TỪ ĐỒNG NGHĨA, TỪ GẦN NGHĨA – NÉT ĐẶC SẮC CỦA TIẾNG VIỆT
Nói về sự giàu và đẹp của tiếng Việt, xin mượn câu chuyện nhỏ: năm 1945, khi còn dạy học ở Huế, GS Nguyễn Lân đã đề nghị học trò của mình tìm trong tiếng Việt từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với từ couper (chặt, xắt, cắt…) trong tiếng Pháp. “Tôi không ngờ - GS kể lại – anh chị đã đưa đến ba bốn chục từ Việt Nam. Thí dụ về tác dụng của con dao, anh chị em đã nêu lên: cắt bánh, chặt cành, bổ củi, đẵn cây, róc mía, đẽo cày, ngả cây, chẻ tăm, vót đũa, gọt bút chì, xắn bánh dẻo, cắt giò, xén giấy, thái thịt, tiện mía, cứa cổ, chém đầu, beng đầu, phanh thây, xẻo mũi, mổ bụng, vằm mặt, vạt mặt, rạch đùi, băm bầu, khía bầu dục, phát bờ, phát bụi, lạng mỡ, khoét lỗ, tỉa thuỷ tiên, khắc tên…”(1)
Nói về từ “mang” – từ được coi là “trung tính” để diễn tả hành động dời một vật từ nơi này sang nơi khác, nhà nghiên cứu Long Điền Nguyễn Văn Minh trong Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, đã liệt kê những từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa: ẵm, bê, bế, bồng, bưng, cầm, cắp, cáng, cõng, chở, dắt, giắt, dun, dảy, đẩy, đem, đeo, đèo, đội, đun, đưa, gánh, gồng, kéo, kèm, khênh, khiêng, khuân, lê, lăn, lôi, nâng, nẫng, nưng, nhấc, ôm, quẳng, quảy, tải, tha, tung, vác, vần, vất, võng, vứt, xe, xách(2).
Nói về cái chết, Bằng Giang đã thống kê được… 1.001 cách diễn đạt(3), trong đó có nhiều cách diễn đạt mang tính đặc thù trong một văn bản nhất định, còn nhiều cách diễn đạt khác có thể coi là từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa.
Dĩ nhiên, mỗi từ sắc thái biểu cảm, ý nghĩa và cách dùng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí có những nét khác xa nhau mà không thể lẫn lộn được. Chẳng hạn, chỉ có thể nói bửa củi, chẻ củi, chặt củi chứ không thể cắt củi, chém củi, vót củi…; cũng như có thể nói bưng, cầm, cắp cái rổ mà không thể nói giắt, đeo, khuân cái rổ… Cũng như vậy, không thể nói “vị tướng quân đã băng hà” hay “hàng ngàn anh hùng liệt sĩ đã bỏ mạng vì nền độc lập, tự do của dân tộc”…
Trên thực tế, có những sự vật, hiện tượng gần gũi với nhau, có liên hệ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau, vì vậy phải dùng từ (ngữ) cho chính xác, tức là gọi tên cho chính xác. Chẳng hạn, ao, bàu, đầm, đìa, hồ, kênh (kinh), khe, lạch, phá, rạch, sông, suối, vịnh, vũng… đều có chung đặc điểm là nơi chứa (nhiều) nước nhưng với ao, bàu, đầm, đìa, hồ… thì nước tĩnh, không có dòng chảy; còn kênh, lạch, rạch, sông, suối… lại có nước chảy. Dù vậy, giữa ao và đìa cũng không giống nhau – đìa là nơi được đào rồi để cá vào ở tự nhiên, còn ao là nơi được đào để nuôi cá. Hay giữa kênh và rạch cũng khác nhau – kênh là do con người đào nên, còn rạch là dòng chảy tự nhiên (nhưng lại khác với suối, rạch chỉ dòng chảy ở vùng đồng bằng)…
Do đó, để giới thiệu nét đặc sắc của tiếng Việt, qua đó khơi gợi lòng yêu quý tiếng ngôn ngữ của dân tộc trong học sinh, trong chương trình dạy và môn Tiếng Việt (hay Ngữ văn), ngay từ tiểu học, cần chú ý giảng và thực hành nhiều về từ đồng nghĩa, gần nghĩa. Đây cũng là cách để khơi gợi sự suy nghĩ cho các em, từ đó nâng cao khả năng tư duy, tính chủ động, năng động… trong học sinh.
(1) Dẫn theo Tiếng Việt phong phú, Bằng Giang, NXB Văn hóa, 1997, tr.20.
(2) Long Điền Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, Hoa Tiên xuất bản, năm 1950, tr.31-42.
(3) Tiếng Việt phong phú, sđd.
Nói về sự giàu và đẹp của tiếng Việt, xin mượn câu chuyện nhỏ: năm 1945, khi còn dạy học ở Huế, GS Nguyễn Lân đã đề nghị học trò của mình tìm trong tiếng Việt từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với từ couper (chặt, xắt, cắt…) trong tiếng Pháp. “Tôi không ngờ - GS kể lại – anh chị đã đưa đến ba bốn chục từ Việt Nam. Thí dụ về tác dụng của con dao, anh chị em đã nêu lên: cắt bánh, chặt cành, bổ củi, đẵn cây, róc mía, đẽo cày, ngả cây, chẻ tăm, vót đũa, gọt bút chì, xắn bánh dẻo, cắt giò, xén giấy, thái thịt, tiện mía, cứa cổ, chém đầu, beng đầu, phanh thây, xẻo mũi, mổ bụng, vằm mặt, vạt mặt, rạch đùi, băm bầu, khía bầu dục, phát bờ, phát bụi, lạng mỡ, khoét lỗ, tỉa thuỷ tiên, khắc tên…”(1)
Nói về từ “mang” – từ được coi là “trung tính” để diễn tả hành động dời một vật từ nơi này sang nơi khác, nhà nghiên cứu Long Điền Nguyễn Văn Minh trong Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, đã liệt kê những từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa: ẵm, bê, bế, bồng, bưng, cầm, cắp, cáng, cõng, chở, dắt, giắt, dun, dảy, đẩy, đem, đeo, đèo, đội, đun, đưa, gánh, gồng, kéo, kèm, khênh, khiêng, khuân, lê, lăn, lôi, nâng, nẫng, nưng, nhấc, ôm, quẳng, quảy, tải, tha, tung, vác, vần, vất, võng, vứt, xe, xách(2).
Nói về cái chết, Bằng Giang đã thống kê được… 1.001 cách diễn đạt(3), trong đó có nhiều cách diễn đạt mang tính đặc thù trong một văn bản nhất định, còn nhiều cách diễn đạt khác có thể coi là từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa.
Dĩ nhiên, mỗi từ sắc thái biểu cảm, ý nghĩa và cách dùng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí có những nét khác xa nhau mà không thể lẫn lộn được. Chẳng hạn, chỉ có thể nói bửa củi, chẻ củi, chặt củi chứ không thể cắt củi, chém củi, vót củi…; cũng như có thể nói bưng, cầm, cắp cái rổ mà không thể nói giắt, đeo, khuân cái rổ… Cũng như vậy, không thể nói “vị tướng quân đã băng hà” hay “hàng ngàn anh hùng liệt sĩ đã bỏ mạng vì nền độc lập, tự do của dân tộc”…
Trên thực tế, có những sự vật, hiện tượng gần gũi với nhau, có liên hệ với nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau, vì vậy phải dùng từ (ngữ) cho chính xác, tức là gọi tên cho chính xác. Chẳng hạn, ao, bàu, đầm, đìa, hồ, kênh (kinh), khe, lạch, phá, rạch, sông, suối, vịnh, vũng… đều có chung đặc điểm là nơi chứa (nhiều) nước nhưng với ao, bàu, đầm, đìa, hồ… thì nước tĩnh, không có dòng chảy; còn kênh, lạch, rạch, sông, suối… lại có nước chảy. Dù vậy, giữa ao và đìa cũng không giống nhau – đìa là nơi được đào rồi để cá vào ở tự nhiên, còn ao là nơi được đào để nuôi cá. Hay giữa kênh và rạch cũng khác nhau – kênh là do con người đào nên, còn rạch là dòng chảy tự nhiên (nhưng lại khác với suối, rạch chỉ dòng chảy ở vùng đồng bằng)…
Do đó, để giới thiệu nét đặc sắc của tiếng Việt, qua đó khơi gợi lòng yêu quý tiếng ngôn ngữ của dân tộc trong học sinh, trong chương trình dạy và môn Tiếng Việt (hay Ngữ văn), ngay từ tiểu học, cần chú ý giảng và thực hành nhiều về từ đồng nghĩa, gần nghĩa. Đây cũng là cách để khơi gợi sự suy nghĩ cho các em, từ đó nâng cao khả năng tư duy, tính chủ động, năng động… trong học sinh.
(1) Dẫn theo Tiếng Việt phong phú, Bằng Giang, NXB Văn hóa, 1997, tr.20.
(2) Long Điền Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, Hoa Tiên xuất bản, năm 1950, tr.31-42.
(3) Tiếng Việt phong phú, sđd.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét