HỌC BẰNG THỰC NGHIỆM VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1. Tôi nhớ mãi những bài học hiếm hoi được thực nghiệm hồi học cấp II ở trường THCS Đại Hòa Lộc – huyện Bình Đại (Bến Tre) vào những năm 1980. Trong rất nhiều bài học, hầu hết tôi không nhớ nữa nhưng những bài được học bằng thực nghiệm lại in đậm trong tâm trí tôi. Dù hồi đó, ở một trường nghèo ở vùng nông thôn, điều kiện học tập vô cùng thiếu thốn nhưng với những bài học được giáo viên giảng dạy với phương pháp trực quan sinh động luôn có kết quả hết sức sâu sắc.
Ở môn Sinh học, khi học về hạt, có phần nói về hạt có dầu, thầy giáo bảo chúng tôi mỗi đứa tìm một vài hạt đậu phọng. Khi vào lớp, thầy bảo tách đôi hạt đậu ra, đặt vào giữa quyển vở rồi ép mạnh, khi giở ra, liền thấy một vệt ướt không màu trên vở. Thầy bảo đó là dầu. Lần khác, học về sự nảy mầm, thầy bảo mỗi học trò chuẩn bị một cái lọ thuỷ tinh (keo đựng chao chẳng hạn), rải dưới đáy một lớp bông rồi đổ một tí nước vào cho ướt bông, sau đó cho vào đó vài hạt đậu phọng và quan sát sự nảy mầm của nó. Vài ngày sau, học trò đem “sản phẩm” của mình vào lớp để vừa nghe thầy giải thích vừa được cho điểm, thay cho trả bài. Bài học này có lẽ được tất cả học trò thuộc nằm lòng!
Ở môn Vật lý, khi học về áp lực, thầy bảo về nhà lấy một lon sữa bò, đục một số lỗ trên thành lon rồi nhấn cái lon vào thau nước đầy và quan sát. Quả thật, hồi đó không phải trò nào cũng tìm được lon sữa bò, cũng như rất khó có thể tìm được một cái chai nhựa để thay thế. Nhưng đối với những đứa thực hiện được thực nghiệm này thì sự tiếp thu bài học thật mỹ mãn: cùng trên thành lon nhưng lỗ càng dưới thấp thì tia nước càng mạnh; khi làm ngược lại, bằng cách đổ đầy nước vào cái lon và nhìn nước chảy ra thì kết quả cũng tương tự. Như vậy, do phần ở dưới đáy, lượng nước (trong thau hoặc trong lon) nhiều phần ở trên nên có áp lực mạnh hơn và ngược lại…
2. Những bài học đọc – chép rõ ràng buộc học sinh phải vận dụng trí nhớ, óc tưởng tượng và khả năng nhớ để thuộc bài, trước khi hiểu bài. Mà giờ học của học sinh hiện nay là dày đặc, học cả sáng, chiều lẫn buổi tối, cả chính khóa, ngoại khóa lẫn học thêm, các em gần như không có thời gian để suy nghĩ, để tự khám phá, tự tìm hiểu. Do đó, hầu học sinh phải đối phó với các bài kiểm tra, các kỳ thi hơn là học để hiểu và áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Đã vậy, có lẽ không mấy thầy cô khuyến khích học sinh tự ứng dụng bài học vào cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn, liệu có bao nhiêu học sinh sau khi học cách tính diện tích đem về áp dụng ngay trong nhà mình, nhất là với những ngôi nhà dạng “nở hậu”, tức nhà là dạng hình có một số góc không vuông? Hay cao hơn, khi đi dã ngoại, liệu có mấy em đem nguyên lý tam giác đồng dạng để đo một cây cao hoặc tính khoảng cách của một con kênh? Đó là chưa nói đến những bài học vật lý, hóa học phức tạp mà ngay cả nhiều thầy cô cũng chỉ học lý thuyết suông. Vì vậy sự thích thú của học sinh đối với môn học và kết quả học tập không tốt cũng là điều dễ hiểu.
Từ thực nghiệm không thể bỏ qua thực hành để nâng sự hiểu biết thành kỹ năng trong thực tế. Có thực nghiệm, thực hành thì sau này khi học sâu về một ngành nghề nào đó mới có thể thực nghiệp tốt. Nếu không thì chỉ là lý thuyết suông, không có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
3. Năm học 2009 – 2010 này sẽ bỏ cách học đọc chép. Thoạt nghe tưởng như là một sự đột phá trong phương pháp giảng dạy. Như vậy có phải là lạc quan quá sớm (trở thành lạc quan tếu) hay không? Sẽ không có kết quả nào đáng kể nếu không đổi mới đồng bộ, từ việc biên soạn sách giáo khoa, xây dựng chương trình dạy và học phù hợp cho từng khối lớp, cấp học, cho đến ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình trong giảng dạy, cách ra đề, cách chấm, tiêu chí xếp loại học lực cũng như đề cao sự chủ động, sáng tạo của bản thân các giáo viên…
Như vậy, một mặt đòi hỏi các trường phải nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất và các trang thiết bị, loại dần việc dạy “chay”, học “chay”, mặt khác cũng phải thay đổi tư duy và thái độ giảng dạy của những người đứng lớp. Nhà trường phải có phòng thí nghiệm, thiết bị thí nghiệm, thực nghiệm, hệ thống máy tính và các phần mềm tương thích cùng các trang thiết bị giảng dạy cần thiết khác. Giáo viên phải sử dụng được các thiết bị, phương tiện, phải luôn chủ động tìm cách nâng cao chất lượng tiết học.
4. Dĩ nhiên, không thể đòi hỏi suông mà cần có một triết lý giáo dục hợp lý trong từng giai đoạn cũng như cần có một chính sách đãi ngộ phù hợp cho giáo viên. Ở tầm vĩ mô, nhà nước đừng xem trọng việc góp bao nhiêu phần trăm GDP cho giáo dục mà phải chú ý những đồng vốn được sử dụng có hiệu quả như thế nào, nếu chưa hiệu quả thì phải tìm cho được nguyên nhân để khắc phục. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyên truyền để tạo sự đồng thuận và phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục.Từ đó cho thấy, đổi mới chất lượng giáo dục là một việc làm không phải của riêng ngành giáo dục mà của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Gần như mỗi cá nhân trong xã hội phải tham gia vào hoạt động này, trước mắt bắt đầu bằng việc thay đổi nhận thức về giáo dục, sau đó tuỳ theo điều kiện, năng lực, vị trí của mình mà có những đóng góp cho phù hợp. Chẳng hạn, một người có con em đang đi học, cần thay đổi quan niệm cho rằng giáo dục chỉ là việc của nhà trường mà phải xem là việc của chính bản thân mình; phải tạo điều kiện tốt nhất cho con em đi học; phải xây dựng chế độ dinh dưỡng, học tập phù hợp với thể chất, lứa tuổi, tâm lý… của con em mình; phải khuyến khích con tìm tòi, sáng tạo và cho trẻ phát triển năng lực của mình thay vì buộc trẻ học theo ý mình… Nếu mỗi người thực hiện được như vậy thì chất lượng giáo dục của nước nhà mới có cơ hội được nâng cao!
1. Tôi nhớ mãi những bài học hiếm hoi được thực nghiệm hồi học cấp II ở trường THCS Đại Hòa Lộc – huyện Bình Đại (Bến Tre) vào những năm 1980. Trong rất nhiều bài học, hầu hết tôi không nhớ nữa nhưng những bài được học bằng thực nghiệm lại in đậm trong tâm trí tôi. Dù hồi đó, ở một trường nghèo ở vùng nông thôn, điều kiện học tập vô cùng thiếu thốn nhưng với những bài học được giáo viên giảng dạy với phương pháp trực quan sinh động luôn có kết quả hết sức sâu sắc.
Ở môn Sinh học, khi học về hạt, có phần nói về hạt có dầu, thầy giáo bảo chúng tôi mỗi đứa tìm một vài hạt đậu phọng. Khi vào lớp, thầy bảo tách đôi hạt đậu ra, đặt vào giữa quyển vở rồi ép mạnh, khi giở ra, liền thấy một vệt ướt không màu trên vở. Thầy bảo đó là dầu. Lần khác, học về sự nảy mầm, thầy bảo mỗi học trò chuẩn bị một cái lọ thuỷ tinh (keo đựng chao chẳng hạn), rải dưới đáy một lớp bông rồi đổ một tí nước vào cho ướt bông, sau đó cho vào đó vài hạt đậu phọng và quan sát sự nảy mầm của nó. Vài ngày sau, học trò đem “sản phẩm” của mình vào lớp để vừa nghe thầy giải thích vừa được cho điểm, thay cho trả bài. Bài học này có lẽ được tất cả học trò thuộc nằm lòng!
Ở môn Vật lý, khi học về áp lực, thầy bảo về nhà lấy một lon sữa bò, đục một số lỗ trên thành lon rồi nhấn cái lon vào thau nước đầy và quan sát. Quả thật, hồi đó không phải trò nào cũng tìm được lon sữa bò, cũng như rất khó có thể tìm được một cái chai nhựa để thay thế. Nhưng đối với những đứa thực hiện được thực nghiệm này thì sự tiếp thu bài học thật mỹ mãn: cùng trên thành lon nhưng lỗ càng dưới thấp thì tia nước càng mạnh; khi làm ngược lại, bằng cách đổ đầy nước vào cái lon và nhìn nước chảy ra thì kết quả cũng tương tự. Như vậy, do phần ở dưới đáy, lượng nước (trong thau hoặc trong lon) nhiều phần ở trên nên có áp lực mạnh hơn và ngược lại…
2. Những bài học đọc – chép rõ ràng buộc học sinh phải vận dụng trí nhớ, óc tưởng tượng và khả năng nhớ để thuộc bài, trước khi hiểu bài. Mà giờ học của học sinh hiện nay là dày đặc, học cả sáng, chiều lẫn buổi tối, cả chính khóa, ngoại khóa lẫn học thêm, các em gần như không có thời gian để suy nghĩ, để tự khám phá, tự tìm hiểu. Do đó, hầu học sinh phải đối phó với các bài kiểm tra, các kỳ thi hơn là học để hiểu và áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Đã vậy, có lẽ không mấy thầy cô khuyến khích học sinh tự ứng dụng bài học vào cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn, liệu có bao nhiêu học sinh sau khi học cách tính diện tích đem về áp dụng ngay trong nhà mình, nhất là với những ngôi nhà dạng “nở hậu”, tức nhà là dạng hình có một số góc không vuông? Hay cao hơn, khi đi dã ngoại, liệu có mấy em đem nguyên lý tam giác đồng dạng để đo một cây cao hoặc tính khoảng cách của một con kênh? Đó là chưa nói đến những bài học vật lý, hóa học phức tạp mà ngay cả nhiều thầy cô cũng chỉ học lý thuyết suông. Vì vậy sự thích thú của học sinh đối với môn học và kết quả học tập không tốt cũng là điều dễ hiểu.
Từ thực nghiệm không thể bỏ qua thực hành để nâng sự hiểu biết thành kỹ năng trong thực tế. Có thực nghiệm, thực hành thì sau này khi học sâu về một ngành nghề nào đó mới có thể thực nghiệp tốt. Nếu không thì chỉ là lý thuyết suông, không có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
3. Năm học 2009 – 2010 này sẽ bỏ cách học đọc chép. Thoạt nghe tưởng như là một sự đột phá trong phương pháp giảng dạy. Như vậy có phải là lạc quan quá sớm (trở thành lạc quan tếu) hay không? Sẽ không có kết quả nào đáng kể nếu không đổi mới đồng bộ, từ việc biên soạn sách giáo khoa, xây dựng chương trình dạy và học phù hợp cho từng khối lớp, cấp học, cho đến ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình trong giảng dạy, cách ra đề, cách chấm, tiêu chí xếp loại học lực cũng như đề cao sự chủ động, sáng tạo của bản thân các giáo viên…
Như vậy, một mặt đòi hỏi các trường phải nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất và các trang thiết bị, loại dần việc dạy “chay”, học “chay”, mặt khác cũng phải thay đổi tư duy và thái độ giảng dạy của những người đứng lớp. Nhà trường phải có phòng thí nghiệm, thiết bị thí nghiệm, thực nghiệm, hệ thống máy tính và các phần mềm tương thích cùng các trang thiết bị giảng dạy cần thiết khác. Giáo viên phải sử dụng được các thiết bị, phương tiện, phải luôn chủ động tìm cách nâng cao chất lượng tiết học.
4. Dĩ nhiên, không thể đòi hỏi suông mà cần có một triết lý giáo dục hợp lý trong từng giai đoạn cũng như cần có một chính sách đãi ngộ phù hợp cho giáo viên. Ở tầm vĩ mô, nhà nước đừng xem trọng việc góp bao nhiêu phần trăm GDP cho giáo dục mà phải chú ý những đồng vốn được sử dụng có hiệu quả như thế nào, nếu chưa hiệu quả thì phải tìm cho được nguyên nhân để khắc phục. Đồng thời, phải đẩy mạnh tuyên truyền để tạo sự đồng thuận và phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục.Từ đó cho thấy, đổi mới chất lượng giáo dục là một việc làm không phải của riêng ngành giáo dục mà của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Gần như mỗi cá nhân trong xã hội phải tham gia vào hoạt động này, trước mắt bắt đầu bằng việc thay đổi nhận thức về giáo dục, sau đó tuỳ theo điều kiện, năng lực, vị trí của mình mà có những đóng góp cho phù hợp. Chẳng hạn, một người có con em đang đi học, cần thay đổi quan niệm cho rằng giáo dục chỉ là việc của nhà trường mà phải xem là việc của chính bản thân mình; phải tạo điều kiện tốt nhất cho con em đi học; phải xây dựng chế độ dinh dưỡng, học tập phù hợp với thể chất, lứa tuổi, tâm lý… của con em mình; phải khuyến khích con tìm tòi, sáng tạo và cho trẻ phát triển năng lực của mình thay vì buộc trẻ học theo ý mình… Nếu mỗi người thực hiện được như vậy thì chất lượng giáo dục của nước nhà mới có cơ hội được nâng cao!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét