Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Câu chuyện giáo dục

TỰ HÀO VỀ GS NGÔ BẢO CHÂU, BĂN KHOĂN VỀ NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ

Sự kiện GS Ngô Bảo Châu giành được giải thưởng Fields năm 2010 danh giá là niềm tự hào của tất thảy người Việt Nam, cả trong và ngoài nước, cả những người quan tâm đến khoa học hay không, cả những người có đam mê toán học hay không. Ngày hôm nay, chúng tôi liên tục cập nhận thông tin trên mạng và xúc động đến phát khóc khi có tin tên GS được xướng cùng với ba nhà khoa học khác. Dù sự kiện này đã được dự báo từ trước rồi!
Hiện tượng Ngô Bảo Châu cho thấy tầm vóc trí tuệ của người Việt Nam, có thể nói là không thua kém dân tộc nào trên thế giới. Với Ngô Bảo Châu, chúng ta càng tự hào khi đã có những tên tuổi tầm cỡ thế giới như GS-BS Tôn Thất Tùng, chuyên gia hàng đầu thế giới về gan; GS Tạ Quang Bửu, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục vượt tầm thời đại; GS Trần Đức Thảo, một trong những nhà triết học của thế kỷ XX… Rồi hàng loạt học sinh – sinh viên đoạt giải cao trong các kỳ thi Olympic toán học, tin học, vật lý, hóa học… quốc tế. Hay nhiều lần đội tuyển sinh viên nước ta đoạt quán quân tại các kỳ thi sáng tạo robot châu Á… Những bộ óc Việt Nam đã làm lá cờ Việt Nam tung bay rạng rỡ khắp thế giới!
Vui đó nhưng không thể không chạnh lòng nghĩ đến nền giáo dục hiện tại của nước ta. Dù đã có những sinh viên xuất sắc ở nhiều lĩnh vực, có những ý tưởng độc đáo ở các cuộc thi nhưng từ lâu Việt Nam đã rất hiếm hoi mới có một nhà khoa học tầm cỡ thế giới. Nếu có, hầu hết lại gắn với môi trường giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, làm việc ở nước ngoài, chứ không phải xuất phát từ trong nước. Rõ ràng, với nhiều nước phát triển, họ có điều kiện để những nhà khoa học phát huy được tài năng của mình nhưng phải chăng Việt Nam chỉ thiếu những điều kiện về vật chất, phương tiện? Câu hỏi đó dường như là cả một băn khoăn về nền giáo dục nước nhà của rất nhiều người nặng lòng với giáo dục.
Không băn khoăn sao được, khi mà thời Pháp thuộc, vốn điều kiện học tập rất khó khăn, lại có chính sách ngu dân của thực dân Pháp cùng một “định hướng” sẵn là người đi học phải phục vụ cho chế độ cai trị Pháp, vậy mà nước nhà cũng đã có những tài năng lỗi lạc. Còn hiện nay, tất cả những “ràng buộc” đó không còn, trong khi về danh nghĩa, lại có rất nhiều điều kiện để phát triển tài năng thì nhân tài khoa học tầm cỡ lại “như lá mùa thu”. Nhiều người đã nhắc đến những yếu tố như “cơ chế”, “cái tâm”, “cái tầm” của nhà quản lý, hay cả một triết lý giáo dục phù hợp. Quả thật, để có tinh hoa ở một vài nhân tài kiệt xuất thì không thể trông cậy vào sự “ngẫu nhiên” vào một thời điểm nào đó mà quan trọng là phải nâng chất của cả một nền giáo dục. Tức là với cái nền càng cao, càng lớn thì cái đỉnh mới càng cao, càng dày. Có như vậy mới với được cái tầm của thế giới.
Hy vọng sự kiện Ngô Bảo Châu không phải để trở thành phép “thắng lợi tinh thần” mà qua đó có thể gợi mở ra nhiều điều tích cực, thiết thực để nâng chất nền giáo dục nước nhà. Có như vậy mới có thêm nhiều Ngô Bảo Châu khác!

Câu chuyện thể thao

MỘT GIẢI BÓNG ĐÁ KỲ CỤC!

V-League và Giải hạng Nhất năm 2010 vừa khép lại. Đã 10 năm hình thành sân chơi chuyên nghiệp nhưng mọi thứ vẫn còn rất nghiệp dư, đến độ có người cho rằng “các cầu thủ nghiệp dư lãnh lương cao”. Đó chỉ là một biểu hiện của một giải bóng đá kỳ cục!
Kỳ cục phải kể từ các BTC giải. BTC giải đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng giải đấu, hạn chế tiêu cực nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Có những quyết định thiếu thuyết phục, gây tranh cãi và không giải quyết được các biểu hiện tiêu cực, nhất là vấn nạn bạo lực sân cỏ. Quyết định cấm CĐV Hải Phòng đến các sân khác quả thật như một trò đùa.
Trong khi đó, dù nhiều người đã cho rằng V-League là giải đấu hấp dẫn nhất Đông Nam Á nhưng giải đấu này không tác động nhiều đến chất lượng đội tuyển quốc gia khi các cầu thủ trẻ phải cạnh tranh quyết liệt với các cầu thủ nước ngoài. Các cầu thủ ngoại tạo nên “làn sóng” nhập tịch nhưng họ lại không được ưu tiên gọi vào các đội tuyển.
Các đội dù đầu tư tiền tỉ nhưng ít khát khao vô địch và niềm vui (và tiền thưởng) trụ hạng lại (có khi) lớn hơn nhiều so với việc đăng quang. Chỉ có 2,5/14 suất rớt hạng nhưng tránh vị trí đó là mục tiêu đầu giải của tất cả các đội. Đó là chưa kể kết quả trụ hạng không hẳn dựa vào thực lực mà còn có thể dựa vào các “mối quan hệ”, vào “tình cảm”.
Các trọng tài vẫn bị ta thán nhiều, không phải vì chuyên môn mà vì những “thiên lệch” đáng tiếc. Nhiều người lại đòi hỏi “cái dũng” và sự trong sáng của người cầm cân nảy mực thay vì yêu cầu cao về năng lực chuyên môn.
Còn các HLV, thay vì là người nắm được toàn quyền về chuyên môn lẫn chỉ đạo cầu thủ, thì chỉ ngồi được trên cái ghế có một chân, các chân còn lại có thể bị lãnh đạo đội, nhà tài trợ và nhất là cầu thủ, “đá” văng bất cứ lúc nào. Với kiểu thay HLV theo kết quả của vài trận, có lẽ sẽ không có bề dày thành tích theo “triều đại” kiểu Ferguson ở M.U., Wenger ở Arsenal…
Các cầu thủ có vẻ như được trả lương cao hơn nhiều so với đóng góp của họ cho đội bóng, cho khán giả và cho nền bóng đá Việt Nam. Giá trị “ảo” thể hiện từ các hợp đồng, các khoản “lót tay” cho đến tiền lương, tiền thưởng. Trong khi đó, hiện tượng cầu thủ ít chú trọng giữ mình và giữ đôi chân của các cầu thủ bạn ít nhiều lên tiếng báo động về đạo đức cầu thủ. Có không ít cầu thủ quan tâm học tiểu xảo hơn là rèn kỹ xảo, có nhiều thủ thuật hơn là phát huy kỹ thuật, chiến thuật.
Trong khi đó, sự cổ vũ của một bộ phận khán giả gần như ngày càng trở nên thiếu văn hóa. Họ dường như có nhiều cách “khiêu khích” BTC và không ngại tấn công CĐV đội bạn. Nhiều người cũng đã chịu khó đến sân hơn nhưng một số khác lại tỏ ra quay lưng với các giải đấu trong nước.

Những kỳ cục này chính là những nghịch lý của các giải đấu và của cả nền bóng đá Việt Nam.
Vậy mà gần như mùa giải nào cũng “thành công tốt đẹp”. Mùa nào, các hạn chế, khuyến điểm vẫn được hứa sẽ khắc phục nhưng tình hình vẫn không được cải thiện căn bản, thậm chí có điểm còn trầm trọng hơn. Những điều này đòi hỏi BTC các giải phải thực sự nghiêm túc nhìn nhận, cầu thị lắng nghe góp ý và quyết liệt trong xử lý. Xét cho cùng, thành công của giải đấu phải nằm ở 2 điểm: sự phục vụ tích cực cho khán giả và thúc đẩy nền bóng đá nước nhà phát triển. Những yếu tố khác như hiệu quả kinh tế, quảng bá thương hiệu của nhà tài trợ… chỉ là thứ yếu!

Ảnh


Trúc Giang làm họa sĩ

Thời sự và suy nghĩ

TỪ ĐỒNG NGHĨA, TỪ GẦN NGHĨA – NÉT ĐẶC SẮC CỦA TIẾNG VIỆT

Nói về sự giàu và đẹp của tiếng Việt, xin mượn câu chuyện nhỏ: năm 1945, khi còn dạy học ở Huế, GS Nguyễn Lân đã đề nghị học trò của mình tìm trong tiếng Việt từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với từ couper (chặt, xắt, cắt…) trong tiếng Pháp. “Tôi không ngờ - GS kể lại – anh chị đã đưa đến ba bốn chục từ Việt Nam. Thí dụ về tác dụng của con dao, anh chị em đã nêu lên: cắt bánh, chặt cành, bổ củi, đẵn cây, róc mía, đẽo cày, ngả cây, chẻ tăm, vót đũa, gọt bút chì, xắn bánh dẻo, cắt giò, xén giấy, thái thịt, tiện mía, cứa cổ, chém đầu, beng đầu, phanh thây, xẻo mũi, mổ bụng, vằm mặt, vạt mặt, rạch đùi, băm bầu, khía bầu dục, phát bờ, phát bụi, lạng mỡ, khoét lỗ, tỉa thuỷ tiên, khắc tên…”
(1)
Nói về từ “mang” – từ được coi là “trung tính” để diễn tả hành động dời một vật từ nơi này sang nơi khác, nhà nghiên cứu Long Điền Nguyễn Văn Minh trong Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, đã liệt kê những từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa: ẵm, bê, bế, bồng, bưng, cầm, cắp, cáng, cõng, chở, dắt, giắt, dun, dảy, đẩy, đem, đeo, đèo, đội, đun, đưa, gánh, gồng, kéo, kèm, khênh, khiêng, khuân, lê, lăn, lôi, nâng, nẫng, nưng, nhấc, ôm, quẳng, quảy, tải, tha, tung, vác, vần, vất, võng, vứt, xe, xách(2).
Nói về cái chết, Bằng Giang đã thống kê được… 1.001 cách diễn đạt
(3), trong đó có nhiều cách diễn đạt mang tính đặc thù trong một văn bản nhất định, còn nhiều cách diễn đạt khác có thể coi là từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa.
Dĩ nhiên, mỗi từ sắc thái biểu cảm, ý nghĩa và cách dùng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí có những nét khác xa nhau mà không thể lẫn lộn được. Chẳng hạn, chỉ có thể nói bửa củi, chẻ củi, chặt củi chứ không thể cắt củi, chém củi, vót củi…; cũng như có thể nói bưng, cầm, cắp cái rổ mà không thể nói giắt, đeo, khuân cái rổ… Cũng như vậy, không thể nói “vị tướng quân đã băng hà” hay “hàng ngàn anh hùng liệt sĩ đã bỏ mạng vì nền độc lập, tự do của dân tộc”…
Trên thực tế, có những sự vật, hiện tượng gần gũi với nhau, có liên hệ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau, vì vậy phải dùng từ (ngữ) cho chính xác, tức là gọi tên cho chính xác. Chẳng hạn, ao, bàu, đầm, đìa, hồ, kênh (kinh), khe, lạch, phá, rạch, sông, suối, vịnh, vũng… đều có chung đặc điểm là nơi chứa (nhiều) nước nhưng với ao, bàu, đầm, đìa, hồ… thì nước tĩnh, không có dòng chảy; còn kênh, lạch, rạch, sông, suối… lại có nước chảy. Dù vậy, giữa ao và đìa cũng không giống nhau – đìa là nơi được đào rồi để cá vào ở tự nhiên, còn ao là nơi được đào để nuôi cá. Hay giữa kênh và rạch cũng khác nhau – kênh là do con người đào nên, còn rạch là dòng chảy tự nhiên (nhưng lại khác với suối, rạch chỉ dòng chảy ở vùng đồng bằng)…
Do đó, để giới thiệu nét đặc sắc của tiếng Việt, qua đó khơi gợi lòng yêu quý tiếng ngôn ngữ của dân tộc trong học sinh, trong chương trình dạy và môn Tiếng Việt (hay Ngữ văn), ngay từ tiểu học, cần chú ý giảng và thực hành nhiều về từ đồng nghĩa, gần nghĩa. Đây cũng là cách để khơi gợi sự suy nghĩ cho các em, từ đó nâng cao khả năng tư duy, tính chủ động, năng động… trong học sinh.
(1) Dẫn theo Tiếng Việt phong phú, Bằng Giang, NXB Văn hóa, 1997, tr.20.
(2) Long Điền Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, Hoa Tiên xuất bản, năm 1950, tr.31-42.
(3) Tiếng Việt phong phú, sđd.

Ảnh


Hai chị em

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI TÔN TRỌNG CÁC QUYỀN CỦA HÀNH KHÁCH


Quan hệ vận tải hành khách là một giao dịch dân sự, thường là giao dịch miệng; đôi khi vé là một hình thức thỏa thuận (hợp đồng) để xác định giao dịch đó. Trong giao dịch dân sự, bao giờ cũng đặt vấn đề quyền và nghĩa vụ của đôi bên. Quyền của nhà cung cấp dịch vụ là có thể từ chối giao dịch nếu hành khách không đáp ứng các yêu cầu an toàn của đơn vị vận tải, có hành vi, lời nói xúc phạm hoặc tấn công nhân viên của đơn vị vận tải hay có vi phạm pháp luật (mang chất bị cấm lên phương tiện…), được nhận phí vận tải… Nghĩa vụ của đơn vị vận tải là đưa hành khách (và hành lý) đến nơi yêu cầu (nhiều khi theo thời gian nhất định) một cách an toàn. Quyền của hành khách là được yêu cầu đơn vị vận tải đón và đưa đến nơi an toàn theo đúng thỏa thuận (nhiều trường hợp phải đảm bảo theo thời gian nhất định), được cư xử tôn trọng, được đảm bảo sức khỏe, tài sản và tính mạng, được phục vụ đúng thỏa thuận… Nghĩa vụ của hành khách là phải trả phí vận tải, đảm bảo thực hiện đầy đủ các yêu cầu hợp lý để giữ an toàn của đơn vị vận tải cũng như pháp luật về vận tải…
Trên thực tế, trong vận tải hành khách đường bộ, quyền của đơn vị vận tải (còn gọi là “nhà xe”), nghĩa vụ của hành khách thường được thực hiện đầy đủ, còn nghĩa vụ của nhà xe và quyền của hành khách lại ít được quan tâm. Chẳng hạn, có không ít nhà xe có thái độ không đúng mực với hành khách, thậm chí còn chửi mắng, hành hung hành khách khi họ yêu cầu nhà xe đảm bảo các quyền lợi chính đáng của họ. Hiện có nhiều nhà xe vi phạm nghiêm trọng pháp luật về an toàn giao thông và vận tải hành khách công cộng, như chở quá số người cho phép, chạy quá nhanh, chạy lấn tuyến, tài xế điều khiển phương tiện khi đã uống rượu, thậm chí còn say ma túy… Còn hành khách hiếm khi có thể yêu cầu được nhà xe thực hiện hiện đúng cam kết vận chuyển, phải chấp nhận phó thác theo sự chủ động của tài xế, chạy nhanh hoặc chạy chậm, chạy suốt hoặc chạy lòng vòng (để đón khách), phải chịu sự sắp xếp chỗ ngồi, không theo số ghế trên vé đã đành mà còn phải ngồi ghép (4 người ngồi 3 ghế, 5 người ngồi 4 ghế), ngồi ghế “xúp”… Thậm chí có trường hợp, vì quá bức bách một chỗ trên xe, hành khách phải nằm trong hầm xe, nấp trên mui xe, mắc võng nằm lơ lửng trong xe… Hoặc việc nhà xe không thực hiện đúng thỏa thuận về mức phí (đi giữa đường đòi tiền thêm) hoặc không đưa khách đến nơi hai bên đã thống nhất, hoặc “sang xe”, bán khách… Hay việc phải “chịu trận” với khói thuốc lá trong xe cũng là việc gần như không thể nào làm khác! Nói cách khác, hành khách gần như hoàn toàn bị động khi đã lên xe, chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ chứ khó đòi được đáp ứng cách quyền chính đáng của mình.
Rõ ràng, nhiều người đi xe chưa ý thức đầy đủ các quyền (và cả nghĩa vụ) của mình khi tham gia vào một giao kết dân sự là đi xe khách, trong khi nhà xe lại quá quan tâm đến các quyền của mình mà ít chú ý đến nghĩa vụ đối với hành khách. Khi hai bên có quyền và nghĩa vụ không “khớp” với nhau hoàn toàn thì giao dịch dễ phát sinh những vấn đề phức tạp. Từ đó dễ tạo ra hình ảnh chưa thực sự đẹp, còn thiếu nét văn hóa, văn minh trong hoạt động vận tải hành khách.
Do đó, để quan hệ dân sự vận chuyển hành khách đạt kết quả tốt đẹp cho cả đơn vị vận tải và hành khách thì một trong những yêu cầu quan trọng là tuyên truyền sâu rộng về pháp luật an toàn giao thông và vận tải hành khách, trong đó cần nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ của các bên. Đặc biệt, cần tôn trọng các quyền của người đi xe để đảm bảo sức khỏe, tài sản, tính mạng của hành khách.
Cụ thể, tại các bến xe khách, nhất là trên các xe khách, cần có các bảng ghi rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ vận tải hành khách cùng hình thức chế tài nếu có vi phạm. Ban quản lý các bến xe, thanh tra giao thông và cảnh sát giao thông có thể kiểm tra và xử phạt những nơi không thực hiện nghiêm túc việc công khai này. Bên cạnh đó, cần lập đường dây nóng (và ghi rõ trên các bảng này, theo lộ trình di chuyển của xe) để hành khách hoặc người dân có thể phản ánh về tình trạng vi phạm pháp luật trong quá trình vận tải hành khách… Lẽ dĩ nhiên, khi phát hiện các hành vi vi phạm, các cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm để tăng tính răn đe và giáo dục.

Thời sự và suy nghĩ

PHẢI ƯU TIÊN DÙNG HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM

1. Nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam hiện nay để cạnh tranh được phải lợi dụng tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng để gọi bằng những cái tên ngoại: gạo thơm Thái, thơm Mỹ, mận Thái, mận Ấn Độ, táo Úc, táo Trung Quốc, nho Mỹ, nho Đài Loan… Dù những sản phẩm đó được sản xuất ngay tại trong nước. Điều trớ trêu là những nông sản “Việt Nam 100%” thì lại phần lớn được xuất khẩu chứ ít được phục vụ người tiêu dùng trong nước, nhất là những người tiêu dùng bình dân, như vú sữa Lò Rèn, bưởi Năm Roi Mỹ Hòa, sầu riêng hạt lép Ri-6, sầu riêng cơm vàng Mong Thong, gạo Tám Xoan, gạo Nàng Thơm Chợ Đào…
Vì vậy, người Việt ăn trái cây Việt mà ngỡ là trái cây nước ngoài, còn trái cây ngon của Việt Nam lại phần nhiều bán ra thế giới! Đó là một nghịch lý đau lòng.
2. Trong khi nhiều loại nông sản đang vất vả tìm đầu ra thì người ta đã coi thường Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” bằng cách thoải mái cho nhập chuối từ Philippines. Trong thời buổi hội nhập, việc “giao lưu” sản phẩm là đương nhiên nhưng nếu sự giao lưu đó có nguy cơ làm hại sản phẩm cùng loại trong nước thì phải tính lại, sao cho không vi phạm các quy định của WTO mà vẫn bảo vệ được nông dân.
Bài học này xem ra vẫn còn chưa thuộc, khi trước giờ, việc nhập khẩu muối, hạt điều thô (về chế biến), sợi bông… vẫn khá thường xuyên và gây khó khăn cho nông dân trong nước. Đó có phải vì lợi ích cục bộ của một số doanh nghiệp, một số ngành mà bỏ qua lợi ích của rất đông nông dân không?
3. Nhiều người cứ hình dung Cuộc vận động này là ưu tiên dùng những mặt hàng công nghiệp, chế biến chứ ít nghĩ đến nông sản. Trong khi nhiều loại nông sản nước ta có vị trí hàng đầu thế giới nhưng lại khá bấp bênh trong nước. Hồ tiêu, cà phê, hạt điều… giá cả liên tục trồi sụt, nông dân lao đao thì giá trên thị trường thế giới vẫn thường ổn định ở mức cao. Tức là, vì bị thương lái và nhà xuất khẩu chi phối nên họ luôn có lãi, chỉ có nông dân chịu thiệt.
Nếu Cuộc vận động này tác động được người Việt Nam ưu tiên dùng nông sản Việt Nam thì sẽ giải quyết được một cách cơ bản tình trạng “trúng mùa, thất giá” của nông dân. Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền ưu tiên dùng các loại nông sản trong nước thì nhà nước phải có những biện pháp xây dựng thị trường nông sản nội địa thật ổn định và vững mạnh. Đó là phải quy hoạch vùng sản xuất thật khoa học, tổ chức công tác khuyến nông thật tốt, lập các chợ đầu mối hợp lý, xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh phù hợp… Có như vậy, mỗi loại nông sản mỗi vùng mới trở thành một thương hiệu thực sự, có ý nghĩa kích thích người tiêu dùng trong nước sử dụng nhiều hơn.

Thời sự và suy nghĩ

NÊN DẠY TỪ HÁN – VIỆT

Tôi vẫn còn nhớ, hồi học đại học, một hôm thầy giáo vào lớp bảo mỗi sinh viên lấy một tờ giấy giải thích những từ sau: báo, chí, báo chí, phóng, viên, phóng viên, phóng, sự, phóng sự… Những sinh viên ngành báo chí không phải là dân “ngoại đạo” với chữ nghĩa nhưng hôm ấy đều “ngắc ngứ”! Lần khác, học môn biên tập báo chí, thầy Trần Chút lắm lần phê bình lớp chúng tôi bởi rất nhiều trường hợp “lợn lành chữa thành lợn què” mà trong đó có không ít lỗi liên quan đến từ Hán – Việt.
Có lẽ đây là những ví dụ không xa lạ gì với tất cả chúng ta. Sự nhầm lẫn chữ nghĩa có liên quan đến từ Hán – Việt xảy ra rất thường xuyên, đến độ người làm báo cũng mắc phải.
Một số thí dụ:
- Trong bài Người xởi lởi dễ ngoại tình trên VNExpress ngày 30-5-2007, Patrick Markey nhận định rằng những người nhiệt tình lại dễ lăng loàn bởi theo một cách nào đó, điều này mâu thuẫn với tư tưởng đạo đức rằng quan hệ chung chạ là điều xấu. Theo Từ điển tiếng Việt, "lăng loàn" là "có những hành vi hỗn xược, bất chấp mọi đạo đức, luân lý, xúc phạm người trên, không chịu phục tùng theo khuôn phép (thường nói về phụ nữ trong quan hệ với chồng hoặc bố mẹ chồng)". Trong thực tế, đôi khi người ta hiểu nhầm “lăng loàn” mang tính “lăng nhăng” về quan hệ nam nữ.
- “Với nhà thơ Phạm Tiến Duật, cuộc đời anh như một bài thơ dài, những câu thơ của nhà thơ chiến sĩ từng tiếp lửa, sưởi ấm bao tâm hồn trong chiến tranh cũng như hòa bình, thì nay lúc nhà thơ nằm xuống, những người yêu anh, trong đó có cả những người chỉ yêu thơ mà chưa được gặp đã đến sưởi ấm nhà thơ phút lâm chung này. (Tang lễ nhà thơ Phạm Tiến Duật: Vĩnh biệt một nhà thơ xuất sắc, Công an nhân dân online, ngày 12-12-2007). "Lâm chung" là sắp tắt thở, sắp chết. "Phút lâm chung" là thời khắc mà con người sắp từ giã cõi đời, trong khi ở đây phóng viên đang viết về lễ tang nhà thơ Phạm Tiến Duật (mất từ ngày 4-12-2007, lễ tang tổ chức ngày 11-12-2007) nên không thể nói “phút lâm chung" trong hoàn cảnh này! Đây cũng là một lỗi thường mắc phải, khi người viết dùng từ mà không hiểu từ hoặc hiểu theo “cảm giác”.
- Trang Lãnh đạo của báo VietNamNet có bài Cựu thủ tướng Ukraina "thoát y" trang sức trước Quốc hội, đăng ngày 10-10-2006. Bài báo nói về hành động tháo bỏ đồ trang sức đang đeo trên người của cựu thủ tướng Tymoshenko. Trong bài báo này, tác giả dùng cụm từ thoát y trang sức dù chữ thoát y có được đặt trong ngoặc kép, là không chính xác. Thoát y có nghĩa là (tự) cởi quần áo, không thể dùng cho trang sức.
Tiếng Việt hiện nay dùng có rất nhiều Hán – Việt và từ có gốc Hán – Việt. Đặc biệt là trong các văn bản hành chính, từ loại này chiếm “áp đảo”. Nhưng không phải ai cũng hiểu và hiểu đúng các từ này. Kể cả trên báo chí, nhiều trường hợp dùng sai, có thể làm một bộ phận người đọc hiểu sai theo và bắt chước.
Chính vì vậy, tôi ủng hộ ý kiến của GS-TS. Nguyễn Đức Dân cho rằng nên dạy từ Hán – Việt trong nhà trường. Tôi có một số đề xuất sau:
- Nên có chương trình dạy từ Hán – Việt từ đầu cấp II (lớp 6), vì đây là lúc mà học sinh có vốn từ cơ bản hoàn chỉnh và bắt đầu tiếp cận nhiều hình thức văn bản trong đó có sử dụng nhiều từ Hán – Việt.
- Nội dung dạy từ Hán – Việt nên là một phần trong chương trình dạy môn Tiếng Việt (hoặc Ngữ văn) vì thực tế từ Hán – Việt là một phần không thể tách rời của tiếng Việt.
- Về thời lượng, nên chiếm khoảng 1/3 tổng thời gian học về từ, ngữ của tiếng Việt nói chung; có kiểm tra riêng ở phần học này là kiểm tra kết hợp trong phần học về tiếng Việt. Chương trình này nên kéo dài ít nhất cho đến hết cấp II.
- Về nội dung, nên dạy khái quát về từ Hán – Việt (lịch sử hình thành, số lượng, cách sử dụng, cấu tạo từ…), những từ cụ thể (cấu tạo, nghĩa, cách sử dụng, cách viết)…
- Nên gắn việc dạy từ Hán – Việt với việc học tiếng Hoa (hiện đại) cho những học sinh có nhu cầu.
- Trước khi bắt đầu tổ chức dạy từ Hán – Việt, cần dạy về nội dung này trong các trường sư phạm, sau đó chọn lựa giáo viên nghiêm túc, tổ chức tập huấn cẩn thận… Thời gian đầu, nên có giáo viên dạy về từ Hán – Việt riêng, sau khi giáo viên dạy môn Tiếng Việt (Ngữ văn) được tập huấn, bồi dưỡng đầy đủ và tích lũy được nhiều kinh nghiệm thì có thể dạy cả nội dung này.
Tốt hơn hết, Bộ Giáo dục – Đào tạo nên lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, các nhà giáo và các tầng lớp nhân dân về việc có nên hay không nên dạy từ Hán – Việt (hoặc tiếng Hán) trong nhà trường; nếu có thì dạy như thế nào…
Xét cho cùng học từ Hán – Việt là nhu cầu của học sinh nhưng trên hết đó là để sử dụng tiếng Việt cho đúng (cho hay), để góp phần gìn giữ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2010

Ảnh nhà tù Côn Đảo







Côn Đảo xưa vẫn còn lưu dấu đến ngày nay...

Câu chuyện giáo dục

Giúp trẻ ngoan, học giỏi, phòng tránh bạo lực học đường:
GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG PHẢI HỢP TÁC CHẶT CHẼ

Lâu nay, nhà trường nhận học sinh vào học nhưng thường ít khi yêu cầu phụ huynh cho biết thói quen, tính tình, sở thích… của trẻ. Còn với phụ huynh, khi gửi trẻ cho nhà trường cũng hiếm khi cho giáo viên biết những đặc điểm đó của con em mình. Trong quá trình học, thường chỉ khi trẻ có vấn đề gì nổi bật (cả tích cực lẫn tiêu cực) thì giáo viên mới cho phụ huynh biết một số (chỉ những nét cơ bản) đặc điểm của trẻ. Như vậy có một khoảng trống trong sự quan tâm giữa nhà trường và gia đình đối với trẻ. Khoảng trống đó có thể phát sinh những vấn đề bất ngờ, khó lường trước và thường là không tích cực.
Trong thực tế, gia đình luôn có nhu cầu muốn biết thời gian trên lớp, trong trường, con em mình có những biểu hiện nổi bật gì, có những thói quen gì, chơi với những bạn nào, quan hệ với các bạn ra sao, thái độ học tập như thế nào… Gần như chỉ cách để biết duy nhất là hỏi trẻ - một số cách khác như trực tiếp quan sát, theo dõi qua ghi hình trực tuyến… thường rất khó thực hiện. Nhưng trẻ thường cũng trả lời không đầy đủ, bên cạnh sự ngại ngần nhất định thì có một số hoạt động mang tính thói quen, vô thức thì trẻ cũng khó kể lại một cách chính xác. Mặt khác, các bậc cha mẹ cũng thường ít có đủ kiên nhẫn để hỏi và nghe kể một cách tường tận. Trong khi đó, với trẻ học bán trú hoặc học 2 buổi ở trường, thời gian trên lớp của trẻ chiếm hơn 1/3 thời gian trong ngày; khoảng thời gian còn lại phần nhiều dành để ngủ, nghỉ ngơi; thời gian gần gũi giữa cha mẹ và con cái còn lại rất ít, và trẻ càng lớn thời gian này lại càng ít hơn. Như vậy, tiếp tục có một khoảng trống khác trong sự quan tâm của gia đình đối với trẻ.
Hiện nay, xét về cơ chế, có không ít biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Họp phụ huynh mỗi năm 2 lần một thí dụ. Mục đích chính của cuộc họp này là nhà trường thông báo chương trình học tập, tình hình và kết quả học tập của trẻ; giải đáp những thắc mắc của phụ huynh về việc học của trẻ… Thế nhưng hiện nay, các cuộc họp thường sa vào việc bàn về những khoản đóng góp. Do đó, các cuộc họp này gần như không còn nhiều ý nghĩa thắt chặt mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường (thậm chí phụ huynh không cần dự họp, miễn sao đóng đầy đủ các khoản vận động là được). Hay với sổ liên lạc, sự trao đổi thông tin giữa hai phía cũng rất hạn chế. Trong sổ này, thường chỉ có điểm số các môn học, vài nhận xét ít ỏi, đại loại “môn x. còn hạn chế, cần nỗ lực hơn”, “trong giờ học còn thụ động, cần tích cực phát biểu hơn”. Phía gia đình sau khi đọc xong, cũng thường chỉ ký tên để chứng tỏ là có đọc chứ cũng không góp ý nhiều. Thành ra giữa đôi bên chỉ dừng lại việc biết rằng bên có ghi/xem sổ liên lạc. Với sổ liên lạc điện tử, dù có nhiều khoảng trống để ghi ý kiến, nhận xét nhưng thực tế không phải giáo viên hay phụ huynh nào cũng dành nhiều thời gian để viết cho đầy đủ các thông tin.
Để định hướng cho sự phát triển tâm sinh lý của trẻ một cách đúng hướng, đầy đủ, rõ ràng nhà trường và gia đình phải có sự hợp tác chặt chẽ bằng những phương pháp phù hợp. Trong đó cần tránh quan tâm quá nhiều vào việc học mà xem nhẹ những biểu hiện khác. Chẳng hạn nên lý giải vì sao trẻ thụ động, ít phát biểu: có phải trẻ không thích học môn này, có phải trẻ chưa chuẩn bị bài kỹ, có phải giáo viên chưa biết cách gợi câu hỏi phù hợp với trẻ, có phải trẻ nghe không rõ, có phải trẻ không thích sôi nổi… Nếu chỉ đơn thuần cho rằng trẻ học chưa chăm thì có thể bỏ qua những biểu hiện tâm sinh lý khác đang tồn tại, từ đó lại có phương pháp giáo dục không hợp lý. Hay việc kết bạn của trẻ cũng rất đáng quan tâm. Trẻ có chơi với nhiều bạn không? Trẻ chơi với những nhóm bạn nào, nam hay nữa, những bạn đó học có chăm không, các bạn đó có hay nghịch không…? Trẻ đối xử với bạn như thế nào, hòa đồng, gần gũi hay thích chỉ huy hoặc sẵn sàng chịu sự sai khiến của bạn? Trẻ có hay chia sẻ đồ vật, quà bánh với bạn không, có hay kể chuyện cho bạn nghe và nghe bạn trò chuyện không? Trẻ thích những trò nào với bạn, có hay sử dụng bạo lực không, có mắng mỏ bạn hoặc phản ứng khi bị bạn mắng không... Tất cả những điều đó đều có thể biểu hiện một dạng tâm lý, một tính cách của trẻ, mà nếu ta hiểu rõ có thể uốn nắn, định hướng kịp thời và phù hợp.
Tiếc rằng những điều đó hiện nay còn chưa được chú ý, cả phía gia đình lẫn nhà trường. Trong đó, bạo lực trong học sinh cũng có một phần từ nguyên nhân này. Tức là chúng ta đã bỏ qua những chi tiết nhỏ, mang tính hiện tượng mà nó đang hàm chứa một bản chất hoặc nó có thể tích luỹ để trở thành một hiện tượng phức tạp. Nếu chúng ta kịp thời nhận thấy và có biện pháp điều chỉnh thì đã giảm được những vụ việc đáng tiếc như vừa qua.
Để sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả hơn, gia đình và nhà trường (nhất là giáo viên đứng lớp) cần có nhiều dịp gặp gỡ, trao đổi với nhau hơn. Đầu mỗi năm học, nhà trường nên bố trí cho giáo viên phụ trách (giáo viên chủ nhiệm) gặp gỡ với phụ huynh để đôi bên trao đổi thông tin của trẻ với nhau. Bản thân cha mẹ nên chủ động cung cấp cho giáo viên tính tình, thói quen, ưu điểm, khuyết điểm của con em mình cho giáo viên để từ đó giáo viên theo dõi, có sự điều chỉnh khi cần thiết và phản hồi cho phụ huynh biết để cùng quan tâm, uốn nắn hoặc phát huy.Xét cho cùng, nếu bất kỳ phía có ý “giao khoán” hoặc “đổ trách nhiệm” cho phía bên kia thì thiệt thòi cũng thuộc về trẻ, tức là thiệt thòi chung của toàn xã hội.

Bài đã được đăng trên báo Pháp luật, ngày 22-8-2010 tại http://phapluattp.vn/20100821103428100p0c1027/hop-phu-huynh-khong-phai-chi-de-gop-tien.htm

Bài thơ




BÀNG THIÊNG CÔN ĐẢO

Ai đã từng đặt chân lên mảnh đất thiêng Côn Đảo
Không khỏi ngỡ ngàng trước sức sống những rặng bàng xanh
Mọc hiên ngang nơi cuối bãi đầu ghành
Reo trước gió và vươn mình hướng biển.

Rừng bàng thiêng vang rì rào không ngơi tiếng
Hồn núi sông dân tộc ở đâu đây?
Hai vạn anh linh đọng ở đất này?
Như sức sống dân tộc Việt ta bất diệt?

Côn Đảo xa xôi từng là “đất giết”
Một trăm mười ba năm “địa ngục trần gian”
“Trường học” của hai mươi vạn lượt tù nhân
Nơi giam hãm những xác thân không bất khuất.

Bàng thiêng đã “học” thêm nghị lực
Sức sống này như đã truyền hết cho nhau
Khát vọng tự do qua tiếng gọi rì rào
Vài chiếc lá lót dạ trong xà lim tăm tối.

Nên cổ thụ, gốc xù xì mà bàng thêm dày lõi
Như tóc bạc người tù mà chí thêm bền
Mỗi người ngã giục người khác đứng lên
Máu dẫu đổ nhưng không lùi bước.

Đảo vẫn xanh, bàng vẫn vươn mình về phía trước
Trời tự do, trời lại thêm xanh
Ở xứ này bốn phía thấy bình minh
Dù đêm tối vẫn sáng lòng son sắt.

Những rặng bàng thiêng trên đất thiêng nhiệm nhặt
Cành lá khô sưởi ấm những đêm dài
Hạt bùi thơm thêm vị ngọt cho đời
Và dáng thẳng vẫn thắm tô những trang lịch sử.

Ai đã đến mà chẳng hề suy nghĩ
Những cây bàng như sức sống Việt Nam…