Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2009

Câu chuyện giáo dục

BÊN CẠNH HỌC PHÍ LÀ RẤT NHIỀU KHOẢN LO KHÁC…

Học phí bậc đại học, cao đẳng và trung cấp cuối cùng cũng tăng thêm, dù không phải ở mức cao nhất như Bộ Giáo dục – Đào tạo đã đề nghị. Xét chung, tăng học phí là điều hợp lý bởi học phí hiện tại đã trở nên lỗi thời so với mặt bằng giá cả chung. Hơn nữa, yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo thì không thể không tăng học phí.
Tuy nhiên, dư luận băn khoăn là liệu tăng học phí rồi chất lượng đào tạo có tăng lên hay “vũ như cẩn”? Tức là, ở nhiều trường, sinh viên vẫn phải học “chay”, thực hành “chay”, vẫn phải học trong những cơ sở chật chội, nóng bức, cả trăm sinh viên mới có một giảng viên…?
Thực ra học phí chỉ là một trong nhiều gánh nặng của sinh viên, nhất là sinh viên ngoại tỉnh. Hiện nay, một sinh viên lên thành phố trọ học thường phải chi phí nhiều cho việc thuê nhà trọ, ăn uống và một số sinh hoạt thiết yếu (xà bông, dầu gội, gửi xe, xăng xe, sửa xe, vé xe buýt…). Tính bình quân, chi xài tiết kiệm, mỗi sinh viên phải tốn 1.000.000đ/tháng cho các khoản này, trong khi sinh viên ở ngay thành phố chỉ tốn rất ít. Ngoài ra còn các khoản khác như học thêm, sách vở… - các khoản này thì gần như sinh viên nào cũng phải chi giống nhau. Tính chung, chi phí học tập cho sinh viên ngoại tỉnh cao hơn sinh viên ở thành phố từ 600.000 – 800.000đ/tháng.
Mặt khác, nhìn chung, thu nhập của hộ gia đình có con em học đại học ở thành phố thường cao hơn ở các tỉnh. Do đó, bất kỳ khoản thu nào thêm mỗi tháng vài trăm ngàn đồng thì sẽ làm tăng gánh nặng cho các gia đình ở tỉnh. Khi đó, các khoản tăng thêm có thể trở thành cái áo vất trên lưng con lừa đang chở rất nặng! nó càng nặng thêm nếu các khoản đó không thực sự thiết thực cho sinh viên.
Vậy mà, một số trường còn viện lý do tính “thẩm mỹ”, tính “quốc tế”, tính “toàn diện”… để bắt chẹt sinh viên phải đóng thêm nhiều khoản phí khác. Đồng phục, cặp sách, cà vạt, phí sinh hoạt câu lạc bộ…, đều trở thành gánh nặng cho sinh viên và gia đình. Những diện dẫn đó ngụy biện cho sự thờ ơ trước khó khăn của sinh viên và thậm chí có sự lấp liếm cho thái độ xem sinh viên (và phụ huynh) là “chùm khế ngọt”. Chiếc áo có tạo nên thầy tu được không hay chính chất lượng đào tạo, chính sự trân trọng từng người học, chính chia sẻ, cảm thông, chính tinh thần tiết kiệm… mới giúp cho sinh viên trở thành người có trình độ chuyên môn cao và trình độ văn hóa, nhân cách tốt? Phải chăng người lãnh đạo ở những trường này tự giam mình trong cái tháp ngà của sự giàu có (biết đâu cũng từ sự đóng góp của sinh viên) mà không biết rằng xã hội ta hiện vẫn còn không ít người khó khăn và để có tiền đóng học phí cho con em họ học đại học thôi cũng đã vất vả lắm rồi.Sự tùy tiện đề ra nhiều khoản thu thực ra có phải là phục vụ cho sinh viên hay cho thỏa mãn lòng tham không đáy của những người mang đầu óc kinh doanh giấu dưới áo của các nhà giáo dục? Các nhà quản lý không nên đứng ngoài cuộc, chỉ xem đây là một việc bình thường trong cách điều hành của một số trường đại học. Nên đặt nó vào các quan hệ, các hiện tượng xã hội để lý giải và có biện pháp quản lý cho phù hợp. Xét cho cùng, nơi gọi là trường học thì phải hoàn toàn khác với nơi gọi là chỗ mua bán!

Ảnh
















Cảnh hoàng hôn (chụp tại Cao Cang, xã Gia Canh, huyện Định Quán - Đồng Nai)

Ảnh











Vài hình ảnh về sông La Ngà

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Câu chuyện giáo dục

HỌC BẰNG THỰC NGHIỆM VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

1. Tôi nhớ mãi những bài học hiếm hoi được thực nghiệm hồi học cấp II ở trường THCS Đại Hòa Lộc – huyện Bình Đại (Bến Tre) vào những năm 1980. Trong rất nhiều bài học, hầu hết tôi không nhớ nữa nhưng những bài được học bằng thực nghiệm lại in đậm trong tâm trí tôi. Dù hồi đó, ở một trường nghèo ở vùng nông thôn, điều kiện học tập vô cùng thiếu thốn nhưng với những bài học được giáo viên giảng dạy với phương pháp trực quan sinh động luôn có kết quả hết sức sâu sắc.
Ở môn Sinh học, khi học về hạt, có phần nói về hạt có dầu, thầy giáo bảo chúng tôi mỗi đứa tìm một vài hạt đậu phọng. Khi vào lớp, thầy bảo tách đôi hạt đậu ra, đặt vào giữa quyển vở rồi ép mạnh, khi giở ra, liền thấy một vệt ướt không màu trên vở. Thầy bảo đó là dầu. Lần khác, học về sự nảy mầm, thầy bảo mỗi học trò chuẩn bị một cái lọ thuỷ tinh (keo đựng chao chẳng hạn), rải dưới đáy một lớp bông rồi đổ một tí nước vào cho ướt bông, sau đó cho vào đó vài hạt đậu phọng và quan sát sự nảy mầm của nó. Vài ngày sau, học trò đem “sản phẩm” của mình vào lớp để vừa nghe thầy giải thích vừa được cho điểm, thay cho trả bài. Bài học này có lẽ được tất cả học trò thuộc nằm lòng!
Ở môn Vật lý, khi học về áp lực, thầy bảo về nhà lấy một lon sữa bò, đục một số lỗ trên thành lon rồi nhấn cái lon vào thau nước đầy và quan sát. Quả thật, hồi đó không phải trò nào cũng tìm được lon sữa bò, cũng như rất khó có thể tìm được một cái chai nhựa để thay thế. Nhưng đối với những đứa thực hiện được thực nghiệm này thì sự tiếp thu bài học thật mỹ mãn: cùng trên thành lon nhưng lỗ càng dưới thấp thì tia nước càng mạnh; khi làm ngược lại, bằng cách đổ đầy nước vào cái lon và nhìn nước chảy ra thì kết quả cũng tương tự. Như vậy, do phần ở dưới đáy, lượng nước (trong thau hoặc trong lon) nhiều phần ở trên nên có áp lực mạnh hơn và ngược lại…
2. Những bài học đọc – chép rõ ràng buộc học sinh phải vận dụng trí nhớ, óc tưởng tượng và khả năng nhớ để thuộc bài, trước khi hiểu bài. Mà giờ học của học sinh hiện nay là dày đặc, học cả sáng, chiều lẫn buổi tối, cả chính khóa, ngoại khóa lẫn học thêm, các em gần như không có thời gian để suy nghĩ, để tự khám phá, tự tìm hiểu. Do đó, hầu học sinh phải đối phó với các bài kiểm tra, các kỳ thi hơn là học để hiểu và áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Đã vậy, có lẽ không mấy thầy cô khuyến khích học sinh tự ứng dụng bài học vào cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn, liệu có bao nhiêu học sinh sau khi học cách tính diện tích đem về áp dụng ngay trong nhà mình, nhất là với những ngôi nhà dạng “nở hậu”, tức nhà là dạng hình có một số góc không vuông? Hay cao hơn, khi đi dã ngoại, liệu có mấy em đem nguyên lý tam giác đồng dạng để đo một cây cao hoặc tính khoảng cách của một con kênh? Đó là chưa nói đến những bài học vật lý, hóa học phức tạp mà ngay cả nhiều thầy cô cũng chỉ học lý thuyết suông. Vì vậy sự thích thú của học sinh đối với môn học và kết quả học tập không tốt cũng là điều dễ hiểu.
Từ thực nghiệm không thể bỏ qua thực hành để nâng sự hiểu biết thành kỹ năng trong thực tế. Có thực nghiệm, thực hành thì sau này khi học sâu về một ngành nghề nào đó mới có thể thực nghiệp tốt. Nếu không thì chỉ là lý thuyết suông, không có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
3. Năm học 2009 – 2010 này sẽ bỏ cách học đọc chép. Thoạt nghe tưởng như là một sự đột phá trong phương pháp giảng dạy. Như vậy có phải là lạc quan quá sớm (trở thành lạc quan tếu) hay không? Sẽ không có kết quả nào đáng kể nếu không đổi mới đồng bộ, từ việc biên soạn sách giáo khoa, xây dựng chương trình dạy và học phù hợp cho từng khối lớp, cấp học, cho đến ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình trong giảng dạy, cách ra đề, cách chấm, tiêu chí xếp loại học lực cũng như đề cao sự chủ động, sáng tạo của bản thân các giáo viên…
Như vậy, một mặt đòi hỏi các trường phải nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất và các trang thiết bị, loại dần việc dạy “chay”, học “chay”, mặt khác cũng phải thay đổi tư duy và thái độ giảng dạy của những người đứng lớp. Nhà trường phải có phòng thí nghiệm, thiết bị thí nghiệm, thực nghiệm, hệ thống máy tính và các phần mềm tương thích cùng các trang thiết bị giảng dạy cần thiết khác. Giáo viên phải sử dụng được các thiết bị, phương tiện, phải luôn chủ động tìm cách nâng cao chất lượng tiết học.
4. Dĩ nhiên, không thể đòi hỏi suông mà cần có một triết lý giáo dục hợp lý trong từng giai đoạn cũng như cần có một chính sách đãi ngộ phù hợp cho giáo viên. Ở tầm vĩ mô, nhà nước đừng xem trọng việc góp bao nhiêu phần trăm GDP cho giáo dục mà phải chú ý những đồng vốn được sử dụng có hiệu quả như thế nào, nếu chưa hiệu quả thì phải tìm cho được nguyên nhân để khắc phục. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyên truyền để tạo sự đồng thuận và phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục.Từ đó cho thấy, đổi mới chất lượng giáo dục là một việc làm không phải của riêng ngành giáo dục mà của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Gần như mỗi cá nhân trong xã hội phải tham gia vào hoạt động này, trước mắt bắt đầu bằng việc thay đổi nhận thức về giáo dục, sau đó tuỳ theo điều kiện, năng lực, vị trí của mình mà có những đóng góp cho phù hợp. Chẳng hạn, một người có con em đang đi học, cần thay đổi quan niệm cho rằng giáo dục chỉ là việc của nhà trường mà phải xem là việc của chính bản thân mình; phải tạo điều kiện tốt nhất cho con em đi học; phải xây dựng chế độ dinh dưỡng, học tập phù hợp với thể chất, lứa tuổi, tâm lý… của con em mình; phải khuyến khích con tìm tòi, sáng tạo và cho trẻ phát triển năng lực của mình thay vì buộc trẻ học theo ý mình… Nếu mỗi người thực hiện được như vậy thì chất lượng giáo dục của nước nhà mới có cơ hội được nâng cao!

Câu chuyện giáo dục

ĐỪNG ĐỂ PHỤ HUYNH “SỢ” THẦY CÔ GIÁO!

Năm học mới bắt đầu, trong bao nỗi lo không biết con em mình có thích nghi được với trường lớp mới hay không, với các khoản phí và “đóng góp tự nguyện” đầu năm thì nhiều phụ huynh còn phải lo “lấy lòng” các thầy cô giáo của con mình. Không lo sao được, thầy cô không chỉ là người giúp đỡ, hướng dẫn việc học văn hóa mà còn là người góp phần quan trọng trong việc định hình và xây dựng nhân cách cho trẻ. Nếu được thầy cô quan tâm, đối xử công bằng, khách quan thì cũng là điều đáng mừng, chẳng cần đến sự ưu ái gì đặc biệt.
Trên thực tế, phụ huynh có những lý do chính đáng để “lo”. Đầu năm, bên cạnh các khoản thu theo quy định, nhà trường còn vận động phụ huynh đóng góp một số khoản khác, thường thông qua giáo viên chủ nhiệm. Phụ huynh có ý kiến góp ý, phản ánh hoặc không đóng thì con em họ dễ bị “chú ý”, từ đó nếu có việc gì không thuận lợi xảy ra với các em thì phụ huynh hay “liên tưởng” rằng con em họ bị “phân biệt đối xử”. Bên cạnh đó, do mới làm quen nhau, nhiều khi giáo viên đánh giá học sinh qua cảm tính, qua sự nhận xét đầu tiên, có thể chưa đúng, từ đó có thể có “cảm tình” hơn với em này, “nghiêm khắc” hơn với em khác, cũng dễ khiến phụ huynh cảm thấy không yên tâm. Đó là chưa kể với một số giáo viên có dạy thêm hoặc buôn bán gì đó mà phụ huynh chưa kịp “ủng hộ” cũng có thể gây ra “ấn tượng” không tích cực…
Trong xã hội mà nhiều khi nhiều thứ được quy thành vật chất, từ việc “biết điều” cho đến quà tặng vốn trước đây mang tính tinh thần, tượng trưng thì việc phụ huynh phải “lấy lòng” giáo viên của con em mình cũng không có gì là lạ. Chung quy mọi người cũng muốn tốt cho con mình thôi. Đã vậy, chính các giáo viên cũng có thể trở thành “người trong cuộc” khi lo cho con mình như vậy với các giáo viên khác.
Có người nói vui, bản thân có thể dám đấu tranh, làm mất lòng sếp nhưng quả thật không dám làm mất lòng giáo viên của con. Cái tâm lý vừa “sợ”, vừa bất an, vừa “tưng tức” có thể có trong rất nhiều phụ huynh nhưng không biết nên xử sự ra sao. Cuối cùng cũng phải nhìn và làm theo mọi người, tức là cũng tìm cách làm vui lòng thầy cô, thậm chí phải “chiều chuộng” để được coi là biết điều!
Trong việc này, phụ huynh rõ ràng là người có lỗi, vì nhiều khi cố quà cáp, biếu xén, thậm chí mua chuộc, để làm vui lòng thầy cô của con, thành ra một cuộc “chạy đua” trong các phụ huynh để chiếm cho được tình cảm của thầy cô. Chính từ đó, ít nhiều tác động ngược lại đến tâm lý, tình cảm của các thầy cô, sẽ khó có thể đối xử công bằng với các học sinh nếu trong số đó có em trở nên “thân thiết” hơn với thầy cô, qua việc “lấy lòng” của phụ huynh em đó.
Suy cho cùng, nếu mọi người trung thực và sòng phẳng, tức là làm tròn vai của mình thì không nhất thiết phải cầu cạnh, tranh thủ nhau. Tức là, giáo viên thì làm tròn bổn phận người dạy học của mình, đối xử công bằng, khách quan với tất cả học sinh. Còn phụ huynh thì cần hợp tác chặt chẽ với nhà trường, với giáo viên để giúp con em mình học tập cho tốt, đồng thời thực hiện tốt các quy định của nhà trường. Đôi bên cần có sự trao đổi, phối hợp tốt để đảm bảo tất cả các học sinh đều được học tập một cách tốt nhất. Nếu cần thiết, đôi bên có thể mạnh dạn góp ý lẫn nhau mà không sợ làm mất lòng bên kia – nhất là với các giáo viên. Nói cách khác, mọi người đều nên tỏ rõ trách nhiệm hơn trong chức trách, nhiệm vụ, nghĩa vụ của mình thì có lẽ sẽ không còn cảnh phải “sợ sệt” nữa!

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI TRÂN TRỌNG TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI XẢ THÂN VÌ NƯỚC

Trận hải chiến Hoàng Sa đầu năm 1974 lâu nay đã được nói nhiều trên các diễn đàn, trên một số trang web, trên một số sách xuất bản ở nước ngoài... Đến khi xảy ra việc nhiều người phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa bao gồm cả các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam thì trận chiến này mới được nhiều người nhắc đến hơn. Tuy nhiên, nói chính thức trên báo chí hay các tài liệu xuất bản trong nước thì gần như chưa có. Dường như có gì đó còn "gờn gợn" khi nói đến điều này, bởi khi Hoàng Sa mất về tay Trung Quốc thì ở Việt Nam vẫn còn đang diễn ra chiến tranh ác liệt và Hoàng Sa khi ấy thuộc quyền kiểm soát của chế độ Sài Gòn, một thể chế sau này bị coi là thân Mỹ, bị cho là "ngụy", dù đã được Liên Hiệp quốc công nhận. Trong hoàn cảnh đó, việc Báo Tuổi trẻ ghi lại những sự kiện do chính các nhân chứng sống kể là điều cần thiết và rất đáng trân trọng.
Phải nói rằng, dù ở thời kỳ nào, ở chính thể nào, bất kỳ cá nhân nào xả thân vì nước cũng đáng trân trọng, đáng được ghi nhớ và ca ngợi. Bất kể hành động đó nhằm bảo vệ chủ quyền cho chính thể nào, hay trong hoàn cảnh nào. Bởi vì suy cho cùng, các chính thể có thể ra đời tồn tại và mất đi nhưng đất nước này mãi mãi vẫn thuộc về nhân dân Việt Nam. Cho nên, bảo vệ đất nước cũng chính là bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân đối với cương thổ của đất nước.
Thời trước, dù nhà Nguyễn ra sức bài bác nhà Tây Sơn, không chỉ thực hiện chính sách trả thù hèn hạ mà còn gọi là "ngụy Tây Sơn" nhưng dù thế nào nhà Nguyễn vẫn không thể phủ định công lao đánh đuổi 29 vạn quân Thanh của vua Quang Trung. Các sử gia triều Nguyễn vẫn dành những lời trân trọng khi nói về chiến tích vĩ đại này. Bởi vì, nếu không có việc Quang Trung đánh tan quân Thanh thì nước ta đã trở thành thuộc địa của phương Bắc thì khi đó, liệu nhà Nguyễn có thể giành được quyền cai trị? Xét cho cùng, tri ân tiền nhân đã dày công hãn mã để giữ vững chủ quyền lãnh thổ là một đạo lý, thuộc phạm trù đạo đức, chứ không chỉ vấn đề quyền lợi trước mắt.
Đối với trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, lâu nay trên một số website, cộng đồng người Việt đã hết lời ca ngợi những sĩ quan và binh lính của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ vùng biển đảo phía Đông Tổ quốc. 58 binh sĩ, trong đó có thiếu tá Ngụy Văn Thà, đã trở thành những anh hùng của cả dân tộc, không phân biệt người theo (hay yêu) thể chế, chính kiến nào nữa. Các phương tiện truyền thông ở Việt Nam hiện nay còn rất hiếm khi nhắc đến trận hải chiến này, càng không nhắc gì đến những người đã ngã xuống. Xét ở góc độ nào đó, sự trân trọng với những người đã hi sinh máu xương cho Tổ quốc đã chưa được thể hiện đầy đủ.
Hiện nay, những người từng làm việc, chiến đấu ở Hoàng Sa, Trường Sa và những việc có liên quan, cả trong và ngoài nước, đã tiếp tục đấu tranh khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tư liệu lịch sử, nhiều chứng cứ cụ thể... đã được trưng ra để góp thêm những luận cứ, luận chứng về quan điểm chủ quyền trước sau như một của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Điều nên làm hiện nay bên cạnh tôn trọng những đóng góp, hi sinh của tất cả mọi người vì Trường Sa, Hoàng Sa là tiếp tục sưu tập, đúc kết những công trình nghiên cứu, những dữ liệu về hai quần đảo này để làm tài liệu đấu tranh với các quốc gia và vùng lãnh thổ đang chiếm đóng tại đây. Việc giành Trường Sa và Hoàng Sa có thể coi là việc của trăm năm, ngàn năm, nhưng không bao giờ được quên lãng, không bao giờ được xem nhẹ!

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

Thời sự và suy nghĩ

“ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN” – LỜI KHẲNG ĐỊNH MÀ CŨNG LÀ SỰ CẢNH BÁO

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Đó là một lời khẳng định mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải ghi nhớ và thực hiện. Đảng Cộng sản Việt Nam – qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau – đã lãnh đạo nhân dân ta liên tiếp thực hiện nhiều cuộc cách mạng, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là sứ mệnh mà cũng là công lao của Đảng, không thể phủ định.
Trước năm 1930, nhiều phong trào cách mạng đã bùng nổ, nhiều hoạt động yêu nước diễn ra, nhiều loại hình đảng phái chống Pháp hình thành, đã gây cho thực dân Pháp không ít bối rối, lúng túng, sợ hãi, thậm chí tổn thất. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của các phong trào, các hoạt động, các đảng phái này là đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho nhân dân ta thì chưa thực hiện được. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, mục tiêu cách mạng rõ ràng, phương thức đấu tranh phù hợp, sức mạnh của toàn dân tộc được phát huy cao độ. Nhờ đó, Đảng đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám trời long đất lở, chẳng những giải phóng nhân dân ta khỏi ách nô lệ, thành lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mà còn mở màn cho phong trào giải phóng khỏi ách thực dân cũ của các dân tộc trên toàn thế giới. Tiếp đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai cuộc kháng chiến, nước ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.
Chính vì vậy, Đảng ta xứng đáng và phải giữ cho được là đảng cầm quyền. Đó là sự khẳng định của Hồ Chí Minh, không phải cho bản thân mình, mà cho các thế hệ đồng bào và lớp lớp đồng chí đã không quản ngại hi sinh đi theo Đảng, một lòng một dạ trung thành với Đảng. Từ bỏ vai trò cầm quyền chính là phủ định công lao của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ đã chiến đấu vì mục tiêu cao đẹp của Đảng, từ ngày thành lập cho đến nay.
Tại sao không là “Đảng ta là đảng cầm quyền” mà phải là “một đảng cầm quyền”? “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không được chia sẻ quyền lực với đảng khác (nên hiểu là “không chia sẻ quyền lực” chứ không độc nhất tồn tại, vì thời của Bác còn có Đảng Dân chủ). Đây không phải là sự độc chiếm quyền lực mà đó là kết quả tất yếu của lịch sử. Lời dặn dò này của Bác thật sâu sắc.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu đầy đủ lời của Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Ở đây, Bác đã hàm ý cảnh báo. Vì là “một đảng cầm quyền” nên có thể phát sinh những vấn đề do chỉ có một đảng nắm quyền, nhất là khi nắm quyền liên tục trong một thời gian dài. Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc chắn Hồ Chí Minh hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi. Là đảng duy nhất cầm quyền, ở đỉnh cao quyền lực, rất có thể nội bộ đảng nảy sinh những trì trệ, thậm chí sai lầm, nếu đảng giáo điều, không phát huy và mở rộng dân chủ, không lắng nghe phản ánh từ nhân dân, không tiếp thu các ý kiến phản biện… Nói cách khác, đảng phải luôn đổi mới để tồn tại và lãnh đạo nhân dân có hiệu quả.
Điều này có thể thấy rõ, trong lịch sử Việt Nam, một triều đại lúc mới khai sáng thì luôn có vua sáng tôi hiền, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước thì về sau lại trở nên trì trệ, khủng hoảng, suy tàn. Đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử, trong xã hội, được khái quát trong tư tưởng của người phương Đông, “trăng có khi tròn khi khuyết”.
Vì vậy, là “một đảng cầm quyền”, Đảng ta phải có những thích ứng kịp thời. Do đó, Bác đã căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Những chữ “thực sự”, “thật sự”, “thật” là sự nhấn mạnh của Bác đối với các yêu cầu của Đảng, của mỗi đảng viên trong lời khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Tức là, một đảng cầm quyền thì đảng viên phải thực sự như thế, không thể khác được.
Lời cảnh báo này có ẩn ý sâu sắc nên đôi khi không được nhận ra một cách đầy đủ, chỉ hiểu rằng Đảng phải cố làm sao giữ được vai trò cầm quyền mà quên những lời nhắc nhở của Bác về những nguy cơ của một đảng cầm quyền cũng như những yêu cầu của đảng viên trong đảng cầm quyền đó. Xét về từ ngữ, lời căn dặn, phát triển từ hàm ý cảnh báo, nhiều hơn hẳn lời khẳng định (50 so với 7 chữ), cũng đủ nói lên tầm quan trọng của lời cảnh báo này.
40 năm qua, dường như lời cảnh báo này ngày càng ứng nghiệm. Hiện tượng suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận đảng viên phải chăng chính là do ta chưa xem trọng đúng mức lời cảnh báo này?
Chính điều đó, càng toát lên tầm vượt thời đại của Hồ Chí Minh cũng như bản di chúc của Người.

Câu chuyện giáo dục

MỘT SỐ LỐI GIẢNG BÀI Ở MỘT LỚP CAO HỌC

Tôi đang theo học một lớp cao học tại TP.HCM và qua đó ghi nhận cách thể hiện bài giảng của các giảng viên như sau:
- Cách 1, giảng viên phân bố đều thời lượng của các bài, rồi lần lượt giảng các bài, học viên chép được tới đâu thì chép, trong quá trình đó có kết hợp diễn giải những nội dung có liên quan, ít trao đổi, thảo luận.
- Cách 2, giảng viên giảng kỹ những bài đầu, kết hợp trao đổi, thảo luận, còn những bài sau vì không còn thời gian nên chỉ đi lướt và yêu cầu học viên tự tìm hiểu.
- Cách 3, giảng viên giới thiệu nội dung bài học trong giáo trình hoặc tài liệu để học viên tìm đọc, nghiêm cứu, trên lớp chỉ làm rõ những vấn đề liên quan, đồng thời kết hợp thảo luận.
- Cách 4, giảng viên lần lượt nêu những điểm chính của bài giảng, trong quá trình đó đặt các câu hỏi có liên quan đến bài giảng cho học viên trả lời, kết hợp gợi ý cho học viên thảo luận.
- Cách 5, giảng viên cung cấp trước một bản tóm tắt những điểm cơ bản của bài giảng, vào học bài nào thì chia lớp thành các nhóm để thảo luận, cuối buổi giảng viên chốt lại các vấn đề chính, định hướng cho những ý kiến chưa phù hợp và giải đáp những thắc mắc của học viên đặt ra.
Mặc dù ở lớp cao học nhưng vẫn có giảng viên giảng bài theo cách 1, hoặc do chưa có giáo trình hoặc giảng viên ít đầu tư cho bài giảng. Đó là không kể có một vài trường hợp cá biệt, giảng viên gần như “khoán trắng” bài học cho học viên tự tìm hiểu mà không có sự định hướng, gợi mở nào, trong thời gian lên lớp, giảng viên nói về bài chỉ lớt phớt, còn lại nói chuyện về bản thân hoặc chuyện phiếm.
Trong 5 cách giảng đó, có lẽ cách 1 là còn “dấu vết” của lối giảng bài của bậc trung học với kiểu đọc – chép truyền thống, cách 2 thể hiện sự thiếu khoa học trong bố trí thời lượng bài giảng, từ đó vô tình tạo ra sự ngộ nhận của học viên về “trọng tâm” của môn học, 3 cách còn lại đều phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên với các mức độ khác nhau. Qua quá trình học, tôi nhận thấy rằng, với cách giảng nào mà học viên càng có sự chủ động đối với buổi học thì học viên càng vất vả nhưng không khí học tập càng sinh động và kết quả buổi học càng có chất lượng. Vất vả vì hầu như không học viên nào được thụ động với bài học, nếu không chuẩn bị trước thì trong giờ học cũng phải động não để trả lời các câu hỏi của giảng viên hoặc của các nhóm khác, hay ít nhất cũng có thông tin để tham gia thảo luận với lớp. Sinh động vì trong lớp có sự trao đổi thông tin nhiều chiều, giữa giảng viên với học viên (và ngược lại), giữa các học viên với nhau; vì vậy không học viên nào có thể thụ động trong khi các bạn mình liên tục phát biểu, tranh luận. Có chất lượng vì học viên không chỉ tiếp thu bài học ngay trên lớp mà còn có điều kiện tiếp cận với nhiều thông tin và nhiều kiến thức bổ trợ do quá trình tự tìm hiểu, do sự cung cấp của các bạn và sự định hướng của giảng viên.
Có thể thấy, với cách giảng nào mà học viên có được sự chủ động trong việc tiếp thu bài học thì bản thân giảng viên phải làm chủ được bài giảng. Đó là giảng viên phải chuẩn bị được một cái “sườn” cho buổi giảng (nếu không được bản tóm tắt nội dung hoặc các slide để chiếu bằng power point thì cũng phải giáo án cụ thể). Đó là giảng viên phải có kiến thức vững vàn để đủ uốn nắn những nhận xét sai lầm, để giải đáp những câu hỏi của học viên, thậm chí đủ sức tranh luận với học viên (nhất là với một số học viên có thực tiễn sinh động hơn hẳn giảng viên). Đó là giảng viên phải chủ động tổ chức bài giảng và tổ chức hình thức học của lớp, tùy theo bài học, tùy theo không khí học tập… Nói cách khác, giảng viên phải có sự đầu tư cho môn học, cho bài giảng một cách cẩn thận, chu đáo.
Từ thực tế bản thân, tôi thấy rằng nếu học viên được tham gia như là một thành viên chủ động và có trách nhiệm trong buổi học thì kiến thức tiếp thu được vừa sâu, vừa rộng, vừa lâu bền hơn sau khi học xong môn học. Bên cạnh đó, với cách kiểm tra bằng cách tạo điều kiện (mà cũng áp lực) để học viên có được “sản phẩm” sau khi học hết môn (bằng việc xây dựng các mô hình theo ý tưởng cá nhân hay thực hiện các tiểu luận – thực chất là các công trình khoa học ở mức độ chưa phức tạp) thì kiến thức về môn học đó được củng cố hơn.
Với các cách học ở lớp cao học như vừa kể, tôi thấy rằng có mặt tích cực lẫn mặt chưa tích cực. Với mặt tích cực, thiết nghĩ nên mở rộng để áp dụng cho giáo dục phổ thông và đại học, với yêu cầu và mức độ khác nhau. Với mặt hạn chế, cần phải sớm khắc phục, nếu không, chương trình cao học có thể chỉ đáng xem là chương trình cấp… V!