọc – chép thì sẽ giảng dạy ra sao. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần quan trọng để một chủ trương tồn tại và phát huy được tính tích cực trong thực tế.
Trước hết, phải nói rằng mãi đến gần bắt đầu năm học mới, Bộ mới triển khai chủ trương bỏ đọc – chép là khá muộn. Lẽ ra nên bắt đầu từ năm học trước, hoặc triển khai từ bây giờ nhưng đến năm học sau nữa mới chính thức thực hiện, để giáo viên và học sinh có thời gian chuẩn bị, ít nhất về mặt tâm lý. Bởi vì đọc – chép thực chất là một biểu hiện của một phương pháp giảng dạy (biểu hiện này phản ánh cơ bản đúng bản chất). Biểu hiện này phản ánh một cách dạy chay – học chay, không phát huy tính độc lập suy nghĩ của cả giáo viên lẫn học sinh, lấy việc chép đầy đủ và thuộc bài (thuộc lòng) của học sinh làm trọng, không đề cao sự đổi mới cách thức truyền đạt của giáo viên, cũng không phát huy tính chủ động tìm tòi, khám phá của học sinh… Nói vậy để thấy phương pháp giảng dạy này dường như đã “thâm căn cố đế”, tức ăn sâu vào suy nghĩ của cá giáo viên lẫn học sinh, từ đó hình thành một lối tư duy thụ động, một thói quen chờ cái có sẵn. Cho nên không thể ngày một ngày hai mà thay đổi được.
Bây giờ nếu bỏ đọc – chép thì giáo viên sẽ dạy như thế nào? Điều này đòi hỏi mỗi trường học phải có một cơ sở vật chất và hệ thống đồ dùng dạy học đáp ứng được việc trình bày bài giảng của giáo viên mà không cần đọc chép. Đó là trường phải có phòng thí nghiệm, có phương tiện, dụng cụ để thực nghiệm, thực hành, có các điều kiện truyền đạt bổ trợ (như xem phim/kịch, tổ chức biểu diễn văn nghệ…). Thí dụ: khi học về địa lý các châu lục, thay vì thao thao đọc rằng châu Mỹ nằm ở đâu, có bao nhiêu quốc gia, đặc điểm tự nhiên, dân số, xã hội, thể chế chính trị… thì học sinh cần được xem một số phim tư liệu, trong đó có đủ các thông số theo yêu cầu nhưng buộc học sinh phải theo dõi và tự ghi chép; học sinh cũng nên được xem các loại bản đồ, để biết đặc điểm khí hậu, vị trí địa lý, tình hình kinh tế của các nước… Nâng cao một chút thì hướng dẫn các em tìm hiểu (thông qua sách báo, truyền hình và nhất là internet) rồi trình bày, thảo luận trước lớp, giáo viên chỉ là người “chốt lại” các vấn đề đúng, sửa chữa những thiết sót, nhầ lẫn… Có như vậy các em học mới thấy có hứng thú trong học tập và bài học mới được hiểu đầy đủ và sâu sắc, đồng thời thấy được vai trò chủ động và tích cực của mình trong buổi học.
Còn như hiện nay, trong điều kiện nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp giảng dạy còn chưa đồng đều, điều kiện dạy và học còn thiếu thốn, sẽ thật khó để hạn chế được đọc – chép. Có chăng, sẽ có những biến tướng; chẳng hạn, thay vì đọc – chép như trước đây thì giáo viên có thể “chỉ” cho học sinh chép ngay trong sách giáo khoa những đoạn quan trọng… Như vậy có thể sẽ từ dạng đọc – chép này biến sang dạng đọc – chép khác, chứ chưa thể thực hiện được theo yêu cầu của Bộ Giáo dục - Đào tạo, cũng như sự trông đợi của xã hội.
Nói vậy cũng để thông cảm rằng một chủ trương mới không thể có ngay chuyển biến và kết quả tích cực trong năm đầu thực hiện. Nhưng cũng từ đó phải tiếp tục chuẩn bị, rút kinh nghiệm cho những năm tiếp theo. Bởi vì đây là một chủ trương dài hơi, nằm trong một loạt những cải tiến khác mang tính đồng bộ và bổ trợ cho nhau. Vì vậy, nếu không có một khởi đầu tốt ở một khâu thì sẽ không có tiền đề tốt cho những năm sau và các khâu khát cũng không thể phát huy tích cực được.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

Tạp bút

Khi người ta trẻ
CÀNG LỚN TÔI THẤY MÌNH CÀNG… VÔ DỤNG!

Hồi ở tuổi thiếu niên, tôi hay tự nhận mình là người vừa có… tài vừa có chí. Tôi có ý nghĩ đó vì xuất phát từ thực tế của bản thân mình. Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc tầng lớp bình dân. May mắn là được song thân cho ăn học, tôi lại chịu khó, chăm chỉ nên học tương đối khá. Tôi thích đọc sách, hay chiêm nghiệm nên hiểu biết hơn nhiều bạn bè. Không chỉ vậy, sớm lăn lộn cuộc sống nên tôi ít nhiều có vốn sống thực tế. Kể ra, so với chúng bạn cùng lứa, tôi thuộc dạng từng trải, hiểu biết. Vì vậy, tôi cũng có được sự nể trọng nhất định của bạn bè. Thành ra, tôi tự hào nhận rằng mình có cả tài lẫn chí!
Đến tuổi thanh niên, vào đại học, tôi vẫn giữ được nhiều nếp cũ: siêng năng, chăm chỉ, chịu khó, lăn lộn… Tôi là một trong những sinh viên học tốt (nhiều năm sau vẫn được bạn bè nhớ đến là một người học giỏi!); đến kỳ thực tập thì thể hiện được là một người “hành” tốt. Nhưng va chạm nhiều, va vấp cũng không ít, tôi cũng nhiều lần nếm mùi thất vọng, thất bại. Tôi không dám nhận mình tài giỏi nữa mà chỉ cho rằng mình có chí mà thôi. Vì, so với nhiều bạn bè có điều kiện hơn, tôi vẫn có những mặt trội nhất định, do sự cố gắng mà nên.
Ra trường, tôi lăn lộn nhiều, gặp không ít lần thất bại. Có những trở ngại tôi không thể vượt qua được, dù vẫn luôn cố gắng. Chỉ sau vài năm, tôi trở nên tụt hậu so với bạn bè, cả sự thăng tiến lẫn đời sống kinh tế. Cái mác sinh viên giỏi trở nên cái danh hão vì nó gần như không đem lại ích lợi thiết thực nhiều. Tôi cay đắng nhận ra rằng mình thiếu cả tài lẫn chí, vì đã có những thách thức tôi không vượt qua được do không đủ bản lĩnh, thiếu kiên nhẫn. Thậm chí, đọc lại nhật ký, nhiều khi thấy những ý tưởng hồi còn trẻ không kém phần độc đáo, táo bạo mà đến lúc đó tôi vẫn thấy mới mẻ, vẫn không thể vượt qua được. Tức là tôi đã tụt lùi rồi còn gì!
Tôi cũng tự lý giải, có phải mình kém đi không? Có thể lắm chứ! Nhưng nghĩ kỹ, có lẽ tôi đã dần vượt qua được chính mình. Ngày còn trẻ, mang tư tưởng “ếch ngồi đáy giếng”, thấy bầu trời chỉ là cái vòm nhỏ của miệng giếng, mà tưởng rằng bầu trời chỉ có thế. Lớn thêm một chút, ra cái ao thì bầu trời cũng chỉ là bầu trời của cái ao. Lớn hơn, ra sông, ra bể, bầu trời lại càng lớn hơn. Thành ra mình tự thấy ngày càng nhỏ bé, thấp kém, tầm thường.
Ai đó đã nói: càng học thấy mình dốt, có vẻ không sai. Cái học đó nên hiểu là sự từng trải, lăn lộn, chiêm nghiệm, tức là học cả trường lớp, sách vở lẫn từ cuộc sống. Người càng có tuổi thì học càng nhiều, âu cũng là điều bình thường, vì dù muốn hay không, mỗi người đều có sự tích luỹ vốn sống một cách tự nhiên bằng chính sự trải nghiệm của mình.
Tôi kể lại “quá trình nhận thức” của mình, một chị bạn tôi bảo: càng thấy dốt tức là đã học được thêm nhiều điều rồi đó! Chị nói thêm, không phải ai càng có tuổi cũng thấy mình kém đi đâu, như ông bà đã nói: “trứng mà đòi khôn hơn vịt”! Hóa ra, có không ít người đã tự cho mình đã đến “đỉnh” của sự hiểu biết, không cần thiết học thêm nữa và cũng không chấp nhận (một số) người khác giỏi hơn mình.
Nghe chị nói, tôi cũng có chút “an ủi”: tôi còn trẻ mà đã tự thấy mình còn nhiều hạn chế và mong muốn cải thiện những hạn chế đó, hi vọng ngày càng vượt ra biển lớn hơn, để thấy bầu trời rộng lớn hơn. Khi đó, dẫu thấy mình càng bé nhỏ nhưng có thêm sự trải nghiệm, tức là tự mình đã vượt qua chính mình, mà không giẫm chân tại chỗ!

Thời sự và suy nghĩ

ĐỪNG ĐỂ RA ĐƯỜNG LÀ BỊ “THẬP DIỆN MAI PHỤC”!

Hiện TP.HCM nói riêng và nhiều địa phương trong cả nước đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề an toàn giao thông. Trong thực tế, có người ví von khi ra đường là bị “thập diện mai phục”, tức là sự mất an toàn có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi. Xe trong hẻm băng ra, xe đi ngược chiều, xe đi bên trái chiều lưu thông, xe bất ngờ rẽ, xe bị hư hỏng giữa đường; người đi bộ dưới lòng đường, người qua đường không quan sát, người đi bộ vượt qua dãi phân cách… Ngoài ra, còn tình trạng đường hư hỏng hay bị ngập nước, cây đổ vào lúc trời mưa giông… Chính những điều đó, rất nhiều người cho rằng không thể đoán trước rằng mình bị va quẹt hay bị tai nạn vào lúc nào, chỉ khi về đến nhà mới “tương đối” an toàn! Điều đó đáng buồn thay lại tồn tại dai dẳng trong nhiều năm qua và với nguy cơ ngày càng nghiêm trọng hơn.
Nguyên nhân của tình trạng này có thể kể: Thứ nhất, sự quy hoạch mang tính chiến lược về vấn đề giao thông chưa được thực hiện tốt. Các cơ quan chức năng không “lường” trước được rằng trong 5 – 10 năm tới, số xe là bao nhiêu, diện tích đường là bao nhiêu, số dân là bao nhiêu, để từ đó có biện pháp quản lý cho phù hợp. Thứ hai, hệ thống hạ tầng giao thông liên tục bị xuống cấp mà không được nâng cấp, sửa chữa kịp thời. Tình trạng nâng cấp theo kiểu “cuốn chiếu” nên nhiều khu vực thường xuyên có đường bị hư hỏng vì “sửa trước hư sau”! Thứ ba, công tác quản lý và xử lý về giao thông chưa khoa học và theo kịp sự tăng lên của phương tiện lưu thông mà mật độ lưu thông. Chẳng hạn, các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn giao thông nhiều khi sớm lỗi thời; công cụ, phương tiện, nhân lực để thực hiện biện pháp cưỡng chế người vi phạm lại quá thiếu thốn… Thứ ba, ý thức tuân thủ các quy tắc đi đường của người tham gia giao thông kém. Mặc dù trình độ dân trí, mức sống ngày càng tăng cao nhưng thái độ tôn trọng luật đi đường dường như không được cải thiện đúng mức.
Vấn đề an toàn giao thông nên được hiểu là an toàn và thuận tiện trong giao thông, phải đảm bảo không xảy ra tai nạn nhưng cũng đảm bảo việc đi lại được nhanh chóng và thuận tiện. Ngành giao thông cấp quốc gia cần có biện pháp kéo giảm tai nạn giao thông bằng các chiến lược phát triển mạng lưới đường sá và hệ thống giao thông công cộng. Ngoài ra, ngành công chính cần giảm thiểu các tai nạn liên quan đến đường phố như đường sá hư hỏng, ngập nước, cây đổ…
Việc đảm bảo an toàn giao thông cần được xác định là một chiến lược mang tính lâu dài, cần phải được thực hiện kiên trì, quyết liệt trong thời gian dài, với sự tham gia của tất cả các ngành, các giới và tất cả người dân. Phải tuyệt đối tránh tư tưởng “đánh trống bỏ dùi”, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” mà phải đồng bộ. Đừng để những người chết vì tai nạn giao thông là hi sinh vô ích. Chính đó là sự cảnh cáo hết sức mạnh mẽ và quyết liệt để toàn xã hội phải nâng cao ý thức giữ gìn an toàn, không chỉ cho mình mà còn cho gia đình, cho cộng đồng, cho đất nước.

Thời sự và suy nghĩ

DẠY LỊCH SỬ PHẢI CHO THUYẾT PHỤC!

Gần đây, dư luận quan tâm về việc “phản biện” đối với một chi tiết lịch sử(1). Đó là ý kiến phản bác lại quan điểm trong một số tài liệu cho rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống quân đô hộ nhà Đường (năm 722) có nguyên nhân trực tiếp từ việc vua Đường Minh Hoàng bắt ép người dân Châu Hoan (Nghệ An) gánh quả vải (lệ chi) sang Trường An dâng cho Dương Quý phi. Sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam lớp 6 do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành (4-2002), của các tác giả Phan Ngọc Liên (tổng chủ biên), Trương Hữu Quýnh (chủ biên) Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Sĩ Quế. Ở bài 23, nhan đề Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỷ VIII – IX, có đoạn viết: "… Hàng năm, nhân dân ta phải cống nạp những sản vật quý hiếm như ngọc trai, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, vàng, bạc… Đặc biệt, cứ đến mùa vải, nhân dân An Nam phải thay nhau gánh vải (quả) sang Trung Quốc nộp cống" (trang 63). Cuối mục "Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)", các tác giả viết: "Khoảng cuối những năm 10 của thế kỷ VIII, nhân phải tham gia đoàn người gánh vải (quả) nộp cống, Mai Thúc Loan đã kêu gọi những người dân phu bỏ về quê, mộ binh nổi dậy”. Nội dung này lâu nay vẫn được dạy trong chương trình lịch sử phổ thông các lớp, dù có thể có chi tiết khác nhau. Ý kiến phản biện cho rằng quả vải ở Nghệ An không phải là giống vải ngon để có thể tiến cho vua chúa. Hơn nữa, nếu có được tiến cống thì từ Nghệ An đến Trường An xa những 4.000 km, quả vải không thể nào còn ăn được. Ngoài ra, theo tài liệu lịch sử, Dương Quý Phi sinh năm 719, khi Mai Thúc Loan khởi binh, nàng mới… 3 tuổi(2). Rõ ràng một chi tiết “hớ hênh” như thế vẫn được dạy qua hàng nhiều năm, xem như là một sự thực lịch sử.
Không chỉ vậy, chuyện về vua Lê Ngọa Triều cũng còn nhiều điểm nghi vấn. Lâu nay, sách sử - kể cả trong Đại Việt sử ký toàn thư (trong bộ sử này, chi tiết cống quả vải không được ghi nhận) – thường cho rằng Lê Long Đĩnh giết anh đoạt ngôi, là một hôn quân, lấy trò róc mía trên đầu nhà sư, giả lỡ tay làm chảy máu để làm trò vui; lấy việc giết thịt mèo mà giả làm thịt hổ để đãi quần thần làm trò tiêu khiển; lấy việc cột tù nhân vào mạn thuyền cho rắn độc cắn hay cột tử tù vào cột đồng rồi đốt lửa cho người tù chết dần dần làm hình phạt… Sử cũng cho rằng Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được nên khi thượng triều phải nằm nên gọi là Ngọa Triều... Thế nhưng sử cũng ghi lại rằng vị vua này thường thân chinh đánh giặc. Thành ra có nhiều nghi vấn, chẳng hạn vị vua này có thực sự giết anh đoạt ngôi hay không, một vị vua có sự quan tâm đến kinh Phật, đến sách vở lễ giáo thì có phải là hôn quân hay không, một vị vua bị bệnh trĩ phải “ngọa triều” thì có thể cầm quân đánh trận không… Phải chăng vì sự “đóng đinh” của Đại Việt sử ký toàn thư từ hơn 500 năm qua mà các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay không tiếc gì mà không bồi thêm những “chiếc đinh” khác?
Còn cách đây trên 20 năm, trong sách giáo khoa lịch sử, khi đề cao Bình Tây đại nguyên soái Trương Định, người ta đã “đặt” ra tội bán nước đối với Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp qua câu nói “vu vơ”: “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”… Cũng định kiến đó (với nhà Nguyễn nói chung), những nhân vật như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, đặc biệt là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, đã không được đánh giá đúng mực. Tiếc thay, những định kiến này tồn tại khá lâu, được thể hiện trong nhiều tài liệu, được dạy trong nhà trường nhiều năm nên ít nhiều làm lệch lạc suy nghĩ của không ít thế hệ người đọc, người học.
Lâu nay, nhiều người cho rằng chương trình giáo dục lịch sử trong nhà trường không hấp dẫn được học sinh. Đó là một trong những lý do khiến kiến thức về lịch sử của một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông không tốt. Điều đó đúng nhưng cũng cần nhắc đến nội dung giảng dạy của môn lịch sử. Nếu nói đến chương trình là nói đến số tiết (thời lượng), lượng kiến thức, cách truyền đạt, cách kiểm tra đánh giá… của môn học thì nội dung của môn học xác định học sinh học những vấn đề gì, cách đặt vấn đề ra sao, chi tiết cụ thể như thế nào trong môn học đó. Ngoài ra, cách giảng dạy mà ít gợi mở cho học sinh suy nghĩ, không tạo điều kiện để học sinh được phản biện những nội dung đã truyền đạt thì rõ ràng không kích thích tính sáng tạo và tinh thần tự tìm hiểu của học sinh.
Nhiều người đã nhắc đến cách đặt vấn đề “một chiều” trong nội dung của môn lịch sử. Đó là kiểu rao giảng “địch xấu ta tốt”, “cuối triều đại, nhà… thối nát, khởi nghĩa nông dân nổi lên ở nhiều nơi”, “chế độ phong kiến phản động” hoặc ở những chỗ khó lý giải thì thường dùng từ “do hoàn cảnh lịch sử” (vậy hoàn cảnh đó là hoàn cảnh gì?)… Với cách dạy đó, học sinh không thấy những anh hùng dân tộc có chút tì vết gì; một kẻ phản bội Tổ quốc thì hoàn toàn xấu xa; một chế độ có nhiều sai lầm không có chút đóng góp gì cho đất nước… Mà học lịch sử đâu phải chỉ học những cái hay, cái tốt? Hơn nữa, trên thực tế, đâu có chuyện gì rạch ròi để có thể xác định thẳng thừng rằng A là A, B là B? Sự đan xen các mặt vốn là một biểu hiện của sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Vậy tại sao không gợi mở để học sinh suy nghĩ, tự rút ra bài học cho mình, thay vì áp đặt, gò ép?
Tính thuyết phục trở thành yêu cầu quan trọng trong giáo dục lịch sử. Học sinh học lịch sử không phải chỉ để biết ai đã làm gì vào thời gian nào, kết quả ra sao, hay để các em yêu hoặc ghét ai mà quan trọng hơn là qua đó các em học tập được điều gì cho bản thân và gợi mở cho các em suy nghĩ để sống có ích cho đất nước. Học sinh học lịch sử để các em thêm có tình yêu với Tổ quốc, có thêm trách nhiệm với đất nước, để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thêm những thành viên mới cùng chung tay góp sức.
Vì vậy, bên cạnh cải tiến chương trình thì một số nội dung và cách đặt vấn đề đối với các nội dung đó cũng cần thiết được quan tâm nhiều hơn. Bài học trong môn lịch sử phải viết cho chính xác, phải được nhìn bằng con mắt khách quan, khoa học, không có định kiến. Những chi tiết, sự kiện nào trước đây chưa nói rõ hoặc nói chưa đúng thì nay nên cần thiết “nói lại” cho đúng, cho rõ. Những điểm nghi vấn thì cứ mạnh dạn nêu lên để cho học sinh suy nghĩ thay vì bỏ qua hoặc suy diễn theo ý kiến chủ quan của ai đó. Do đó, tư tưởng “yêu nên tốt ghét nên xấu” phải được loại bỏ; công phải được ca ngợi, tội phải được phê phán, không được lập lờ, lấp lửng.
Xét cho cùng, khi xem sách giáo khoa là pháp lệnh thì pháp lệnh ấy phải được lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội, nhất là các nhà nghiên cứu và những người làm công tác giáo dục. Với sách giáo khoa môn lịch sử, điều đó lại càng cần hơn!
(1) Xem thêm tại http://www.viet-studies.info/LeManhChien_MaiThucLoan.htm
(2) Xem thêm tại http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_Qu%C3%BD_Phi

Bài thơ thứ 17

VỀ QUÊ

Về quê
Mặc áo rách, đi dép đứt
Làm nông dân mẫu mực
Mồ hôi in dấu cần lao.

Về quê
Nghe gió lao xao
Những cuộc đời gian khó
Đời nông dân thật khổ
“Được mùa mất giá” điệp khúc triền miên
Hết chặt lại trồng cũng lắm ưu phiền.

Về quê
Đêm ngủ nghe tiếng chó sủa ma
Nhớ kỷ niệm một thời ấu thơ
Đời bình dị
Hoa bưởi nồng nàn đong đầy ý nghĩ
Một tiếng gà cũng quá đỗi thân thương.

Về quê
Người quê hiền hòa sao bao đời vất vả
Đất quê mỡ màu sao chưa trù phú
Đâu thiếu những bàn tay
Đâu thiếu những ý tưởng hay
Hay thiếu những tấm lòng?

Về quê
Ta làm nông dân vài bữa
Bao trăn trở, nhiều nghĩ suy chất chứa
Tay cũng kịp chai
Da vừa kịp nám nổi đồi mồi
Nhưng ta vẫn chưa biết làm một nông dân thực thụ.

Về quê
Ta vẫn đứng bên lề nhòm ngó
Vài bữa nắng mưa chỉ như cơn gió
Biết nhưng chưa hiểu sâu
Chưa bắc được nhịp cầu
Để giúp nông dân vơi khó.


Về quê
Ta thêm yêu quê
Thêm yêu những đời cần lao
Gửi lại một tấm lòng sâu sắc
Và tình yêu bền chặt
Với quê hương.

Về quê
Ta sẽ còn về quê…
1-5-08 và 8-7-09

Thời sự và suy nghĩ

Từ cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”:
BẢN THÂN DOANH NGHIỆP PHẢI CHỦ ĐỘNG

Chủ trương vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng trong nước không phải là mới, nếu so với Hàn Quốc hay Đài Loan…, những nơi đã từng đưa ra cuộc vận động này ngay trong giai đoạn đầu của quá trình cất cánh nền kinh tế (thập niên 1960). Chính chủ trương này đã tạo tiền đề quan trọng để tăng tích luỹ, tạo nên nguồn lực to lớn, đồng thời thêm điều kiện xây dựng ý thức tiết kiệm, ý thức dân tộc trước khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ. Đây cũng mô hình chung của nhóm các “con rồng châu Á” và một số nước đang phát triển khác.
Ở Việt Nam, với những ràng buộc khi tham gia WTO, một sự khuyến khích như thế cũng là rất cần thiết và có thể mang lại những ý nghĩa thực tiễn, nếu kèm theo những điều kiện khác. Chẳng hạn, hành lang pháp lý minh bạch để có sự cạnh tranh bình đẳng, ý thức dân tộc của người tiêu dùng… Và nhất là phải có sự chủ động của bản thân các doanh nghiệp.
Thứ nhất, các doanh nghiệp phải thay đổi quan niệm sản xuất, kinh doanh từ chỗ ít nhiều có tính “ăn xổi ở thì” sang làm ăn có căn cơ. Thay vì quan tâm nhiều những khoản lợi trước mắt, doanh nghiệp cần có những chiến lược phát triển mang tính bền vững. Đặc biệt, doanh nghiệp nên có tư duy “lượm bạc cắc” thay vì chỉ chăm chăm “hốt bạc lớn”, tức là chấp nhận thu ít lãi khi đầu tư, mở rộng địa bàn về vùng nông thôn, miền núi chứ không phải chỉ quan tâm cho xuất khẩu… Đó là cách vừa chiếm lĩnh thị trường trong nước vừa tạo “căn cứ” trong lòng người dân.
Thứ hai, các doanh nghiệp phải nắm vững các quy định của pháp luật cả trong sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh. Có nắm chắc khung pháp lý thì mới vừa không vi phạm pháp luật, vừa đảm bảo các tiêu chuẩn, yêu cầu về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, vừa có thể tận dụng được những chính sách hỗ trợ của nhà nước về thuế, hỗ trợ vốn… Đồng thời, trong quá trình cạnh tranh, doanh nghiệp có thể có được những công cụ cần thiết để tự bảo vệ và đánh bại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, các doanh nghiệp phải có sự quan tâm, đầu tư và bảo vệ thương hiệu. Thương hiệu là một tài sản có giá trị không nhỏ; khi đã có chiến lược phát triển bền vững thì không thể không đầu tư cho thương hiệu. Thương hiệu của một doanh nghiệp không chỉ đem lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp đó mà còn ích cho người tiêu dùng (có được một hoặc một nhóm sản phẩm tin cậy) và tác động đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Thứ tư, doanh nghiệp phải có ý thức bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân. Đã phát triển bền vững thì không thể lấy tăng trưởng mà không quan tâm đến tác động của sự tăng trưởng đó đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Tức là, doanh nghiệp cần kết hợp hài hòa giữa yếu tố lợi nhuận và tính phục vụ cộng đồng.
Tóm lại, với cuộc vận động này, doanh nghiệp trong nước có thêm một chỗ dựa cả về mặt chính trị lẫn mặt tình cảm để thúc đẩy sự phát triển. Do đó, bản thân các doanh nghiệp phải nhạy bén nắm bắt cơ hội, chủ động và năng động đề ra quy mô sản xuất, kinh doanh cho phù hợp. Vẫn là khẩu hiệu cũ, “đừng để thua trên sân nhà”, nhưng bây giờ đó trở thành một mệnh lệnh!

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI TẠO ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP TỐT HƠN CHO NGƯỜI BỊ GIAM GIỮ

Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán và Quốc khánh, những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù có ý thức cải tạo tốt và đủ các điều kiện theo quy định thường được đặc xá. Đó là một chủ trương mang tính nhân đạo của chế độ ta, nhằm tạo điều kiện cho những người từng lầm lỡ có cơ hội làm lại cuộc đời, đồng thời đem lại niềm vui cho gia đình họ trong các dịp lễ trọng đại của đất nước.
Nhưng dù thế nào, người đang bị giam giữ cũng tạm thời bị tước một số quyền công dân và mất tự do nhất định. Tuy nhiên, có một số quyền quan trọng họ vẫn còn được giữ, kể cả đối với người đang chấp hành thi hành án tử hình. Trong những quyền đó có quyền được lao động, học tập, giúp đỡ người khác…
Đối với pháp luật Việt Nam, giam giữ người phạm tội vừa cách li họ ra khỏi môi trường xã hội (có thời hạn hoặc không thời hạn tuỳ theo tính chất phạm tội), vừa trừng phạt họ, vừa giáo dục, tạo điều kiện họ phục thiện và có khả năng tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn giam giữ. Ở hầu hết trại giam trong cả nước (trong đó có TP.HCM), phạm nhân đều được học văn hóa, học nghề. Với tính chất đó, nhà giam trở thành một trường-học-tổng-hợp, vừa dạy chữ, dạy nghề và nhất là dạy cách làm người. Cán bộ quản giáo vừa là người quản lý mà cũng trở thành người thầy, người giúp đỡ phạm nhân tiến bộ hơn. Còn các bạn tù trở thành các bạn học, có khả năng tác động lẫn nhau để trở thành một phong trào học tập ngay trong nhà tù.
Trong một hội nghị tại TP.HCM (diễn ra vào tháng 7-2009) về xây dựng xã hội học tập, GS-TS Phạm Tất Dong (Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam) nêu một thí dụ: giả sử có một người đã học qua nghề thợ tiện, năm 2009, vì phạm tội mà bị tù 10 năm, liệu vào năm 2019, người này ra tù thì có còn làm thợ tiện được nữa không, khi chắc chắn kỹ thuật tiện trong vòng 10 năm tới sẽ thay đổi rất nhiều? Ông kết luận: như vậy người bị giam giữ cũng cần phải được học tập như người ở bên ngoài, có như vậy họ mới hòa nhập tốt với cuộc sống sau khi ra tù. Đó cũng là một trong những nội dung của xã hội học tập.
Chính vì vậy, để hạn chế người ra tù lại phạm tội, trong thời gian bị giam giữ, phạm nhân cần được tạo điều kiện học tập một cách tốt nhất có thể. Bên cạnh một số hoạt động mang tính bắt buộc như xoá mù chữ, phổ cập tiểu học…, việc giáo dục họ cũng cần xét trên nhu cầu, nguyện vọng, sở thích và năng lực của phạm nhân. Việc giáo dục phải có chất lượng thực sự, phải thực sự giúp ích cho phạm nhân, chứ không phải để cho có. Đồng thời, cần có sự liên kết, phối hợp với các cơ sở giáo dục để tạo điều kiện cho phạm nhân có thể tham gia một số chương trình giáo dục, đào tạo nâng cao (chẳng hạn, tổ chức các lớp theo yêu cầu của phạm nhân, học đại học từ xa…), như đã thực hiện ở nhiều cơ sở chữa bệnh cho người cai nghiện ma tuý. Có như vậy, khi phạm nhân hoàn thành việc cách li của mình, họ có thể tái hòa nhập với xã hội tốt hơn.