Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

Tạp bút

DẠY CON KHÔNG QUÊN NGUỒN CỘI

Ở trường mẫu giáo của con tôi, mỗi trẻ được chọn một bức hình hoặc ảnh rồi ghi tên của mình để điểm danh mỗi ngày. Có đứa chọn hình siêu nhân, hình nữ hoàng, hình công chúa, hình bông hoa… Riêng con gái tôi chọn một phụ nữ nông dân đội nón lá, tay cầm liềm…

Nhắc con không quên nguồn cội từ việc nhỏ
Con gái tôi giải thích: con chọn hình nông dân vì con biết bà nội, bà ngoại con là nông dân. Có lẽ một đứa trẻ năm tuổi còn chưa hiểu hết rằng họ hàng nội ngoại của nó ngàn đời nay đều là nông dân, chỉ có ba mẹ nó mới rời khỏi cuộc sống tay lấm chân bùn… Chắc nó cũng chưa biết gần 70% người dân Việt Nam là nông dân hoặc sống ở nông thôn. Chắc nó cũng chưa biết hầu hết những người sống ở thành phố đều có nguồn gốc từ nông dân hoặc có họ hàng đang sống ở nông thôn. Và chắc nó cũng chưa biết rằng ở đất nước này, nếu không có nông dân thì ai làm ra lúa gạo, rau quả, thịt cá mà dùng.
Tôi thấy mừng vì trong đầu óc non nớt của con gái tôi không thấy nông dân có điều gì không tốt. Tôi vẫn hay nghe con kể nhà bạn này có xe hơi, nhà bạn kia có hồ bơi… với niềm tự hào và đầy khao khát. Nhưng khi tôi hỏi con có kể gì về nhà mình cho các bạn nghe không, con gái hồn nhiên đáp: “Con nói nhà nội con có nhiều trái cây, có nhiều chó, có vườn rộng ơi là rộng; nhà ngoại con có nhiều lúa, có nhiều gà…”. Bởi vậy tôi thường xuyên kể chuyện ở quê cho con gái nghe, chuyện vất vả của những người nông dân là ông bà nó và bản thân ba nó ngày xưa. Tôi nêu ví dụ ngay: nếu không có nông dân, ai làm ra lúa gạo cho con ăn, ai trồng bông để dệt vải cho con mặc… Tôi tin là con tôi hiểu ít nhiều. Mỗi lần về quê, tôi hay đưa con đi cùng rồi giảng giải cặn kẽ cuộc sống ở nông thôn, cái hay nét đẹp của những người nông dân… Tôi cũng không quên “ôn nghèo kể khổ” rằng ba mẹ nó ngày xưa ở nông thôn nghèo khó phải vừa đi học đi làm, phải đi bộ đến trường, phải đi bắt còng giữ vịt, phải viết trên lá chuối, vẽ trên bùn, phải học bằng đèn dầu… Nhìn trong mắt con, tôi thấy sự ngạc nhiên, lạ lẫm mà cũng không thiếu sự thán phục. Có lẽ trong tâm hồn non nớt của con, nó đã thấy thêm nét đẹp, sự thần tượng của ba mẹ nó chăng và cũng thêm sự quyết tâm phấn đấu chăng?...
Dĩ nhiên, không chỉ có nguồn gốc nông dân, những dạng xuất thân ngay cả thành thị không phải lúc nào cũng gây được cho người ta sự trọng vọng. Đó là những người buôn bán vỉa hè, những người đạp xích lô, thậm chí những người nhặt rác… Con em họ sẽ kể với bạn bè giàu có ra sao về cha mẹ, ông bà của chúng? Tôi tin rằng họ cũng sẽ cố gắng tạo ra một hình ảnh tốt đẹp, lương thiện về nguồn gốc của mình để con cái họ không thấy mặc cảm, tủi thân. Nhưng có phải bao giờ họ cũng thành công?

Đừng vô tình gieo hình tượng không đẹp
Trên Tuần Việt Nam cách đây ít lâu có một người kể chuyện không vui về nông dân. Nguyên là con gái của tác giả từ trường học trở về tỏ ra buồn bã. Hỏi ra mới biết, trường con bé tổ chức cắm trại, có diễn hoạt cảnh, trong khi nhiều bạn được đóng vai vua, hoàng hậu, công chúa, được mặc đồ đẹp thì em “chỉ được” đóng vai nông dân, phải mặc đồ xấu, phải đi cày cấy, phải nấu bánh chưng, phải hầu hạ, phục vụ các bạn đóng vai vua chúa… Con bé bảo: con ghét nông dân…
Câu chuyện hẳn làm nhiều người buồn lòng, không chỉ những người xuất thân từ nông dân. Gần như tất cả chúng ta đều thấy đó là một sự phủ định đầy đau đớn. Con ông nông dân thì ghét nông dân; con anh đạp xích lô thì ghét xích lô; con chị bán hàng rong thì ghét bán hàng rong… Có phải chúng không thương cha mẹ đâu mà chính vì chúng thấy tủi thân, xấu hổ với nguồn gốc không lấy gì sang trọng của gia đình chúng. Có phải tại chúng đâu, tại người lớn đấy chứ. Bởi những người lớn trong xã hội này vẫn thường kính trọng những doanh nhân, những kỹ sư, những bác sĩ, những người giàu có, sang trọng… Người ta ít có hoặc có mà cũng phải giấu đi sự tôn trọng đối với những người nghèo khó, lam lũ. Có phải chúng ta vẫn thấy ngưỡng mộ một người ăn mặc lịch sự bước từ xe hơi xuống mà thấy thương hại, thậm chí coi thường một người nhặt rác đi từ bãi rác ra? Chính bản thân chúng ta đã nghĩ thế thì trách sao con cái chúng ta chẳng nghĩ về chúng ta điều tương tự?
Bởi vậy, mỗi người trước hết phải tỏ ra tôn trọng, yêu quý mọi thành phần trong xã hội, từ người nghèo đến người giàu, từ người lam lũ đến người sang trọng. Yêu người như thể thương thân là như vậy. Mỗi lần đọc lại, tôi đều rất cảm động với mẩu chuyện Người bán than và ông quý phái trong Tâm hồn cao thượng của Edmond de Amicis. Một người cha quý phái đã trừng phạt ngay đứa con kênh kiệu của mình hay miệt thị đứa bạn con ông bán than, rồi nồng nhiệt bắt tay người cha của đứa trẻ vừa bị con mình khinh bỉ. Bài học kính trọng con người, không kể hoàn cảnh xuất thân, phải được chính cha mẹ dạy cho con mình.
Dĩ nhiên, trong nhà trường, thầy cô cũng phải gieo cho học sinh những ấn tượng tốt đẹp về mọi thành phần lương thiện trong xã hội. Xét cho cùng, mỗi thành phần, dù có vị trí khác nhau nhưng đều tham gia đóng góp cho xã hội, chứ không phải người giàu thì có ích cho xã hội hơn người nghèo, ông doanh nhân thì có ích hơn chị lao công…

Nguồn cội gia đình và nguồn cội dân tộc
Bắt một đứa trẻ năm sáu tuổi hiểu về nguồn cội gia đình đã khó, bắt chúng hiểu về nguồn cội dân tộc lại càng khó hơn. Nhưng không phải vì khó mà chúng ta lơ là, bỏ qua. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc đặc biệt, có thể nói có sự kết tinh của những tinh thần cao quý nhất của mọi dân tộc trên thế giới: đầy sáng tạo, siêng năng, cần cù, linh hoạt, đoàn kết, yêu nước, trọng nghĩa, thương người… Dĩ nhiên, mặt trái của nó có cũng không ít. Một gia đình có thể coi là một dân tộc thu nhỏ với nhiều nét tương đồng. Một đứa trẻ biết yêu quý gia đình, biết tôn trọng xuất thân của gia đình hẳn có những tiền đề thuận lợi để hiểu biết đầy đủ hơn và yêu quý dân tộc mình hơn. Từ đó dễ hình thành tinh thần yêu nước và có trách nhiệm với đất nước hơn.
Yêu cầu một đứa trẻ phải có trách nhiệm với đất nước dĩ nhiên là quá cao, nhưng có lẽ nên hun đúc tinh thần ấy từ tuổi nhỏ, bằng những việc đơn giản cụ thể. Đâu thể bảo yêu nước là phải ra trận đánh nhau, phải góp công xây dựng đất nước, đơn giản chỉ có thể mà không vứt rác bừa bãi, học hành chăm chỉ… Một khi tinh thần ấy ăn vào tiềm thức thì sau này dễ trở thành hành động cụ thể, thiết thực.
Tình cảm gia đình gần như bao giờ cũng gắn chặt với tình cảm quốc gia, dân tộc. Cũng như những người con chí hiếu thường là những công dân tận trung; một người con thảo thường là một công dân tốt. Vì vậy, giáo dục con cái biết tôn trọng nguồn cội gia đình mình cũng là một tiền đề, là một cách để giáo dục tinh thần yêu quý dân tộc của mình. Trong Năm điều Bác Hồ dạy, “yêu Tổ quốc yêu đồng bào” được đặt lên hàng đầu. Liệu có mấy người biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào đúng nghĩa nếu họ không biết yêu quý những người thân trong gia đình mình, tôn trọng nguồn cội của mình?

Tạp bút

MÙA LÚA CHÍN

Quê tôi chỉ làm được một vụ lúa, gọi là lúa mùa. Tháng sáu âm lịch, khi mùa mưa vừa đến, thì cả vùng quê rộn ràng chuẩn bị gieo mạ. Đến tháng bảy, tháng tám, người ta mới cấy. Đến tháng mười một là mùa gặt. Thu hoạch lúa xong là chuẩn bị đến Tết.
Nhà tôi làm được bảy sào ruộng. Nhà ngay trên ruộng nên cả có có dịp chăm sóc cánh đồng nhà mình để mong được vụ mùa bội thu. Năm nào cũng vậy, đến mùa lúa chín là nước lên tràn bờ. Lũ ở vùng Đồng Tháp Mười còn đọng lại hàng tháng nhưng lũ ở quê tôi, nằm hạ nguồn của dòng Cửu Long, thì chỉ là nước lên ngập nền nhà một buổi và kéo dài trong vài ngày vào giữa con nước. Độ ba bốn lần như vậy là hết mùa nước nổi.
Lúa sắp chín, anh em chúng tôi được phát nào nắp, nào xoong, nào thùng thiếc để ra đồng đuổi chim sẻ. Không biết từ đâu, loài chim nhỏ này về đây hàng đàn để ăn lúa. Khi chim vừa sà xuống, chúng tôi vội gõ thùng, khua nắp loảng xoảng để chúng hốt hoảng mà bay đi. Chúng rời đám lúa này thì bay đến đám lúa khác; bầy này bay đi thì bầy khác bay đến; chúng tôi cứ chạy xăng xăng cho đến tối mới thôi.
Người quê tôi luôn chọn bữa nào nước thấp trong con nước kém để thu hoạch lúa. Những năm đầu giải phóng, người dân ở đây chỉ trồng lúa mùa cao dàn, khi lúa chín thường ngã rạp nên phải dùng lưỡi hái để gặt. Sau này, nhờ những giống lúa mới, lùn hơn, ngắn ngày hơn nhưng năng suất cao hơn và không còn dùng hái nữa mà dùng liềm để cắt. Vì vậy, những người trẻ tuổi thường không còn biết cách gặt lúa nữa. Lúa gặt xong, ba tôi bó lại từng bó to bằng chính thân rạ dài ngoằng, sau đó dùng đòn xóc để gánh về sân nhà. Cứ thế, ba và mẹ tôi lần lượt gặt, bó rồi gánh lúa về. Lúa được xếp thành những bức tường thành trên những chỗ cao nhất để tránh bị ngập nước. Tôi nhìn những hàng lúa cao ngất mà lẽo đẽo theo ba để hỏi: Lúa năm nay chừng được bao nhiêu giạ? Tôi lại hỏi năm ngoái nhà thu được bao nhiêu giạ để lẩm nhẩm so sánh. Anh em chúng tôi thường chơi trốn tìm sau những hàng lúa, thỉnh thoảng ngã vào lúa, mẹ tôi trông thấy thể nào cũng mắng yêu: Đi ra tụi con, xót lắm!
Những buổi chiều nghỉ học, tôi dắt mấy đứa em ra ruộng cùng trông vịt. Bầy vịt đẻ thi nhau tìm mồi trên những thửa ruộng vừa cắt lúa xong. Tôi hay tìm những cọng rạ to để làm mấy chiếc kèn rồi chia cho mấy anh em cùng thổi. Tiếng “toe toe” cứ vang vang trong gió chiều xào xạc, đọng mãi trên những ngọn dừa quanh nhà. Những bầy chim gọi nhau lũ lượt bay về tổ trong rán chiều chập choạng. Một cảm giác bình dị, thân thương mà trù phú lạ lùng.
Tôi còn nhớ, những năm đầu, máy suốt lúa còn hiếm lắm. Lúa nhà tôi thu được bao nhiêu chất đống trước sân và trong nhà, rồi cả gia đình cùng nhau… đạp. Bây giờ nói chuyện đạp lúa bằng sức người hay sức trâu bò thì lạ lắm nhưng đó là chuyện phổ biến của mấy mươi năm trước. Ba tôi là một “kiện tướng” đạp lúa. Cứ gà gáy hiệp đầu, ba đã dậy, châm bình trà nóng, uống vài li là bắt đầu đạp. Bàn chân to bản kiểu “Giao Chỉ” của ba tôi cứ rào rào trên những bó lúa. Mẹ tôi cũng luôn dậy cùng ba tôi để đạp lúa. Trời sáng, anh em chúng tôi mới dậy, hôm nào không đi học thì đi canh bầy vịt đẻ. Rảnh rỗi cũng tham gia đạp lúa. Nhưng những bàn chân trẻ con vừa nhỏ vừa mềm đạp lúa chẳng rụng là bao, chỉ một lúc lại thấy ran rát. Lúa trong nhà chỉ do ba mẹ tôi thi nhau đạp, từ sáng đến tối mịt, ngày này qua ngày khác, cho đến khi hết thì thôi. Năm nào mau hết, ba tôi lại buồn buồn ngồi giũ lại rơm xem rơm đã “chín” chưa, có còn lúa sót lại không. Năm nào được trăm giạ thì mừng như bắt được vàng…
Chỉ được hơn chục năm, gia đình tôi rời quê, tha hương cầu thực. Tôi chưa trở thành một nông dân thực thụ thì đã phải làm nghề khác. Nhiều năm sau, trở lại quê, những cánh đồng lúa cao sản, vào mùa, bông oằn như cánh cung, vàng rực như bãi sa mạc. Không còn ai gõ thùng khua nắp như xưa nữa. Cũng chẳng ai cặm cụi đạp từng bó lúa như ba tôi ngày nào. Máy suốt lúa đến tận đồng, tiếng nổ phành phạch, lúa rơi rào rào, mùi rơm với mùi bùn rạ nồng nàn, quyến luyến…
Nhưng cũng chỉ được vài năm. Còn bây giờ, đồng quê đã khác, ruộng đã được đào làm ao thả tôm sú. Chẳng còn ai trồng lúa. Chẳng còn mùa lúa chín. Chim sẻ cũng chẳng có chỗ mà ăn. Người ta bán tôm mua lúa mua gạo. Có nhiều thứ đổi thay, nhưng tự nhiên tôi thấy buồn buồn, như mất mát một cái gì đó quen thuộc, gần gũi. Phải chi có lúa để cho ba đạp và tôi chụp vài bức ảnh…

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Câu chuyện giáo dục

BÀI PHÁT BIỂU NHÂN NGÀY KHAI GIẢNG NĂM HỌC 2010 - 2011 CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC THÁI VĂN LUNG - THỦ ĐỨC (NGÀY 3-9-2010)
Kính thưa quý đại biểu, quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh thân mến,
Nhân ngày khai giảng năm học mới 2010 – 2011, thay mặt Ban chấp hành Hội Cha mẹ học sinh Trường TH Thái Văn Lung, tôi xin trân trọng gửi đến quý thầy cô và toàn thể học sinh nhà trường lời chúc mừng nồng nhiệt; kính chúc quý thầy cô và các em học sinh có một năm học mới đạt kết quả tốt nhất.
Kính thưa quý thầy cô,
Trong lời tựa của quyển Thế hệ ngày mai (viết năm 1952), học giả Nguyễn Hiến Lê có nêu tâm trạng của những bậc làm cha mẹ khi lần đầu tiên đưa con trẻ đến trường: “Suốt đời ta, chỉ có những lúc ấy là chúng ta đem con của chúng ta giao cho người lạ để nhờ uốn nắn, giáo hóa. Phải có một lòng tin người mãnh liệt hoặc một lòng thờ ơ đáng tội với tổ tiên và nòi giống mới có thể đem thịt của chúng ta, máu của chúng ta giao cho người như vậy được. Và chắc có nhiều bạn, sau khi đưa con tới trường lần đầu tiên, về nhà tự hỏi: ‘Không biết việc ta làm đó phải hay trái? Người lãnh con ta có đáng tin không? Phương pháp giáo dục có đáng tin không?’” Những câu hỏi đó của Nguyễn Hiến Lê chắc cũng là của nhiều bậc cha mẹ, từ rất nhiều thế hệ.
Quả thật nếu không có lòng tin, chúng tôi chắc sẽ không giao con em mình cho các thầy cô, những người ở gần con em chúng tôi suốt 8 tiếng mỗi ngày, hẳn còn nhiều hơn chính chúng tôi đối với con em của mình. Dĩ nhiên, bên cạnh lòng tin, chúng tôi còn có lòng mong mỏi quý thầy cô luôn coi con em chúng tôi như con em của chính mình, luôn quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban, uốn nắn các cháu một cách đúng mực bằng tình thương yêu mà như nhiều người vẫn nói – “cô giáo như mẹ hiền”.
Dĩ nhiên, các phụ huynh chúng tôi không bao giờ “khoán trắng” con em mình cho các thầy cô. Thay mặt các bậc cha mẹ, chúng tôi cam kết rằng sẽ luôn phối hợp chặt chẽ với nhà trường để việc giảng dạy của các thầy cô và việc học tập của các cháu đạt kết quả tốt nhất. Chúng tôi sẽ luôn chủ động trao đổi thông tin hai chiều với các thầy cô và nhà trường để nắm bắt kịp thời những diễn biến tâm sinh lý cũng như kết quả học tập của các cháu. Chúng tôi sẽ luôn tích cực hỗ trợ, đáp ứng các yêu cầu, đề nghị của nhà trường và các thầy cô để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Các em học sinh yêu quý,
Trong năm học 2010 – 2011 này, tất cả học sinh trường TH Thái Văn Lung được học trong ngôi trường mới khang trang, sạch đẹp. Các em được đội ngũ thầy cô giàu kinh nghiệm, nhiệt tình dạy dỗ. Các em đến trường mang theo niềm tin yêu và kỳ vọng của cha mẹ và gia đình. Ở trường, các em phải luôn vâng lời thầy cô, học tập tốt, rèn luyện thân thể tốt. Ở nhà, các em phải luôn vâng lời cha mẹ, biết tự ôn tập và giúp đỡ cha mẹ làm việc nhà. Chú mong rằng các em luôn cố gắng là con ngoan trò giỏi.Cuối cùng, một lần nữa, xin kính chúc quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh nhiều sức khỏe, nỗ lực đạt kết quả dạy và học tốt nhất.

Câu chuyện pháp luật

VIỆC ĐĂNG ẢNH CÁ NHÂN TRÊN BÁO CHÍ – NHÌN Ở GÓC ĐỘ PHÁP LÝ VÀ NHÂN VĂN

Về việc sử dụng hình ảnh cá nhân trên báo chí Điều 31 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh, có nêu:
1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Khoản 3 Điều 5 Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26-4-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, nêu những điều không được thông tin trên báo chí như sau: “Không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng án đã bị tuyên án)”.
Trên thực tế, có một số trường hợp, báo chí một mặt thực hiện chưa đầy đủ các quy định của pháp luật, mặt khác chưa thể hiện được tính nhân văn về hình ảnh cá nhân. Chẳng hạn, phóng viên đến trường cai nghiện, trại cải tạo (trại giam) chụp ảnh, quay phim học viên (tù nhân) đang học tập (thụ án) ở đây, thường chỉ cần được sự đồng ý của ban quản lý trường mà hầu như không xin phép các cá nhân (là nhân vật) trong hình, trong phim. Khi sử dụng hình, ảnh, cũng không phải lúc nào cũng có chú thích rõ ràng, đầy đủ.
Kể cả khi phóng viên thực hiện đúng quy định của pháp luật về quyền hình ảnh của cá nhân thì không phải lúc nào cũng đảm bảo tính nhân văn. Đó là việc sử dụng hình ảnh có lợi cho nhân vật hay không, hay chỉ đáp ứng yêu cầu về mặt thông tin cho phóng viên. Tính nhân văn ở đây là sự quan tâm đến một số điều như nhân vật có hoàn toàn đồng ý với việc sử dụng hình ảnh của mình hay không; nhân vật có lường hết mọi rủi ro khi hình ảnh của mình được phát công khai trên phương tiện truyền thông hay không; giả sử nhân vật hoàn toàn đồng ý thì liệu người thân của nhân vật có bị ảnh hưởng điều gì không hay từ việc đăng, phát hình ảnh này hay không; việc chú thích (hoặc lời bình) cho hình ảnh này như thế nào; tên và địa chỉ nhân vật có cần phải viết tắt hay không…
Trên thực tế có thể xảy ra trường hợp, phạm nhân đang cải tạo rất tốt, được giám thị cho tiếp xúc với báo chí để một mặt biểu dương cá nhân phạm nhân đó, nêu lên cố gắng hoàn lương và mong muốn tái hòa nhập xã hội của anh ta, mặt khác qua đó cũng tuyên truyền về môi trường giáo dục tích cực của nhà giam. Bản thân người này cũng muốn thể hiện những cố gắng cải tạo của mình. Tuy nhiên, anh ta không ngờ rằng ở nhà, vợ mình cho các con biết là cha chúng đang đi làm ăn xa, chứ không phải đang ở tù. Giả sử các con anh vô tình đọc báo (xem truyền hình) hoặc biết được do người khác nói lại thì không chỉ bản thân các cháu bị mặc cảm, đau khổ, mà điều này cũng sẽ dằn vặt vợ chồng anh ta suốt đời. Khi đó, việc thông tin hình ảnh, tên tuổi của phạm nhân dù đúng pháp luật nhưng không nhân văn chút nào, hay không muốn nói là thiếu tình người. Rõ ràng, hầu hết người đang cải tạo, cai nghiện… đều không muốn cho nhiều người biết về tình trạng của mình, trong khi đó, báo chí với nhu cầu thông tin của mình, nếu không thận trọng có thể trở thành “chứng tích” không chỉ suốt đời của nhân vật đó mà còn của nhiều người khác liên quan nữa. Câu chuyện của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo TP.HCM, nêu trong tham luận tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ IX, rất đáng chú ý: Một phóng viên quay phim ở Bình Thuận đã cương quyết “chống lệnh”, không quay tiếp cảnh một phạm nhân nam đang khóc, vì phạm nhân ấy năn nỉ: “Xin đừng đưa tôi lên truyền hình nữa, đừng để vợ con tôi ở nhà xem ti vi lại thêm một lần tủi khổ khi nhìn thấy tôi thế này nữa…”
Vì vậy, những người làm báo khi chụp ảnh, quay phim và sử dụng hình ảnh của các cá nhân, nhất là các cá nhân đang liên quan đến pháp luật, một mặt phải đảm bảo các quy định của pháp luật, mặt khác phải luôn chú ý đến tính nhân văn. Người làm báo phải luôn tự hỏi và trả lời rằng việc đăng phát hình ảnh đó có gây hại cho ai hay không, nhất là bản thân nhân vật và người thân của họ.
Xét cho cùng, nếu chỉ nói quyền của nhà báo và quy định của pháp luật về quyền hình ảnh không thôi mà không quan tâm đến tính nhân văn thì có khi gây hậu quả khó lường!

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Tạp bút

BÁC XE ÔM TRONG CHIỀU MƯA…

Một chiều mưa, tôi đưa cả gia đình ra cầu vượt Gò Dưa (Thủ Đức) chờ xe nhà để đi thăm người bà con ở Bình Phước. Một bác xe ôm già chờ khách gần đó hỏi: “Chú về đâu?”. Thay cho câu trả lời, tôi chỉ cười, ý rằng “cháu không đi xe ôm đâu bác ơi!”. Vài phút sau, tôi thấy mình thật thất lễ nên bắt chuyện: “Bác có tuổi rồi mà vẫn chạy xe sao?” Bác cười bảo: “Chạy kiếm thêm chú ơi!” Tôi hỏi tiếp: “Bác chạy mỗi ngày kiếm được bao nhiêu?”. Bác lại cười hồn hậu, tay gãi gãi mái tóc bạc trắng đáp: “Vô chừng lắm chú ơi! Có bữa bảy tám chục, có bữa hai ba chục đủ đổ xăng”. Vừa lúc đó, xe khách dừng vội trả khách, bác rước một thanh niên đi về phường Tam Phú. Bác đưa nón bảo hiểm, anh thanh niên bảo: “Khỏi, gần đây mà bác!” Bác cười nói: “Gần cũng phải đội chứ, công an họ phạt chú thì cũng phiền tôi!” Thế là anh cầm lấy nón để hờ hững lên đầu, chẳng buồn cài dây…
Chờ hơn mười lăm phút, xe kẹt rất dài từ Suối Tiên cho đến Linh Trung, vợ chồng tôi hết đứng lại ngồi, chịu sự “tra tấn” của hàng loạt tiếng kèn hơi xe tải đinh tai nhức óc, của khói bụi… Bác xe ôm đã trả khách, trở lại đậu xe dưới gầm cầu vượt. Bác hỏi: “Chú đi đâu vậy?”. Tôi đáp: “Cháu đi Bình Phước”. Bác hướng dẫn: “Đi Bình Phước, Sông Bé hả? Chú xuống ngã tư Bình Phước đón xe từ Bến xe Miền Đông thì dễ hơn”. Tôi cảm ơn bác và bảo mình đang chờ xe nhà. Vừa lúc đó, bác lại có khách, còn xe chúng tôi cũng vừa đến.
Trên xe, tôi còn nghĩ đến nụ cười mộc mạc, hồn hậu của ông lão ở tuổi “cổ lai hi” vẫn kiếm sống bằng từng cuốc xe ôm, giữa ồn ào, khói bụi, hiểm nguy, trong một chiều mưa nhợt nhạt. Ở tuổi đó, bác có thể nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Ở buổi chiều đó, bác có thể ở nhà vui với con cháu. Vậy mà bác vẫn còn ở ngoài đường, vẫn có thể nở nụ cười tươi trẻ trung, yêu đời, quan tâm đến người khác. Bác đã cho tôi một bài học về cách sống có ích.

Câu chuyện giáo dục

THƯ GỬI CON NHÂN NGÀY VÀO LỚP MỘT

Con gái yêu,
Vậy là con đã bắt đầu vào lớp một. Ba đưa con tới trường rồi dắt tay con vào tận cầu thang dẫn lên lớp học, ôm hôn con trước khi vẫy tay chào con. Xung quanh con, nhiều bạn cùng khối cũng được ba mẹ đưa vào lớp. Có bạn còn mếu khóc. Dĩ nhiên con của ba luôn tươi cười mỗi lần đến lớp, vì con đã làm quen với trường lớp từ khi 12 tháng tuổi.
Con yêu,
Trường của con là một ngôi trường khang trang, sạch đẹp. Sân trường tuy không rộng lắm nhưng luôn mát mẻ bởi tán gần chục cây me tây cổ thụ. Những dãy phòng mới xây còn phảng phất mùi vôi, mùi hăng hăng của verni ở những bàn ghế mới. Tiếng cười nói rộn ràng, những khuôn mặt trẻ thơ hồn nhiên của các con thật đáng yêu.
Khung cảnh ngày đầu năm học của con đã làm ba nhớ lại ngày đầu tiên vào lớp một của ba hồi gần 30 năm trước. Ngày đó, bà nội dắt ba đến trước trường rồi để ba tự vào. Ngày xưa trường của ba không có cổng, cũng chẳng có hàng rào. Trường của ba vừa là dãy phòng xây cũ, mái lợp tôn, vừa là dãy phòng tre lá. Trước sân trường cũng có mấy cây me tây già đương xanh lá. Dưới sân còn có vài vũng nước. Ba đi chân trần như phần đông học trò ngày đó, bước trên cát mịn mát lạnh. Ba không biết lớp mình chỗ nào, nhác thấy có đứa bạn hồi mẫu giáo, ba liền bước vào. Mấy bận như vậy ba mới vào đúng lớp của mình, sau khi cô giáo dò sổ thấy có tên ba trong đó… Ngày xưa, việc này rất bình thường, ba cũng chẳng có ấn tượng gì về việc có ý giận bà nội không đưa vào đúng lớp học – thời đó ai cũng vậy mà!
Nhìn con xúng xính bộ đồng phục mới, vai mang chiếc cặp con được thưởng do thành tích vẽ xuất sắc hồi lớp lá, ba lại nhớ ngày ba vào lớp một. Ba không có cặp, cũng chẳng có đồng phục, chẳng có sách giáo khoa. Ba đi học chỉ có vài cuốn vở, giấy màu ngà, in hình cầu thủ đá banh ngoài bìa. Học trò trường làng có gì mặc nấy, đứa quần dài đứa quần ngắn, đứa áo thun đứa áo sơ mi, có đứa mặc pyjama nữa. Hầu hết đi chân trần, bàn chân cáu bẩn bởi vừa đi vừa nghịch cát. Sau ba mươi năm, thế hệ các con đã may mắn hơn thế hệ của ba rất nhiều.
Ba nhìn trường lớp bề thế của các con mà lại nhớ cái trường cũ ngày xưa. Ở dãy phòng lợp tôn thì còn khá, chứ còn dãy phòng lợp lá thì ngày mưa thầy trò phải cùng nhau dời kéo bàn ghế để tránh chỗ dột. Không khí lớp học lúc đó thật vui! Nền đất đầy cát nên đôi lúc tụi học trò còn tranh thủ bắt con cút (kiến sư tử) làm hang như những chiếc phễu…
Con ơi,
Quần áo, cặp sách, giày dép, trường lớp mỗi thời có khác nhau, ở mỗi gia đình cũng không giống nhau; cách dạy và học mỗi thời cũng có điểm khác biệt. Nhưng mục tiêu học tập thời nào cũng là dạy dỗ các trò biết đọc biết viết, có kiến thức, có văn hóa, có đạo đức, để trở thành những người có ích. Thế hệ của ba lớn lên trong lúc đất nước còn khó khăn nên có nhiều thiệt thòi. Nhiều người đã không thể đến trường; nhiều người khác phải nghỉ học giữa chừng. Nhưng những người đã chuyên tâm học hành vẫn trở thành người có ích. Bạn bè của ba nhiều người vẫn vào đại học rồi trở thành kỹ sư, bác sĩ, nhà báo, giáo viên… Nghĩ lại ba vẫn thấy tự hào về thế hệ của mình. Và dĩ nhiên ba cũng luôn biết ơn ông bà nội đã nuôi nấng, dạy dỗ ba nên người, trong đó có việc quyết tâm cho ba ăn học.
Con ơi,
Mỗi ngày ba đưa con đến trường là mỗi ngày ba hi vọng con học được nhiều điều hay, nhiều điều có thể giúp con trong thực tế cuộc sống. Đưa con tới trường là ba đặt cho con nhiều kỳ vọng vào sự cố gắng của con để học hành chăm chỉ, mai này trở thành người có ích cho xã hội. Con mới vào lớp một mà ba đã đặt nhiều kỳ vọng như vậy e là quá sớm, nhưng thực ra mọi thứ bắt đầu từ ngày hôm nay. Con có học tốt từ lớp một mới tạo tiền để học tốt ở những năm học sau.
Hãy luôn cố gắng nghe con! Ba luôn đồng hành cùng mỗi lớp học, mỗi bước tiến của con, trong suốt cuộc đời của ba!

Thời sự và suy nghĩ

BẠN GÁI ƠI, HÃY BIẾT THƯƠNG MÌNH NHIỀU HƠN!

Một cô gái trẻ vừa bị người chồng Hàn Quốc bạo hành tình dục phải bỏ trốn. Trước đo01, một cô dâu khác cũng bị người chồng Hàn Quốc bị tâm thần của mình đánh chết, chỉ vài ngày sau khi xuất cảnh. Đây không phải là những trường hợp thương tâm đầu tiên hay duy nhất mà nạn nhân là các cô gái lấy chồng người nước ngoài. Thi thoảng, trên báo chí vẫn có tin cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia… là nạn nhân của các vụ bạo hành nghiêm trọng. Vụ việc này một lần nữa làm dấy lên sự quan tâm của dư luận đối với những trường hợp kết hôn với người nước ngoài.
Chúng ta phải rất thông cảm với phần lớn các trường hợp lấy chồng nước ngoài. Hầu hết các cô dâu này đều ở nông thôn, xuất thân từ gia đình nông dân khó khăn, trình độ học vấn hạn chế. Các cô có quyền mong muốn một cuộc đổi đời lắm chứ! Nhưng bằng cách nào? Nhìn quanh, nhiều thanh niên nông thôn dù rất cố gắng nhưng do thiếu vốn, thiếu nghề, thiếu phương tiện sản xuất, thiếu cả trình độ, rất khó có thể vươn lên. Trong khi một số khác ít chịu tu chí làm ăn, lại sa vào rượu chè, cờ bạc, còn đánh đập vợ con… Từ đó, lấy chồng nước ngoài trở thành cứu cánh.
Lấy chồng “ngoại” trước hết có được hi vọng có cuộc sống vật chất đầy đủ, sau đó được nhận một khoản tiền, có thể để trả nợ hoặc trang trải một số nhu cầu trước mắt. Ngoài ra, còn có một số trang sức giá trị, có thể gửi lại cha mẹ làm vốn. Nhưng niềm hi vọng lớn nhất là xuất cảnh ra nước ngoài; với điều kiện lao động, thu nhập ở nước ngoài có thể tích lũy và gửi tiền về giúp đỡ cha mẹ; hay ít nhất cũng có thể chăm lo việc học hành của con cái khá hơn lấy chồng trong nước… Đó là những nguyện vọng chính đáng, có thể nói là đáng quý nữa. Với nhiều trường hợp, lấy chồng nước ngoài hầu như không phải vì mình mà chính vì gia đình.
Tất nhiên, cá biệt cũng có người vì ngại vất vả nên chọn cách lấy chồng nước ngoài như là một sự bán mình; cũng có cha mẹ ép uổng con gái phải “báo hiếu” bằng cách buộc con lấy chồng ngoại để lấy một khoản tiền… Những trường hợp này đáng trách mà cũng thực đáng thương.
Nhưng lấy chồng nước ngoài dù với mục đích gì cũng có quá nhiều rủi ro mà bản thân cô gái và gia đình chưa lường hết hoặc không chú ý lường trước mà ít nhiều phó mặc cho may rủ. Trước hết là sự cách biệt lớn về văn hóa, lối sống, ngôn ngữ. Hầu như rất ít cô dâu có thể có vốn ngôn ngữ đủ giao tiếp với chồng, lại càng ít chú ý tìm hiểu về văn hóa, lối sống của gia đình chồng. Ngay những nếp sinh hoạt thường ngày như ăn mặc, đi lại… cũng có thể gây ra những xung đột mà bản thân các cô dâu Việt Nam phải chấp nhận phục tùng.
Không chỉ vậy, các cô dâu rất khó xác định được tình trạng sức khỏe, tâm tính của người chồng. Nhiều trường hợp, người chồng buộc cô dâu phải có chứng nhận về sức khỏe, âm tính với HIV/AIDS và nhiều loại bệnh nguy hiểm khác, thậm chí cả chứng nhận còn… trinh tiết. Nhưng ngược lại, bản thân cô dâu không chú ý sức khỏe của tân lang, nếu có cũng không thể xác định được tính chính xác của chứng nhận đó. Còn với tính tình, nhất là với những người đã có trải qua một số cuộc hôn nhân trước đó, cô dâu gần như “mù” hoàn toàn. Như vậy, các cô gái gần như phó mặc cho sự may rủi – may thì gặp được người chồng khỏe mạnh, tính tình thuần hậu, còn rủi thì đành chấp nhận gặp người ngược lại.
Điều kiện kinh tế của chồng và gia đình chồng cũng không dễ xác định. Dù phần nhiều cô dâu lấy chồng nước ngoài vì lý do kinh tế nhưng khả năng tài chính, điều kiện việc làm, thu nhập của chồng gần như là điều “bí mật”. Điều dễ thấy là, nếu một người đàn ông có điều kiện kinh tế sung túc, có điều kiện sức khỏe tốt hẳn ít quan tâm đến việc lấy vợ nước ngoài; chỉ có những người có hạn chế một hoặc cả hai điều trên mới chấp nhận lấy người vợ mà mình chưa kịp có tình cảm, chưa hiểu tâm tính và có quá nhiều cách biệt về văn hóa, lối sống. Vì vậy, có không ít trường hợp người vợ Việt Nam sang quê chồng phải làm lụng rất vất vả và hầu như không thể gửi tiền về gia đình đáng kể.
Tai hại hơn, các cô gái Việt Nam có thể là nạn nhân của sự lừa đảo từ kẻ môi giới hôn nhân hoặc chính “người chồng”. Số này dù không phổ biến nhưng hậu quả để lại không nhỏ, như phải lấy người chồng bị bệnh tật, phải làm việc như ôsin, bị bán vào các nhà chứa hoặc bị buộc làm nô lệ tình dục…
Trong không ít vụ việc, những kẻ môi giới đã “tập trung” nhiều cô gái để những “người chồng” nước ngoài xem xét, lựa chọn như những món hàng, hết sức phản cảm và tủi nhục. Trong các trường hợp này, những kẻ tổ chức “coi mắt” vì lợi ích mà ít nhiều làm mất đi vẻ đẹp của dân tộc, thật đáng lên án, thì chính các cô gái chịu để người ta “coi mắt” cũng thật đáng trách.
Ca dao có câu: Chim đa đa đậu nhánh đa đa/Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa/Mai sau cha yếu mẹ già/Chén cơm đôi đũa ly trà ai dưng? Hay: Má ơi đừng gả con xa/Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu! Có lẽ không cha mẹ nào muốn gả con gái đi xa, nhất là sang nước khác mà bản thân mình gần như không biết gì về nước đó, nhưng nhiều khi vì hoàn cảnh gia đình mà ít nhiều tác động, mong mỏi sự hi sinh của con gái. Còn bản thân các cô gái chắc cũng không muốn lấy chồng xa, bởi sẽ rất khó được thường xuyên thăm viếng gia đình. Nhưng bản thân mong muốn có sự đổi đời cho bản thân và gia đình, lại không lường hết những rủi ro sắp tới nên đã chọn cách lấy chồng không hoàn toàn như mong muốn. Dù thế nào, đối với dư luận xã hội trước đây và bây giờ, người kết hôn với người nước ngoài không vì lý do tình yêu thường dễ bị xã hội thành kiến, không được xem trọng. Đôi khi, có con gái lấy được người chồng tốt ở nước ngoài nhưng dưới mắt người đời, đó là một sự mua bán, đổi chác chứ không phải là một cuộc hôn nhân thực sự.
Các bạn gái, hãy biết thương mình nhiều hơn! Lấy chồng nước ngoài thực ra không phải là vấn đề nếu các bạn lấy được người chồng tốt, có tình cảm thật sự. Lập gia đình là một việc hệ trọng của cuộc đời, nếu chỉ nhờ vào sự may rủi, nếu chỉ “nhắm mắt đưa chân” thì quả là dễ dẫn đến những hệ quả khó lường. Vì vậy, phải tìm hiểu và có sự chuẩn bị cần thiết để chọn được người chồng phù hợp và có thể thích nghi được với cuộc sống mới ở nơi xứ người. Sự hi sinh cho gia đình của nhiều bạn gái là rất đáng quý nhưng nếu là sự hi sinh mù quáng thì không chỉ bản thân chấp nhận mất mát, gia đình chịu thiệt hại mà còn gây ra những hệ lụy xã hội, dân tộc không nhỏ.
Các bạn gái ơi, hãy biết thương mình nhiều hơn! Hãy đặt sự hi sinh của mình vào đúng nơi, đúng chỗ!

Tư liệu lịch sử

Bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô

Báo Thời Nay - một ấn phẩm của báo Nhân Dân - mới đây đăng loạt bài viết về những bài học trong sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Bài dưới đây nói về tầng lớp đặc quyền gồm các cán bộ đảng viên cấp cao của nước này.
Vào một ngày mùa thu năm 1988, đột nhiên có hàng trăm, hàng nghìn nguời tụ tập bên ngoài của một cửa hàng ở thủ đô Matxcơva. Nguyên nhân gì đã khiến cho cửa hàng không phải là lớn này trở thành tâm điểm của dư luận?
Đây là một cửa hàng đặc biệt, chuyên phục vụ một số khách hàng đặc biệt, và hôm đó là ngày cuối cùng trước khi cửa hàng tuyên bố bị đóng cửa. Người dân Liên Xô gọi các khách hàng đặc biệt của cửa hàng đặc biệt này là những người thuộc tầng lớp đặc quyền. Tầng lớp đặc quyền này từng bước hình thành dưới thời Brezhnev và tiếp tục phát triển dưới thời Gorbachev; và đó là một chất xúc tác gây nên sự tan rã từ bên trong Đảng CS Liên Xô, là cũng một trong các nhân tố quan trọng thúc đẩy biến cố Liên Xô.
Sau Cách mạng Tháng Mười, chiến tranh và nạn đói đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền Xô Viết còn non trẻ. “Rồi sẽ có bánh mì và sẽ có tất cả”, câu nói đầy ấn tượng của Vasili trong bộ phim Lenin trong Tháng Mười đã trở thành câu nói thịnh hành một thời ở Liên Xô.
Ngày nay, người ta khó có thể tin rằng những người làm việc gần gũi với Lenin từng nhường nhịn, chia sẻ cho nhau chỉ một mẩu bánh mì, nhưng đây là sự thật của lịch sử. Nhà làm phim đã dựa vào một câu chuyện có thật hồi ấy để dựng nên tình tiết này trong phim. Năm 1918, chính quyền Xô Viết gặp phải một cuộc khủng hoảng lương thực. Tại một cuộc họp của UBND, Churuva lúc đó đang là Ủy viên nhân dân phụ trách vấn đề lương thực, bất ngờ bị ngất xỉu. Người ta phải khẩn cấp điều bác sĩ đến khám. Khám xong, bác sĩ kết luận, Churuva bị ngất xỉu do đói!
Là quan chức cao nhất phụ trách vấn đề lương thực của chính quyền Xô Viết, Churuva nắm trong tay quyền điều động hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu tấn lương thực, nhưng lại không giữ cho riêng mình số thực phẩm đủ để no bụng. Ngay sau đó, Lenin kiến nghị xây dựng nhà ăn điều dưỡng để bảo đảm cho những đồng chí đang ngày đêm lo lắng cho nhân dân được no. Điều này hoàn toàn đúng và không có gì phải bàn cãi.
Nhà ăn điều dưỡng do Lenin khởi xướng năm ấy dần dần mở rộng thành cửa hàng cấp đặc biệt, rồi dần dần quy mô và số lượng của nó đã có sự thay đổi căn bản. Sau nửa thế kỷ, chỉ có những cán bộ đặc biệt cao cấp của Liên Xô mới có thể ra vào tòa nhà không hề có biển hiệu này. Đây là cửa hàng cung cấp đặc biệt lớn nhất Matxcơva.
Vào dịp cuối tuần, những chiếc xe hơi lũ lượt kéo đỗ trước của tòa nhà, chật kín cả dãy phố. Ở đây có đủ các loại hàng hóa xa xỉ của nước ngoài, như rượu brandy của Pháp, whisky của Scotland, thuốc lá thơm Mỹ, chocolate Thụy Sĩ, coffee của Italia, giầy da của Áo, len dạ Anh, máy thu thanh Đức, máy ghi âm Nhật Bản,... có cả các mặt hàng khan hiếm ở Liên Xô.
Báo chí đã nói công khai rằng, đối với những nhân vật thuộc tầng lớp trên thì chủ nghĩa Cộng sản đã được xây xong từ lâu! Chỉ riêng Matxcơva đã có hơn 100 cửa hàng như vậy.
Tầng lớp đặc quyền trong điện Kremlin có quy tắc riêng của mình, chức vụ càng cao đặc quyền càng lớn thì sự chênh lệch về đãi ngộ vật chất mà họ được hưởng so với dân thường càng lớn. Đương nhiên những người được hưởng đặc quyền này chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong đội ngũ cán bộ Đảng CS Liên Xô. Thế nhưng thứ đặc quyền này phải chăng là căn nguyên đầu tiên của sự bất mãn xã hội mà tầng lớp này đã gây ra?
Thời kỳ Liên Xô vừa bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mọi người phấn đấu gian khổ hướng tới một cuộc sống mới. Khi đang phải phấn đấu vất vả để thực hiện lý tưởng chung, xã hội không chấp nhận những hàng vi dành chiếm độc quyền, mưu lợi cá nhân. Vào lúc nhà nước, dân tộc đứng trước nguy cơ tồn vong, nếu nói cán bộ lãnh đạo Đảng CS Liên Xô có đặc quyền gì đó thì đó chính là xung phong ra trận, xả thân chiến đấu, tắm máu sa trường, lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược trong tiếng réo hờn căm của Kachiusa.
Thời Stalin, yêu cầu của Đảng với cán bộ nhìn chung rất nghiêm khắc. Khi đó Liên Xô cũng đang phải đương đầu với môi trường chiến tranh tàn khốc và cả sóng to gió lớn của cuộc đấu tranh chính trị. Từng đoàn cán bộ, đảng viên đi ra tiền tuyến. Sự thay đổi cán bộ lãnh đạo diễn ra thường xuyên, tầng lớp đặc quyền không có cơ hội hình thành.
Sau khi lên nắm quyền, Khrushchev đã thực hiện chính sách “cán bộ đặc biệt” theo quy định tại Điều 25 - Điều lệ Đảng CS được Đại hội 22 của Đảng CS Liên Xô thông qua. Cán bộ đảng viên cần thay đổi thường xuyên. Tại các buổi bầu cử diễn ra tại tổ chức đảng cơ sở hàng năm đều có hàng loạt bí thư bị thay thế sau khi kết thúc nhiệm kỳ. Tỷ lệ thay đổi cán bộ lãnh đạo lên tới 60%. Bởi vậy, trong thời kỳ này Liên Xô vẫn chưa hình thành tầng lớp người thật sự được hưởng đặc quyền trong Đảng. Tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô chỉ từng bước hình thành sau khi Brezhnev nắm quyền, nhất là vào giai đoạn cuối thời Brezhnev.
Tháng 4-1966, Đảng CS Liên Xô tổ chức Đại hội 23. Đây là Đại hội Đảng đầu tiên diễn ra sau khi Brezhnev nắm quyền điều hành công tác của Ban chấp hành trung ương. Đại hội đã sửa đổi Điều 25 trong Điều lệ Đảng. Brezhnev đặc biệt tâm đắc câu nói của một người có thời gian dài phụ trách công tác ý thức hệ trong Đảng rằng: “Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là sự bảo đảm cho thành công”.
Brezhnev theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ một cách phiến diện sau đó phát triển thành chế độ chức vụ. Thực chất là chế độ chức vụ suốt đời, áp dụng với cán bộ lãnh đạo. Các cán bộ cao cấp của Liên Xô như Brezhnev, Suslov đều qua đời khi còn đương chức. Chính sách cán bộ của Brezhnev đã khiến cho các thành viên trong tầng lớp lãnh đạo của Đảng CS Liên Xô gần như không có biến động trong suốt một thời gian dài. Tại Đại hội 23 của Đảng CS Liên Xô, số ủy viên tái đắc cử và liên nhiệm đạt tỷ lệ 79,4%. Tại Đại hội 25, không tính số ủy viên trung ương đã qua đời thì tỷ lệ Ủy viên trung ương liên nhiệm cao tới 90%.
Trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng cấp tỉnh từ năm 1978 đến năm 1981, chỉ có năm trong số 156 vị trí bí thư tỉnh ủy có sự thay đổi về nhân sự. Đến mùa xuân năm 1978, độ tuổi bình quân của 58 vị phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng và bộ trưởng là 70. Thực tế này đã tạo ra một đội ngũ lãnh đạo già nua, đương chức suốt đời.
Hậu quả của chế độ cán bộ này là vừa khiến cho tầng lớp lãnh đạo thiếu đi sức sống vừa dễ hình thành một lực lượng hạt nhân trong tầng lớp đặc quyền. Xét về khách quan, chế độ cán bộ lãnh đạo suốt đời làm cho đội ngũ, tầng lớp đặc quyền không ngừng mở rộng, kéo theo sự không ngừng tăng lên cơ quan hành chính được lập ra để bố trí ngày càng nhiều cán bộ lãnh đạo.
Cuối những năm 70 của thế kỷ trước, số cơ quan cấp ban, bộ trực thuộc T.Ư Đảng CS Liên Xô lên tới 20. Trong đó, đại bộ phận trùng lặp với các cơ quan của chính phủ. Thậm chí tên gọi của những ban, bộ này cũng giống hệt nhau. Như Ban Nông nghiệp, Ban Công nghiệp quốc phòng, Ban Công nghiệp nặng và năng lượng, Ban Chế tạo cơ khí, Ban Văn hóa... Dưới thời Brezhnev, Đảng CS Liên Xô đã tạo đất cho tầng lớp đặc quyền sinh sôi, nảy nở. Nhiều cán bộ cấp cao không khỏi sửng sốt trước chế độ đãi ngộ đặc biệt mà họ được hưởng ngay sau khi được đề bạt.
Ligachev kể lại trong hồi ký rằng: Năm 1983, khi được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tổ chức T.Ư Đảng CS Liên Xô, ngay ngày hôm sau ông đã được cấp một chiếc xe ôtô cao cấp. Khi ông yêu cầu thay cho mình một chiếc xe đẳng cấp thấp hơn một chút, không ngờ ông bị Chánh văn phòng T.Ư Đảng phê bình lại rằng: đồng chí làm như thế là một sự đòi hỏi đặc biệt, làm mất phong độ của cơ quan. Nếu không ở trong cuộc, người ta không thể tưởng tượng được những hưởng thụ do đặc quyền mang lại.
Dưới thời Brezhnev, con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, đồng thời nhanh chóng được nắm giữ những cương vị quyền lực quan trọng. Thậm chí, đặc quyền còn có thể trở thành “lá bùa hộ mệnh” để cán bộ lãnh đạo mặc sức tham nhũng mà không bị cản trở.
Rubanov, con rể của Brezhnev, đã dựa vào quyền thế của bố vợ, quan lộ phất như “diều gặp gió”. Chỉ trong vòng 10 năm, ông ta đã từ một sĩ quan cấp thấp trở thành thượng tướng, sau đó được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ. Trong thời gian này, ông ta đã tham ô, nhận hối lộ 650 nghìn rúp, gây ra vụ án “phò mã” chấn động cả nước. Còn Yuri, con trai Brezhnev thì được bổ nhiệm làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại thương Liên Xô khi còn rất trẻ.
Tháng 1/1982, tại sân bay Matxcơva, một công dân Liên Xô chuẩn bị lên máy bay ra nước ngoài du lịch, nhân viên hải quan đã tìm thấy một lượng lớn kim cương cất giấu trong chiếc túi bí mật trên người. Kết quả điều tra cho thấy, đây là sưu tập cá nhân của nữ huấn luyện viên dạy sư tử ở Rạp xiếc Trung ương. Sau đó không lâu, chuyên gia mỹ thuật và giám đốc của rạp xiếc bị bắt giữ. Người ta còn tìm thấy số kim cương trị giá khoảng 1 triệu USD và nhiều đồ vật quý giá khác tại nhà riêng của chuyên gia mỹ thuật và khoảng 500 nghìn bảng Anh cùng nhiều đồ trang sức, tác phẩm hội họa đắt tiền tại nhà riêng của giám đốc. Đáng nói là, những thứ này đều thuộc sở hữu của Galina - con gái Brezhnev.
Câu chuyện chưa dừng lại ở đó, vụ buôn lậu đồ trang sức, kim cương còn liên quan Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại thương Yuri. Vụ việc này lẽ ra thuộc thẩm quyền của Bộ Nội vụ xử lý, nhưng sau đó lại được chuyển sang cho Ủy ban An ninh quốc gia (KGB). Trong khi Phó Chủ tịch thứ nhất của KGB là Svigun, người trực tiếp chỉ đạo vụ án này lại là anh em cọc chèo với Brezhnev. Kết quả là, câu chuyện kết thúc ở đó. Con trai Brezhnev là Yuri và con gái của ông ta là Galina vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.
Trong 17 năm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Selokhov đã lợi dụng chức quyền, biến của công thành của tư. Ông ta không chỉ chiếm khu biệt thự cấp nhà nước lớn nhất của Bộ Nội vụ và nhà khách Bộ Nội vụ làm của riêng mà còn chiếm một tòa chung cư rất lớn ở số 24, phố Hensen. Một lượng lớn tài sản cá nhân của Selokhov và người nhà ông ta được cất giữ trong khu biệt thự cấp nhà nước và tòa chung cư này. Tại một khu biệt thự, chỉ tính thảm trải nhà đã xếp tới bảy tầng, dưới gầm giường nhét đầy những bức tranh sơn dầu của các danh họa Nga.
Dưới thời Brezhnev, tình trạng tham nhũng tại Matxcơva và các nước cộng hòa thuộc Liên bang ngày càng nghiêm trọng. Năm 1980, nhân viên điều tra tình cờ mua một lô cá trích đóng hộp, sau khi mở nắp mới phát hiện bên trong đựng toàn trứng cá Cavian cực đắt. Cá trích sao lại biến thành trứng cá Cavian được?
Sau một thời gian vất vả điều tra, vụ việc đã được làm sáng tỏ. Thì ra một số quan chức Bộ Ngư nghiệp Liên Xô đã bí mật giao dịch với một công ty để họ đóng trứng cá Cavian sản xuất tại Sochi và Astrakhan vào trong những hộp dán nhãn cá trích rồi vận chuyển ra nước ngoài. Công ty phương Tây mua với giá cá trích, sau đó bán chuyển tay. Những người tham gia từ phía Liên Xô sẽ được hưởng lợi nhuận hậu hĩnh từ khoản doanh lợi kếch xù được gửi vào tài khoản ngân hàng Thuỵ Sĩ.
Hành vi buôn lậu này diễn ra trong suốt 10 năm. Kết quả điều tra cho thấy, vụ án này làm Liên Xô tổn thất hàng triệu USD, hơn 300 người dính líu vụ án. Trong đó, có những quan chức cấp cao như Thứ trưởng Ngư nghiệp, Phó Cục trưởng Sản xuất, Tiêu thụ, Quản lý ngư nghiệp cùng các cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại thương, Bộ Công nghiệp thực phẩm, Hạm đội Thái Bình Dương, rồi nhân viên cửa hàng tại Matxcơva và các thành phố khác.
Người chịu trách nhiệm phân phối loại sản phẩm đóng hộp này là thị trưởng thành phố Sochi - Volokov, Bí thư thứ nhất Khu ủy Krasnodar trực tiếp quản hạt Sochi là Maidunov. Ông ta là người thân tín của Brezhnev. Khi được lệnh tham gia điều tra vụ án, ông ta đã ra sức bao che cho Volokov. Sau khi báo Văn học đăng tin Volokov bị bắt, Maidunov rất lo lắng, nhiều lần đã lên Matxcơva cầu cứu Brezhnev.
Do mức độ nghiêm trọng của vụ án, Chủ tịch KGB là Andropov đích thân báo cáo vụ việc này với Brezhnev. Trước một loạt chứng cớ rõ ràng, Brezhnev hỏi: “Theo đồng chí nên giải quyết thế nào?”. Andropov đáp: Vụ này phải đưa Maidunov ra tòa. Brezhnev bảo: Làm thế không được. Bây giờ chúng ta không có người đáng tin cậy ở Krasondur, liệu có thể tạm thời thuyên chuyển Maidunov đến nơi khác được không?
Sau đó Maidunov mặc dù bị cách chức nhưng lại được điều lên Matxcơva làm Thứ trưởng Bộ Lương thực Thực phẩm, được sống trong một căn hộ sang trọng tại Matxcơva. Câu chuyện đã kết thúc một cách “êm đẹp” như thế.
Tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô trước hết là xuất phát từ chức tước. Có người cho rằng, chức tước càng cao thì đặc quyền càng nhiều, nếu muốn làm quan hoặc thăng chức thì phải lấy lòng, hối lộ các lãnh đạo liên quan. Chức tước vì thế mà có giá. Tại một số nơi, ngay cả chức bí thư đảng ủy cũng có giá. Năm 1969, chức bí thư thứ nhất của một khu ủy Azerbaijan có giá 200 nghìn rúp, bí thư thứ hai có giá 100 nghìn rúp. Hiện tượng mua quan, bán tước cũng tồn tại ở các nước cộng hoà khác trong Liên bang với các hình thức, mức độ khác nhau.
Hội nghị toàn thể tháng 2 năm 1973, Trung ương Đảng Gruzia từng chỉ rõ: Trước đây, công tác tuyển chọn và sử dụng cán bộ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Chủ nghĩa Lenin. Việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo không phải căn cứ vào năng lực công tác và phẩm chất đạo đức của họ, mà dựa vào thao túng đằng sau, dựa vào quan hệ quen thân gia đình, dựa trên nguyên tắc có trung thành với cá nhân cấp trên hay không.
Để bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình. Bởi vậy, không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn Đảng, toàn xã hội.
Brezhnev lạnh lùng với từ “cải tổ” rằng: Cải cái gì, cứ làm tốt công việc là được rồi. Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và trợ lý của ông soạn thảo một báo cáo về cải tổ kinh tế gây nên sự bất mãn và tẩy chay của một bộ phận các tầng lớp đặc quyền quan liêu. Kết quả, trợ lý của ông bị cách chức.
Tầng lớp đặc quyền đã làm tổn hại nghiêm trọng thanh danh của CNXH, tạo ra hố ngăn cách lớn trong xã hội, làm hư hỏng xã hội. Khoảng cách giữa người dân bình thường và tầng lớp đặc quyền ngày càng lớn. Trong xã hội Liên Xô, người dân bình thường tự gọi mình là “chúng ta”, còn gọi những người đặc quyền là “bọn họ”.
Thế nhưng, khi nói đến tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô, chúng ta phải nhấn mạnh mấy điểm sau đây:
- Thứ nhất: Tầng lớp đặc quyền chỉ là khái niệm đặc chỉ đối với một bộ phận cực nhỏ các phần tử thoái hoá, biến chất lạm dụng chức vụ mưu lợi riêng trong đội ngũ cán bộ Đảng CS Liên Xô khi đó. Việc phương Tây gọi 600 - 700 nghìn cán bộ, đảng viên Đảng CS Liên Xô khi đó là tầng lớp đặc quyền hoàn toàn là sự tuyên truyền rắp tâm nhằm phá hoại Đảng CS Liên Xô. Nhìn chung, đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng CS Liên Xô khi đó đều là những người liêm khiết, chí công, hăng hái cống hiến. Họ kiên định đi theo con đường XHCN.
- Thứ hai: Phải phân biệt sự chênh lệch hợp lý với đặc quyền trong lĩnh vực phân phối. Khi đó, mặc dù trong nội bộ Đảng CS Liên Xô và trong xã hội Liên Xô tồn tại tầng lớp đặc quyền và hiện tượng đặc quyền nghiêm trọng, nhưng đồng thời với nó là chủ nghĩa bình quân theo kiểu “ăn chung nồi” tồn tại nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối của Liên Xô.
- Thứ ba: Không chỉ chú ý đến hiện tượng độc quyền tồn tại trong lĩnh vực phân phối mà phải chú ý đến hơn biểu hiện của hiện tượng này trong lĩnh vực khác như: xây dựng chính sách, bổ nhiệm cán bộ, uốn cong luật pháp để mưu lợi riêng cho bản thân và tập đoàn nhỏ đồng thời né tránh sự giám sát của kỷ luật Đảng và quy định pháp luật. Điều này còn nghiêm trọng hơn vì nó phá hoại mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, dẫn đến sự thay đổi tính chất của Đảng. Căn bệnh này càng bộc lộ rõ hơn dưới thời Gorbachev.
Tham quan một biệt thự, là nơi ở cũ của của Gorbachev trước khi ông ta lên nắm quyền, chúng ta thấy như sau: Qua cửa chính là một sảnh rộng. Tầng một có ban công bọc kính và phòng chiếu phim, chiếc bàn ăn dài 10m, phòng bếp giống như một xưởng chế biến thức ăn lớn, còn có một tủ lạnh ngầm dưới đất. Trên tầng hai, đi qua sảnh lớn là tới thẳng phòng tắm nắng, văn phòng, phòng ngủ. Mọi thứ bày biện và trang trí trong tòa biệt thự đều hết sức xa xỉ. Xét về một ý nghĩa nào đó thì cuộc sống cá nhân xa hoa tột đỉnh này còn xa mới bộc lộ được bản chất cuộc sống của tầng lớp đặc quyền. Cái gọi là “cải tổ” của Gorbachev sau khi lên nắm quyền đã trở thành chất xúc tác để tầng lớp đặc quyền chuyển biến thành giai cấp tư sản mới. Sự cải tổ rùm beng là cơ hội tuyệt vời để tầng lớp đặc quyền tha hồ mưu lợi cá nhân.
Dưới thời Gorbachev, tầng lớp đặc quyền đã không còn thỏa mãn với việc theo đuổi hưởng thụ cá nhân, mà còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Đồng thời, tầng lớp đặc quyền còn phát hiện ra rằng CNXH, lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản thường trực nơi cửa miệng và ánh hào quang đảng viên Đảng CS mà họ mang trên mình đã không còn giá trị sử dụng.
Họ thấy rằng, những đặc quyền mà họ vốn có phải được thay đổi hình hài và Chủ nghĩa tư bản là chế độ thích hợp nhất để hợp pháp hóa những lợi ích hiện có của họ. Đặc biệt, trong lúc Đảng CS Liên Xô và đất nước đang đứng trước nguy cơ tồn vong. Giữ vững lợi ích đặc biệt của mình và hợp pháp hoá chúng, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản, tư hữu hoá toàn diện.
Trong thời gian này, tầng lớp đặc quyền lợi dụng quyền lực đang nắm trong tay để ra sức vơ vét, làm giàu cho bản thân. Nhất là các vị quan kinh tế trực tiếp quản lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Họ lợi dụng sự hỗn loạn về thương mại hoá, thị trường hoá, kinh tế tự do hoá do Gorbachev tiến hành để làm một cuộc lật bài kinh tế, trực tiếp chiếm đoạt tài sản nhà nước thành tài sản riêng. Có kẻ thực hiện các cuộc giao dịch giữa quyền - tiền để có những ưu đãi và quota xuất khẩu nguyên liệu và vũ khí, bòn rút tài sản xã hội. Có kẻ thu siêu lợi trong các cuộc giao dịch chứng khoán, hàng hóa trả chậm rồi thành lập ngân hàng và các cơ quan tài chính khác. Một bộ phận thiểu số đó, sau này, trở thành những ông trùm tài chính mới.
Năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú ở Matxcơva, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền. Kết quả điều tra tiến hành trong tháng 6 năm đó cho thấy, trong tầng lớp cán bộ cao cấp Liên Xô có tới 76,7% số người cho rằng nên đi theo con đường tư bản. Chính những kẻ gọi là đảng viên Đảng CS này đã làm cách mạng bằng cách “cách đi cái mạng của Đảng CS Liên Xô”. Bọn họ không chỉ vơ vét cho đầy túi tham mà còn tiếp tục nắm giữ những cương vị cao, kiểm soát quyền lực của nhà nước.
Nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ, ngoại trừ một số ít nhân vật ngự trên đỉnh ngọn kim tự tháp quyền lực, còn lại một phần cán bộ biến thành những “quý nhân” của nước Nga. Họ chiếm 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống; 57,1% trong số lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4 % trong số những quan chức của chính phủ mới.
Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ David Code có một câu nói có thể gọi là “đúng tim đen”: Đảng CS Liên Xô là chính đảng duy nhất làm giàu trong tang lễ của chính mình. Trước khi Đảng CS Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: “Đảng CS Liên Xô đại diện cho ai?”. Kết quả là, số người cho rằng Đảng CS Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô chiếm 7%, đại diện cho công nhân chiếm 4%, đại diện cho toàn thể đảng viên chiếm 11%. Trong khi đó, có tới 85% số người được hỏi cho rằng: Đảng CS Liên Xô đại diện cho quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Trong giai đoạn này, những kẻ tham nhũng lộ liễu hay lén lút đều tham lam chiếm đoạt tài sản nhà nước thuộc sở hữu của nhân dân. Trong khi đó, đối với tầng lớp đặc quyền, Đảng CS Liên Xô đã đi từ chỗ ít ngăn chặn đến không tấn công, rồi bao che, thậm chí dung túng, khiến cho khối u ác tính này phát triển và lây lan nhanh chóng trên chính cơ thể của mình.
(Theo Thời Nay)
http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/2010/08/3BA1F4D7/page_1.asp