Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Câu chuyện văn hóa

SÁCH RẺ VÀ VĂN HÓA ĐỌC

Cách đây khá lâu, có ý kiến trên một tờ báo cho rằng sinh viên ngày nay ít đọc sách mà họ chỉ… đọc dồn vào những dịp thi cử – những sách liên quan đến môn thi ở thư viện đều được mượn sạch! Đó là hiện tượng có thực. Có nhiều lý do, như, số sách liên quan đến môn học, đến đề tài học ngày càng nhiều mà thời gian của sinh viên thì khá ít nên dẫn đến việc họ chỉ có thể đọc được một số, hoặc chỉ đọc vào đợt thi cử. Nhưng cũng có một bộ phận nhỏ sinh viên lười đọc thực sự. Học chỉ quan tâm đọc phần… tóm tắt hoặc chỉ đọc một đoạn, hoặc góp nhặt những đoạn trích của các sách khác (nhất là sách về nghiên cứu, phê bình văn học) rồi “tán hươu tán vượn” vào, coi như mình đã đọc cả tác phẩm.
Nhìn chung, đọc sách vẫn là một hoạt động phổ biến của giới trẻ. Vào các thư viện, tuyệt đại độc giả ở đó là các bạn trẻ. (Theo một thăm dò của Thư viện Tổng hợp, có đến 99,5% số độc giả vào thư viện này đọc là nhằm để tìm tài liệu nghiên cứu, để học tập và phục vụ cho một vấn đề quan tâm. Chỉ 0,5% xem đọc sách để giải trí. Và có 54,2% độc giả vào đọc sách, gấp đôi số người vào đọc báo). Nhưng hình như giới trẻ có xu hướng không “mặn” đọc sách bằng người lớn tuổi. Họ thường đọc truyện tranh hoặc những tác phẩm ngăn ngắn và ít đọc những tác phẩm dày, có chiều sâu… Có thể vì lý do thời gian, vì ngày nay có quá nhiều phương tiện thông tin như internet, truyền hình, phim ảnh… nên giới trẻ ít chịu khó đọc sách mà họ cho rằng có thể có những con đường khác tiếp thu kiến thức nhanh hơn. Nhưng có lẽ lý do căn bản là sự truyền nối tinh thần say mê đọc sách giữa người lớn tuổi và người trẻ tuổi chưa thực sự tốt, dẫn đến sự “đứt đoạn” trong “mạch” yêu thích đọc sách.
Vài năm gần đây, tại TP.HCM, nhiều hội chợ sách giảm giá đã được tổ chức và thu hút đông đảo những người yêu sách. Trong các hội chợ, lúc nào người tham quan và mua sách cũng đông đúc. Đó là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng người ham thích đọc sách vẫn còn nhiều, mặc dù hiện nay, các phương tiện thông tin ngày càng nhiều, lượng thông tin ngày càng phong phú. Đặc biệt, đến với các hội sách, lực lượng đông đảo vẫn là các bạn trẻ. Trong các hội sách, nhiều loại sách đã được bán giảm giá đến 70% - 80%. Dù sách giảm giá cao, nhưng vẫn có khá nhiều sách hay, đã đáp ứng được một phần đáng kể cho những bạn đọc “eo hẹp” về tài chính, nhất là sinh viên – học sinh. Một số sách có giá trị như Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng triều luật lệ, An Nam chí lược… cùng nhiều loại sách kỹ thuật, ngoại văn, nhất là tin học và kể cả các bộ tiểu thuyết của Kim Dung… nếu không được giảm giá sẽ khó đến được với người đọc bình dân. Đó là chưa kể nhiều loại sách chính trị thường khó kiếm tại các nhà sách. Ngoài ra, tại đây, truyện tranh thiếu nhi cũng có khá nhiều, giá giảm bình quân 50%, hoặc có giá từ 2.000 – 5.000 đồng, phục vụ một phần đáng kể cho các em nhỏ.
Thời gian gần đây, sách giảm giá đã xuất hiện nhiều hơn trên... các lề đường! Hoàn toàn không phải sách tồn kho, sách “ế”, đó là loại sách mới, chưa bóc bìa nylon, kể cả những sách vừa phát hành, đã được bày bán phổ biến trên vỉa hè với giá bình quân giảm 30%. Ngay cả ấn bản Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi hai mươi hồi mới ra được báo chí ngợi ca hết lời, cũng đã “xuống đường” với giá rẻ hơn giá bán của NXB đến trên 20%! Nhiều bộ sách dày, in đẹp của các NXB danh tiếng cũng được bán với giá rất mềm so với trong các nhà sách. Theo một số người thạo nghề xuất bản, những loại sách “vỉa hè” này có thể xuất xứ từ những nhà in lậu với kỹ thuật tinh vi không kém gì các nhà in hợp pháp. Chính vì không phải trả phí xuất bản và rút ngắn khâu phát hành nên các đầu nậu sách “sẵn lòng” bán rẻ hơn các sách “thật” mà cơ bản vẫn không thay đổi hình thức sách.
Phần lớn sách mới xuất bản hiện nay có giá khá cao, bù lại được trình bày đẹp mắt, chất lượng giấy tốt. Đó là một sự tương phản so với khoảng mười lăm năm trở về trước, khi sách có giá khá rẻ, mỗi lần xuất bản từ vài chục ngàn đến cả trăm nghìn bản, trong khi chất lượng giấy và trình bày lại không đẹp. Dù vậy, đối với người đọc trẻ, sách in theo lối cũ vẫn có mặt thu hút nhất định, nhất là về giá cả và không quá khan hiếm, vì họ không quá chú trọng đến hình thức sách. Còn như hiện nay, trừ sách giáo khoa và các sách được trợ giá của NXB Giáo dục, nếu so sánh tương đối, còn lại đều nằm trên mức thu nhập bình quân của người lao động bình thường và đại bộ phận các bạn trẻ.
Rõ ràng các đợt hội chợ bán sách giảm giá đã tạo điều kiện cho công chúng, trong đó có đông đảo học sinh, sinh viên, được tiếp cận nhiều hơn với sách, với các tác giả nổi tiếng, nói chung là tri thức. Các công ty phát hành sách tuy giảm giá bán nhưng bù lại được rất đông khách hàng; là một hình thức tiếp thị, quảng bá thương hiệu hiệu quả. Trên hết, các hoạt động này đã khơi gợi lòng yêu sách và say mê đọc sách trong giới trẻ. Bên cạnh đó, dù không thể đồng tình với việc in nhái, ăn cắp bản quyền, nhưng rõ ràng các sách in lậu đã tạo điều kiện cho các độc giả ít tiền dễ dàng tiếp cận hơn với các tác phẩm hay. Xét ở một góc độ tích cực, sách lậu đã góp phần thúc đẩy các nhà xuất bản tích cực giảm giá bìa để sách phù hợp với túi tiền người đọc hơn nữa, tránh tình trạng giá sách quá cao hiện nay.
Đó cũng cách xây dựng văn hóa đọc mà có người đã lo ngại rằng hiện đang bị “biến dạng”. Xét cho cùng, muốn có văn hóa đọc (sách) thì phải tạo điều kiện để người ta có sách mà đọc đã!

Thời sự và suy nghĩ

ĐỪNG ĐỂ NGƯỜI TRỒNG LÚA BỊ LẠC LÕNG GIỮA 4 NHÀ

Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải từng nêu chuyện hợp tác chặt chẽ giữa “5 nhà” – nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà băng (ngân hàng) và nhà nông. 4 nhà còn lại phải tích cực giúp đỡ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho nhà nông thì nông nghiệp mới phát triển, từ đó thúc đẩy nền kinh tế đi lên. Nhìn hẹp hơn, người trồng lúa là một bộ phận chiếm số lượng lớn trong nông dân và có vai trò cực kỳ quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực, vì vậy họ càng cần được quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn nữa.

Nhà nước phải chủ động hơn nữa
Với vai trò quản lý, điều hành, định hướng của mình, nhà nước – cụ thể là các cơ quan quản lý về nông nghiệp (bộ, sở, phòng…) cần chủ động hơn nữa trong việc hoạch định các chính sách, mục tiêu về nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng ở địa bàn mình phụ trách. Chẳng hạn, Bộ NN&PTNT cần có chiến lược sản xuất lúa gạo trong từng giai đoạn cụ thể; với nhu cầu đó (cho tiêu dùng, để đảm bảo an ninh lương thực, để xuất khẩu…) thì cần đề ra những mục tiêu cụ thể ra sao; khảo sát tình hình thổ nhưỡng, sự biến đổi của khí hậu, sự chuyển hóa mục đích sử dụng đất… như thế nào để có kế hoạch sản xuất cho phù hợp; xác định lượng gạo để sử dụng trong nước, để xuất khẩu để có biện pháp dự trữ kịp thời, hợp lý… Tương tự như vậy, các sở từng tỉnh thành cũng phải tính toán xem trong những năm tới khả năng sản xuất lúa gạo của địa phương là bao nhiêu, vùng nào có thể trồng lúa và nên trồng loại lúa gì cho năng suất cao, có hiệu quả kinh tế lớn… Các nghiên cứu, khảo sát này được thực hiện tốt thì từ đó nhà nước có thể chỉ đạo cho các trung tâm khuyến nông, các viện - các trường nghiên cứu nông nghiệp… có biện pháp nghiên cứu tình hình biến đổi khí hậu, thổ nhưỡng, giống lúa, các biện pháp nâng cao năng suất… Nhà nước hoàn toàn có thể ban hành những chính sách hỗ trợ nông dân (trực tiếp hoặc gián tiếp) sao cho có lợi cho người trồng lúa nhất mà không vi phạm các thỏa thuận với các tổ chức quốc tế về bảo hộ nông sản.
Nhà nước cũng phải có trách nhiệm nắm bắt thị trường, tìm kiếm đầu ra ổn định cho lúa gạo, nhất là phát huy vai trò điều tiết, chi phối (một cách lành mạnh, tích cực) của các doanh nghiệp nhà nước về thu mua, chế biến và xuất khẩu lúa gạo. Nhà nước không thể để nông dân tự “bơi” trong ruộng lúa của mình mà phải giúp họ “bơi” đúng lối, “bơi” khỏe, thậm chí nếu cần thì sẵn sàng thả “phao” để giúp họ. Những điều này cần được quán triệt cụ thể, cặn kẽ cho đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp; phải tuyệt đối tránh quan liêu, hành chính, bàn giấy, mệnh lệnh với nông dân, trong đó có những người làm ra “hạt ngọc” nuôi sống tất cả chúng ta.

Các “nhà” khác phải gắn lợi ích của mình với nhà nông
Lẽ dĩ nhiên, các “nhà” khác không thể chờ sự chỉ đạo cụ thể của nhà nước mới xắn tay vào cùng với nông dân chăm lo cho từng cây lúa. Các “nhà” này cần gắn lợi ích của mình với người trồng lúa – người trồng lúa có lợi càng nhiều thì bản thân mình cũng có lợi tương ứng và ngược lại, nếu nông dân gặp lỗ lã thì bản thân các “nhà” này cũng phải chia sẻ.
Như các nhà khoa học, phải xác định được rằng các giống mới, các phương pháp canh tác mới, các loại thuốc/phân có ích cho cây lúa… không phải chỉ có lợi cho bản thân mình mà phải góp phần đem lại lợi ích cho nông dân. Có như vậy, các nhà khoa học mới đẩy mạnh nghiên cứu, chú ý giảm giá thành, tuyên truyền rộng rãi để nhiều người dân cùng được hưởng lợi.
Nhà doanh nghiệp không phải chỉ chăm chăm kiếm lợi từ việc mua bán lúa của nông dân mà phải có nghĩa vụ “lại quả” cho người trồng lúa nếu năm nào đó giá xuất khẩu lên cao bằng cách đẩy giá mua cho nông dân cùng những ưu đãi khác. Nếu năm nào giá thấp, phải chấp nhận không lãi hoặc chịu lỗ (nhất là các doanh nghiệp nhà nước) để cho nông dân không bị lỗ. Một doanh nghiệp chịu lỗ, có thể chỉ ảnh hưởng một số ít người lao động nhưng lại có lợi cho rất nhiều nông dân, thì từ đó có tác dụng tích cực cho toàn xã hội.
Các ngân hàng (nhất là ngân hàng nông nghiệp) cần có chương trình tín dụng riêng cho nông dân – như cho vay ưu đãi nhưng huy động lãi suất cao – coi như chỉ phục vụ miễn phí cho nông dân. Ngân hàng cũng cần có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu lúa gạo để các doanh nghiệp này chủ động nguồn vốn, tăng khả năng hỗ trợ cho nông dân.
Tức là, các “nhà” này phải xắn quần lội ruộng với nông dân, thay vì chỉ ngồi ở bàn giấy; nông dân dầm mưa thì họ cũng dãi nắng, nông dân dính bùn thì họ cũng lấm đất… Có vậy, hạt lúa làm ra mới trở thành sản phẩm của chung nhiều người, từ đó nhiều người mới thông cảm, chia sẻ nỗi nhọc nhằn của nông dân và mới biết quý trọng “hạt ngọc”.

Đừng để người trồng lúa bị đơn lẻ, lạc lõng
Hiện nay, người trồng lúa còn chưa liên kết lại với nhau mà gần như sản xuất độc lập, có phần manh mún. Đó là một bất lợi vì không phát huy được nhân công, trí tuệ, vốn liếng, phương tiện sản xuất… Đã vậy, chính nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp… cũng không thực sự mặn mà gắn kết với nông dân. Người ta ít thấy lãnh đạo địa phương đi thăm đồng hay hỏi han tình hình sản xuất của nông dân; ít có doanh nghiệp xuống tận đồng “đặt cọc” lúa hay chịu mua tận nơi; các công trình cải tiến giống lúa cũng không nhiều, mà trong đó có một phần do chính những nông dân thứ thiệt nghĩ ra… Nếu nói người trồng lúa hiện nay ít nhiều còn bị đơn lẻ, lạc lõng thì cũng không phải là quá đáng.
Chính vì vậy, sự hợp tác “5 nhà” phải đặt nhà nông vào vị trí trung tâm, trong đó người trồng lúa phải là hạt nhân của trung tâm đó, ít nhất trong giai đoạn nước ta vẫn là nước nông nghiệp với hơn 60% dân số sống ở nông thôn. Dù là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng vấn đề an ninh lương thực ở nước ta chưa thực sự bền vững; chỉ một thông tin thiếu gạo thôi (hồi năm 2008, thực tế không hề thiếu) mà đã phát sinh rất nhiều vấn đề phức tạp. Vì vậy, toàn xã hội phải chăm lo cho người trồng lúa nhiều hơn để họ ngày càng sản xuất được nhiều lúa gạo hơn, chất lượng tốt hơn, phục vụ tích cực hơn cho phát triển đất nước.

Bài thơ

CHỢ MƯA

Chợ mưa
Những quầy hàng xao xác
Đôi chòm cây xào xạc
Lá vàng rụng trên những tán dù đỏ xanh…

Chợ mưa
Ướt những mái hiên thò thụt
Đẫm những lề đường nhấp nhô
Sẫm những chiếc nón trắng vàng thôi chen chúc.

Chợ mưa
Bà bán thịt chẳng thèm đãi bôi
Cô bán rau không còn tưới nước
Chị hàng nước coi phim hài chốc chốc phá lên cười.

Chợ mưa
Ướt những chiếc ôm vắng khách
Dăm anh tụ nhau bên bàn cờ tha hồ sát phạt
Tiếng “chiếu” gõ bàn run rẩy cả giọt mưa.

Chợ mưa
Thằng bé còng lưng vác bao ve chai ướt sũng
Bước chân đen chẳng để dấu hờ nơi chợ vắng
Lạc loài cả những con chó đi hoang.

Chợ mưa
Tiếng rao vé số thêm buồn
Tiếng guitar của lão mù thêm não nuột
Những cánh tay run run chìa ra nhút nhát.

Chợ mưa
Không gian không còn “ồn như cái chợ”
Nhưng vẫn hăng hăng mùi của rác, của cá
Của những giọt mồ hôi thấm dấu cần lao.

Chợ mưa
Không là chợ trưa, cũng chẳng phải chợ chiều
Nhưng vẫn là chợ của cảnh quan bừa bộn
Vẫn có những mảnh đời lăn lộn mưu sinh.

Chợ mưa
Đời thêm buồn như trời mưa!

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI ĐẨY MẠNH CƠ KHÍ HÓA ĐỒNG RUỘNG

Kể từ Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và nông nghiệp nói riêng, việc cơ khí hóa đồng ruộng từng bước được chú trọng. Tuy nhiên, đến nay, tình trạng sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng lúa nói riêng làm theo kiểu truyền thống vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi. Đó là việc nông dân vẫn dùng trâu bò để cày bừa; sạ, cấy, gặt vẫn theo cách thủ công; việc tưới tiêu vẫn bằng những chiếc gàu sòng; việc vận chuyển vẫn chủ yếu bằng sức người hoặc trâu bò; việc phơi lúa vẫn dùng lòng lề đường; có nơi còn đập lúa bằng tay… Cách làm này tốn nhiều công, kéo dài thời gian, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thất thoát nhiều và dĩ nhiên làm tăng giá thành của hạt lúa.
Giá thành sản xuất lúa cao trước hết gây giảm lợi nhuận, tăng rủi ro cho nông, đồng thời cũng giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Nhìn rộng hơn, chính điều này cũng làm giảm lợi ích của toàn xã hội, giảm sức cạnh tranh của thương hiệu gạo Việt Nam. Do đó, cần phải đẩy mạnh cơ khí hóa đồng ruộng. Bản thân nông dân phải chủ động nhưng đây cũng là trách nhiệm của các ngành, các cấp, nhất là các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
Việc cơ khí hóa quá trình sản xuất lúa, cần chú ý:
Thứ nhất, ở tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất các phương tiện, máy móc phục vụ nông nghiệp, chẳng hạn, tài trợ cho các phát minh, sáng kiến, hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp sản xuất máy móc dùng trong nông nghiệp…
Thứ hai, nhà nước cần có nhiều biện pháp ưu đãi hơn nữa để nông dân có thể mua sắm được máy móc, phương tiện phục vụ nông nghiệp, được sử dụng các phương tiện cơ khí trong sản xuất lúa, như cho vay vốn với lãi suất thấp, tặng máy móc cho nông dân sản xuất giỏi hoặc có sáng kiến tăng năng suất trồng lúa, đầu tư các cơ sở phơi sấy, các điểm trữ lúa, các trạm bơm phục vụ tưới tiêu…
Thứ ba, nhà nước cần tổ chức, hướng dẫn cho người dân sử dụng phương tiện, máy móc có hiệu quả, chẳng hạn thực hiện dồn điền, đổi thửa, thành lập các hợp tác xã cơ khí nông nghiệp, cử cán bộ hướng dẫn, thành lập các trung tâm phân phối, bảo trì máy móc, thiết bị…
Thứ tư, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần có sự hỗ trợ, hợp tác chặt chẽ với nông dân để giúp người trồng lúa có thêm điều kiện trang bị thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất. Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể “ứng trước” bằng vốn hoặc máy móc cho nông dân hoặc các hợp tác xã trồng lúa, sau đó nông dân trả bằng lúa (theo giá cả hợp lý) để đôi bên cùng có lợi…
Thứ năm, các nhà khoa học cần đẩy mạnh nghiên cứu để sản xuất các phương tiện, máy móc phù hợp với điều kiện đồng ruộng trong nước, tập quán sản xuất của nông dân và tình hình thu nhập của người dân.
Trên thực tế, nếu đẩy mạnh cơ khí hóa ở nông thôn, nhất là với khu vực trồng lúa, được đẩy mạnh, sẽ góp phần giải quyết thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp ngay tại nông thôn, như lái máy cày máy kéo, mua bán, sửa chữa máy móc cùng nhiều dịch vụ khác.

Thời sự và suy nghĩ

NGHĨ VỀ BẰNG CẤP TRONG XÃ HỘI HIỆN NAY

Nói gì thì nói, trong xã hội ta hiện nay, bằng cấp vẫn là một thang giá trị để đánh giá trình độ học vấn, qua đó phản ánh năng lực, là một tiêu chí để tìm việc làm. Có mấy người tự giới thiệu mình có khả năng này khác rồi được nhận vào làm việc mà không cần xem xét đến bằng cấp? Hay có mấy người chấp nhận tốn tiền đi học để cho biết mà không cần lấy bằng?... Nói vậy để thấy rằng bằng cấp là một phần của cuộc sống, là một trong những mục tiêu quan trọng mà mỗi người – nhất là thanh niên – luôn hướng tới. Tức là, bằng cấp là mục tiêu của mỗi cá nhân mà cũng là yêu cầu của xã hội – cụ thể là của người sử dụng lao động.
Vì vậy, phải phân biệt bằng cấp thông qua con đường học vấn nghiêm túc với việc chạy theo bằng cấp bằng mọi giá. Không ít người phản nhà, cầm ruộng, bản thân đi làm thuê để cho con em đi học, nếu không lấy được bằng cấp thì không thể coi là đạt được mục đích. Một số người khác trong lúc đi học còn phải làm việc vất vả, cũng chỉ mong cuối cùng lấy được tấm bằng để tìm được công việc tốt hơn, có thu nhập cao hơn. Như vậy cả bản thân người học và phụ huynh của họ đều phải nỗ lực, phấn đấu, để đạt được kết quả tích cực trong học tập, thể hiện qua tấm bằng.
Ngược lại, ta phải phê phán, lên án những người không học có được tấm bằng mà không học tập nghiêm túc. Họ dùng tiền thuê người đi học, thuê người làm luận văn, luận án, để “chung chi” cho một số giáo viên làm ngơ “cho qua”; họ dùng quyền lực để tạo áp lực cho giáo viên, cho nhà trường mà lấy điểm; họ lợi dụng tâm lý “thôi kệ” của một số cá nhân trong ngành giáo dục để đi từng bước một rồi lấy tấm bằng mà không cần nỗ lực học tập thực sự… Những người này có bằng thật nhưng học giả. Thậm chí có người còn dùng tiền mua bằng giả.
Thật khó có lý do để bảo rằng chạy theo bằng cấp là “vấn nạn”. Những người chạy tìm tấm bằng nhưng qua nỗ lực học tập thì nên động viên, khuyến khích học. Chỉ những người chạy theo bằng cấp mà không qua học hành nghiêm túc mới đáng bị lên án; hành vi đó mới đáng coi là vấn nạn.
Cũng phải nói thêm rằng, nỗ lực học tập để có tấm bằng thì không nên quan trọng đó là bằng gì, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… Tuỳ theo năng lực và điều kiện của từng người, từng lúc mà phấn đấu lấy tấm bằng cho phù hợp. Người có năng lực vừa phải, điều kiện gia đình khó khăn thì nên tập trung lấy tấm bằng nghề để nhanh đi làm, có thu nhập trang trải cuộc sống, nếu lại cố lấy cho được bằng đại học thì mới là không nên. Cũng như vậy, người đã có bằng đại học, đã đi làm nhưng muốn tranh chức quyền, cố “chạy” để được học cao hơn vừa tốn tiền bạc của nhà nước mà còn làm nội bộ cơ quan bất ổn, thì rõ là không nên…
Tóm lại, bằng cấp là một trong những thước đo học vấn. Có bằng cấp mà có học vấn thực chất thì nên xem là điều tích cực, không chỉ cho cá nhân đó mà còn cho xã hội. Còn ngược lại, có bằng mà không thông qua học hành nghiêm túc thì chỉ tạo ra giá trị học vấn ảo, sẽ gây tác hại không chỉ cho bản thân mà cho cả xã hội.

Thời sự và suy nghĩ

NÊN NHÂN RỘNG MÔ HÌNH TRỒNG HOA CHỐNG SÂU RẦY

Một mẩu tin nhỏ trên báo Tuổi trẻ ngày 24-2-2010 về trồng hoa chống sâu rầy cho lúa ở huyện Cai Lậy (Tiền Giang) thật đáng quan tâm. Đây là một trong những biện pháp trồng lúa “sạch” cần được nghiên cứu, ứng dụng và nhân rộng ở nhiều địa phương khác, trên nhiều loại cây trồng khác.
Riêng trong việc trồng lúa, khoảng trên 20 năm trở về trước, nông dân rất ít sử dụng thuốc trừ sâu, bởi khi đó các loại thuốc trừ sâu còn ít, giá cả còn cao. Quanh đi quẩn lại người ta chỉ dùng Basudin, DDT…, có tác hại lớn đến môi trường do quá độc và chậm phân hủy. Nông dân thường dùng các biện pháp “tự nhiên” như tránh trồng vụ nghịch, chọn giống kháng sâu rầy mạnh, thả vịt cho ăn sâu rầy… Những biện pháp tuy an toàn nhưng hiệu quả không cao. Những năm gần đây, nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, thuốc bảo vệ thực vật ngày càng có nhiều chủng loại hơn, trừ sâu rầy hơn, giá cả rẻ hơn và tương đối an toàn hơn cho người và một số loại động vật khác. Tuy nhiên, cũng vì vậy mà một số loại nông sản có nguy cơ nhiễm dư lượng thuốc trừ sâu nhiều hơn, các động vật có ích cũng bị giết nhiều hơn.
Từ năm 2002, ngành khuyến nông đã đưa ra áp dụng chương trình “3 giảm, 3 tăng” trong canh tác lúa (giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân đạm và giảm phun thuốc trừ sâu; tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế) thì việc giảm sử dụng thuốc trừ sâu được đặc biệt quan tâm. Cùng mục đích giảm chi phí (trong đó có việc giảm sử dụng chất hóa học), tăng hiệu quả cây trồng, ngành khuyến nông cũng đã đưa ra chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (gọi tắt là IPM). IPM (Intergrated Pest Managerment) là chương trình quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống điều khiển dịch hại bằng cách sử dụng hài hoà những biện pháp kỹ thuật một cách thích hợp trên cơ sở phân tích hệ sinh thái đồng ruộng một cách hợp lý để giữ cho chủng quần dịch hại luôn ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế. Có 5 biện pháp cơ bản trong IPM: canh tác kỹ thuật; sử dụng giống; đấu tranh sinh học và cách phòng trừ sinh học; điều hòa; sử dụng hóa chất khi cần thiết và hợp lý. Các nguyên tắc cơ bản của chương trình IPM là: trồng cây khỏe: cây có sức chống chịu cao; làm giàu thiên địch, tạo điều kiện cho thiên địch phát triển và nhân giống; thường xuyên thăm vườn để có biện pháp cụ thể, kịp thời; nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng. Trong khi đó, nông sản xuất khẩu của nước ta phải tuân thủ các yêu cầu về vệ sinh và an toàn ngày càng cao hơn.
Như vậy, việc trồng hoa chống sâu rầy trên ruộng lúa do Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam thực hiện ở Tiền Giang là một trong những giải pháp cụ thể để thực hiện chương trình sản xuất an toàn. Việc trồng hoa này có nhiều lợi ích: hạn chế sâu rầy cho lúa (từ đó giảm lượng phân bón); giảm lượng thuốc trừ sâu phải phun xịt; bảo vệ môi trường (tăng các loại thiên địch, trong đó có những loài mà con người có thể khai thác) và người nông dân; có thể thu lợi từ một số loại cây trồng như mè, đậu bắp… Thực hiện mô hình này nhìn chung là rất rẻ, phù hợp với phần đông nông dân ở nước ta. Do đó có thể nhân rộng ra nhiều nơi. Quá trình nhân rộng cần chú ý:
Thứ nhất, quan tâm việc “dồn điền đổi thửa”, “tích tụ ruộng đất” để có được những mảnh ruộng tương đối lớn, từ đó dễ canh tác (nhất là ứng dụng phương tiện cơ giới) và có thể đắp được những bờ bao đủ rộng để trồng được những loại cây này.
Thứ hai, nghiên cứu những loại cây phù hợp cho từng loại thổ nhưỡng và có khả năng thu hút sâu rầy cho loại cây sản xuất để thực sự có tác dụng.
Thứ ba, tổ chức tập huấn, hướng dẫn và cung cấp giống cho nông dân để có thể thực hiện tốt mô hình này.
Thứ tư, nghiên cứu để ứng dụng không chỉ trên ruộng lúa mà còn nhiều loại cây trồng khác.
Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của nông dân về việc sản xuất các loại nông sản “sạch”, có chất lượng cao, giảm chi phí, tăng hiệu quả.
Xét cho cùng, sản xuất có chất lượng, năng suất cao và thân thiện với môi trường là một yêu cầu quan trọng của nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng. Đó cũng là một yêu cầu trong phát triển bền vững.