Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

Thời sự và suy nghĩ

“ĐẢNG TA LÀ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN” – LỜI KHẲNG ĐỊNH MÀ CŨNG LÀ SỰ CẢNH BÁO

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Đó là một lời khẳng định mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải ghi nhớ và thực hiện. Đảng Cộng sản Việt Nam – qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau – đã lãnh đạo nhân dân ta liên tiếp thực hiện nhiều cuộc cách mạng, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Đó là sứ mệnh mà cũng là công lao của Đảng, không thể phủ định.
Trước năm 1930, nhiều phong trào cách mạng đã bùng nổ, nhiều hoạt động yêu nước diễn ra, nhiều loại hình đảng phái chống Pháp hình thành, đã gây cho thực dân Pháp không ít bối rối, lúng túng, sợ hãi, thậm chí tổn thất. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của các phong trào, các hoạt động, các đảng phái này là đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập, tự do cho nhân dân ta thì chưa thực hiện được. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, mục tiêu cách mạng rõ ràng, phương thức đấu tranh phù hợp, sức mạnh của toàn dân tộc được phát huy cao độ. Nhờ đó, Đảng đã làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám trời long đất lở, chẳng những giải phóng nhân dân ta khỏi ách nô lệ, thành lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mà còn mở màn cho phong trào giải phóng khỏi ách thực dân cũ của các dân tộc trên toàn thế giới. Tiếp đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai cuộc kháng chiến, nước ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”.
Chính vì vậy, Đảng ta xứng đáng và phải giữ cho được là đảng cầm quyền. Đó là sự khẳng định của Hồ Chí Minh, không phải cho bản thân mình, mà cho các thế hệ đồng bào và lớp lớp đồng chí đã không quản ngại hi sinh đi theo Đảng, một lòng một dạ trung thành với Đảng. Từ bỏ vai trò cầm quyền chính là phủ định công lao của đồng bào, đồng chí và chiến sĩ đã chiến đấu vì mục tiêu cao đẹp của Đảng, từ ngày thành lập cho đến nay.
Tại sao không là “Đảng ta là đảng cầm quyền” mà phải là “một đảng cầm quyền”? “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không được chia sẻ quyền lực với đảng khác (nên hiểu là “không chia sẻ quyền lực” chứ không độc nhất tồn tại, vì thời của Bác còn có Đảng Dân chủ). Đây không phải là sự độc chiếm quyền lực mà đó là kết quả tất yếu của lịch sử. Lời dặn dò này của Bác thật sâu sắc.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu đầy đủ lời của Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Ở đây, Bác đã hàm ý cảnh báo. Vì là “một đảng cầm quyền” nên có thể phát sinh những vấn đề do chỉ có một đảng nắm quyền, nhất là khi nắm quyền liên tục trong một thời gian dài. Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc chắn Hồ Chí Minh hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi. Là đảng duy nhất cầm quyền, ở đỉnh cao quyền lực, rất có thể nội bộ đảng nảy sinh những trì trệ, thậm chí sai lầm, nếu đảng giáo điều, không phát huy và mở rộng dân chủ, không lắng nghe phản ánh từ nhân dân, không tiếp thu các ý kiến phản biện… Nói cách khác, đảng phải luôn đổi mới để tồn tại và lãnh đạo nhân dân có hiệu quả.
Điều này có thể thấy rõ, trong lịch sử Việt Nam, một triều đại lúc mới khai sáng thì luôn có vua sáng tôi hiền, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước thì về sau lại trở nên trì trệ, khủng hoảng, suy tàn. Đây là một hiện tượng bình thường trong lịch sử, trong xã hội, được khái quát trong tư tưởng của người phương Đông, “trăng có khi tròn khi khuyết”.
Vì vậy, là “một đảng cầm quyền”, Đảng ta phải có những thích ứng kịp thời. Do đó, Bác đã căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Những chữ “thực sự”, “thật sự”, “thật” là sự nhấn mạnh của Bác đối với các yêu cầu của Đảng, của mỗi đảng viên trong lời khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Tức là, một đảng cầm quyền thì đảng viên phải thực sự như thế, không thể khác được.
Lời cảnh báo này có ẩn ý sâu sắc nên đôi khi không được nhận ra một cách đầy đủ, chỉ hiểu rằng Đảng phải cố làm sao giữ được vai trò cầm quyền mà quên những lời nhắc nhở của Bác về những nguy cơ của một đảng cầm quyền cũng như những yêu cầu của đảng viên trong đảng cầm quyền đó. Xét về từ ngữ, lời căn dặn, phát triển từ hàm ý cảnh báo, nhiều hơn hẳn lời khẳng định (50 so với 7 chữ), cũng đủ nói lên tầm quan trọng của lời cảnh báo này.
40 năm qua, dường như lời cảnh báo này ngày càng ứng nghiệm. Hiện tượng suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận đảng viên phải chăng chính là do ta chưa xem trọng đúng mức lời cảnh báo này?
Chính điều đó, càng toát lên tầm vượt thời đại của Hồ Chí Minh cũng như bản di chúc của Người.

Không có nhận xét nào: