Thứ Ba, 24 tháng 8, 2010

Thời sự và suy nghĩ

NÊN DẠY TỪ HÁN – VIỆT

Tôi vẫn còn nhớ, hồi học đại học, một hôm thầy giáo vào lớp bảo mỗi sinh viên lấy một tờ giấy giải thích những từ sau: báo, chí, báo chí, phóng, viên, phóng viên, phóng, sự, phóng sự… Những sinh viên ngành báo chí không phải là dân “ngoại đạo” với chữ nghĩa nhưng hôm ấy đều “ngắc ngứ”! Lần khác, học môn biên tập báo chí, thầy Trần Chút lắm lần phê bình lớp chúng tôi bởi rất nhiều trường hợp “lợn lành chữa thành lợn què” mà trong đó có không ít lỗi liên quan đến từ Hán – Việt.
Có lẽ đây là những ví dụ không xa lạ gì với tất cả chúng ta. Sự nhầm lẫn chữ nghĩa có liên quan đến từ Hán – Việt xảy ra rất thường xuyên, đến độ người làm báo cũng mắc phải.
Một số thí dụ:
- Trong bài Người xởi lởi dễ ngoại tình trên VNExpress ngày 30-5-2007, Patrick Markey nhận định rằng những người nhiệt tình lại dễ lăng loàn bởi theo một cách nào đó, điều này mâu thuẫn với tư tưởng đạo đức rằng quan hệ chung chạ là điều xấu. Theo Từ điển tiếng Việt, "lăng loàn" là "có những hành vi hỗn xược, bất chấp mọi đạo đức, luân lý, xúc phạm người trên, không chịu phục tùng theo khuôn phép (thường nói về phụ nữ trong quan hệ với chồng hoặc bố mẹ chồng)". Trong thực tế, đôi khi người ta hiểu nhầm “lăng loàn” mang tính “lăng nhăng” về quan hệ nam nữ.
- “Với nhà thơ Phạm Tiến Duật, cuộc đời anh như một bài thơ dài, những câu thơ của nhà thơ chiến sĩ từng tiếp lửa, sưởi ấm bao tâm hồn trong chiến tranh cũng như hòa bình, thì nay lúc nhà thơ nằm xuống, những người yêu anh, trong đó có cả những người chỉ yêu thơ mà chưa được gặp đã đến sưởi ấm nhà thơ phút lâm chung này. (Tang lễ nhà thơ Phạm Tiến Duật: Vĩnh biệt một nhà thơ xuất sắc, Công an nhân dân online, ngày 12-12-2007). "Lâm chung" là sắp tắt thở, sắp chết. "Phút lâm chung" là thời khắc mà con người sắp từ giã cõi đời, trong khi ở đây phóng viên đang viết về lễ tang nhà thơ Phạm Tiến Duật (mất từ ngày 4-12-2007, lễ tang tổ chức ngày 11-12-2007) nên không thể nói “phút lâm chung" trong hoàn cảnh này! Đây cũng là một lỗi thường mắc phải, khi người viết dùng từ mà không hiểu từ hoặc hiểu theo “cảm giác”.
- Trang Lãnh đạo của báo VietNamNet có bài Cựu thủ tướng Ukraina "thoát y" trang sức trước Quốc hội, đăng ngày 10-10-2006. Bài báo nói về hành động tháo bỏ đồ trang sức đang đeo trên người của cựu thủ tướng Tymoshenko. Trong bài báo này, tác giả dùng cụm từ thoát y trang sức dù chữ thoát y có được đặt trong ngoặc kép, là không chính xác. Thoát y có nghĩa là (tự) cởi quần áo, không thể dùng cho trang sức.
Tiếng Việt hiện nay dùng có rất nhiều Hán – Việt và từ có gốc Hán – Việt. Đặc biệt là trong các văn bản hành chính, từ loại này chiếm “áp đảo”. Nhưng không phải ai cũng hiểu và hiểu đúng các từ này. Kể cả trên báo chí, nhiều trường hợp dùng sai, có thể làm một bộ phận người đọc hiểu sai theo và bắt chước.
Chính vì vậy, tôi ủng hộ ý kiến của GS-TS. Nguyễn Đức Dân cho rằng nên dạy từ Hán – Việt trong nhà trường. Tôi có một số đề xuất sau:
- Nên có chương trình dạy từ Hán – Việt từ đầu cấp II (lớp 6), vì đây là lúc mà học sinh có vốn từ cơ bản hoàn chỉnh và bắt đầu tiếp cận nhiều hình thức văn bản trong đó có sử dụng nhiều từ Hán – Việt.
- Nội dung dạy từ Hán – Việt nên là một phần trong chương trình dạy môn Tiếng Việt (hoặc Ngữ văn) vì thực tế từ Hán – Việt là một phần không thể tách rời của tiếng Việt.
- Về thời lượng, nên chiếm khoảng 1/3 tổng thời gian học về từ, ngữ của tiếng Việt nói chung; có kiểm tra riêng ở phần học này là kiểm tra kết hợp trong phần học về tiếng Việt. Chương trình này nên kéo dài ít nhất cho đến hết cấp II.
- Về nội dung, nên dạy khái quát về từ Hán – Việt (lịch sử hình thành, số lượng, cách sử dụng, cấu tạo từ…), những từ cụ thể (cấu tạo, nghĩa, cách sử dụng, cách viết)…
- Nên gắn việc dạy từ Hán – Việt với việc học tiếng Hoa (hiện đại) cho những học sinh có nhu cầu.
- Trước khi bắt đầu tổ chức dạy từ Hán – Việt, cần dạy về nội dung này trong các trường sư phạm, sau đó chọn lựa giáo viên nghiêm túc, tổ chức tập huấn cẩn thận… Thời gian đầu, nên có giáo viên dạy về từ Hán – Việt riêng, sau khi giáo viên dạy môn Tiếng Việt (Ngữ văn) được tập huấn, bồi dưỡng đầy đủ và tích lũy được nhiều kinh nghiệm thì có thể dạy cả nội dung này.
Tốt hơn hết, Bộ Giáo dục – Đào tạo nên lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, các nhà giáo và các tầng lớp nhân dân về việc có nên hay không nên dạy từ Hán – Việt (hoặc tiếng Hán) trong nhà trường; nếu có thì dạy như thế nào…
Xét cho cùng học từ Hán – Việt là nhu cầu của học sinh nhưng trên hết đó là để sử dụng tiếng Việt cho đúng (cho hay), để góp phần gìn giữ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.

Không có nhận xét nào: