Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

Thời sự và suy nghĩ

KHÔNG ĐỌC – CHÉP THÌ LÀM GÌ?

Bộ Giáo dục – Đào tạo chủ trương ngay từ năm học 2009 – 2010 sẽ không còn việc đọc - chép. Chủ trương này ngay lập tức được sự hưởng ứng, đồng tình của dư luận, trong đó có học sinh. Không phải ai cũng kỳ vọng rằng đây sẽ biện pháp mang tính đột phá trong việc nâng chất lượng dạy và học nhưng đều nhất trí rằng việc hạn chế đọc – chép sẽ mở đầu cho một thời kỳ cải tiến chất lượng giáo dục một cách sâu rộng. Thế nhưng, qua báo chí, dường như chủ trương này chưa thấy có sự đồng tình hưởng ứng của các giáo viên – nhân vật chính của nội dung cải tiến này – và cũng không thấy ngành giáo dục có kế hoạch từ bỏ đọc – chép thì sẽ giảng dạy ra sao. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần quan trọng để một chủ trương tồn tại và phát huy được tính tích cực trong thực tế.
Trước hết, phải nói rằng mãi đến gần bắt đầu năm học mới, Bộ mới triển khai chủ trương bỏ đọc – chép là khá muộn. Lẽ ra nên bắt đầu từ năm học trước, hoặc triển khai từ bây giờ nhưng đến năm học sau nữa mới chính thức thực hiện, để giáo viên và học sinh có thời gian chuẩn bị, ít nhất về mặt tâm lý. Bởi vì đọc – chép thực chất là một biểu hiện của một phương pháp giảng dạy (biểu hiện này phản ánh cơ bản đúng bản chất). Biểu hiện này phản ánh một cách dạy chay – học chay, không phát huy tính độc lập suy nghĩ của cả giáo viên lẫn học sinh, lấy việc chép đầy đủ và thuộc bài (thuộc lòng) của học sinh làm trọng, không đề cao sự đổi mới cách thức truyền đạt của giáo viên, cũng không phát huy tính chủ động tìm tòi, khám phá của học sinh… Nói vậy để thấy phương pháp giảng dạy này dường như đã “thâm căn cố đế”, tức ăn sâu vào suy nghĩ của cá giáo viên lẫn học sinh, từ đó hình thành một lối tư duy thụ động, một thói quen chờ cái có sẵn. Cho nên không thể ngày một ngày hai mà thay đổi được.
Bây giờ nếu bỏ đọc – chép thì giáo viên sẽ dạy như thế nào? Điều này đòi hỏi mỗi trường học phải có một cơ sở vật chất và hệ thống đồ dùng dạy học đáp ứng được việc trình bày bài giảng của giáo viên mà không cần đọc chép. Đó là trường phải có phòng thí nghiệm, có phương tiện, dụng cụ để thực nghiệm, thực hành, có các điều kiện truyền đạt bổ trợ (như xem phim/kịch, tổ chức biểu diễn văn nghệ…). Thí dụ: khi học về địa lý các châu lục, thay vì thao thao đọc rằng châu Mỹ nằm ở đâu, có bao nhiêu quốc gia, đặc điểm tự nhiên, dân số, xã hội, thể chế chính trị… thì học sinh cần được xem một số phim tư liệu, trong đó có đủ các thông số theo yêu cầu nhưng buộc học sinh phải theo dõi và tự ghi chép; học sinh cũng nên được xem các loại bản đồ, để biết đặc điểm khí hậu, vị trí địa lý, tình hình kinh tế của các nước… Nâng cao một chút thì hướng dẫn các em tìm hiểu (thông qua sách báo, truyền hình và nhất là internet) rồi trình bày, thảo luận trước lớp, giáo viên chỉ là người “chốt lại” các vấn đề đúng, sửa chữa những thiết sót, nhầ lẫn… Có như vậy các em học mới thấy có hứng thú trong học tập và bài học mới được hiểu đầy đủ và sâu sắc, đồng thời thấy được vai trò chủ động và tích cực của mình trong buổi học.
Còn như hiện nay, trong điều kiện nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp giảng dạy còn chưa đồng đều, điều kiện dạy và học còn thiếu thốn, sẽ thật khó để hạn chế được đọc – chép. Có chăng, sẽ có những biến tướng; chẳng hạn, thay vì đọc – chép như trước đây thì giáo viên có thể “chỉ” cho học sinh chép ngay trong sách giáo khoa những đoạn quan trọng… Như vậy có thể sẽ từ dạng đọc – chép này biến sang dạng đọc – chép khác, chứ chưa thể thực hiện được theo yêu cầu của Bộ Giáo dục - Đào tạo, cũng như sự trông đợi của xã hội.
Nói vậy cũng để thông cảm rằng một chủ trương mới không thể có ngay chuyển biến và kết quả tích cực trong năm đầu thực hiện. Nhưng cũng từ đó phải tiếp tục chuẩn bị, rút kinh nghiệm cho những năm tiếp theo. Bởi vì đây là một chủ trương dài hơi, nằm trong một loạt những cải tiến khác mang tính đồng bộ và bổ trợ cho nhau. Vì vậy, nếu không có một khởi đầu tốt ở một khâu thì sẽ không có tiền đề tốt cho những năm sau và các khâu khát cũng không thể phát huy tích cực được.

Không có nhận xét nào: