MÙA LÚA CHÍN
Quê tôi chỉ làm được một vụ lúa, gọi là lúa mùa. Tháng sáu âm lịch, khi mùa mưa vừa đến, thì cả vùng quê rộn ràng chuẩn bị gieo mạ. Đến tháng bảy, tháng tám, người ta mới cấy. Đến tháng mười một là mùa gặt. Thu hoạch lúa xong là chuẩn bị đến Tết.
Nhà tôi làm được bảy sào ruộng. Nhà ngay trên ruộng nên cả có có dịp chăm sóc cánh đồng nhà mình để mong được vụ mùa bội thu. Năm nào cũng vậy, đến mùa lúa chín là nước lên tràn bờ. Lũ ở vùng Đồng Tháp Mười còn đọng lại hàng tháng nhưng lũ ở quê tôi, nằm hạ nguồn của dòng Cửu Long, thì chỉ là nước lên ngập nền nhà một buổi và kéo dài trong vài ngày vào giữa con nước. Độ ba bốn lần như vậy là hết mùa nước nổi.
Lúa sắp chín, anh em chúng tôi được phát nào nắp, nào xoong, nào thùng thiếc để ra đồng đuổi chim sẻ. Không biết từ đâu, loài chim nhỏ này về đây hàng đàn để ăn lúa. Khi chim vừa sà xuống, chúng tôi vội gõ thùng, khua nắp loảng xoảng để chúng hốt hoảng mà bay đi. Chúng rời đám lúa này thì bay đến đám lúa khác; bầy này bay đi thì bầy khác bay đến; chúng tôi cứ chạy xăng xăng cho đến tối mới thôi.
Người quê tôi luôn chọn bữa nào nước thấp trong con nước kém để thu hoạch lúa. Những năm đầu giải phóng, người dân ở đây chỉ trồng lúa mùa cao dàn, khi lúa chín thường ngã rạp nên phải dùng lưỡi hái để gặt. Sau này, nhờ những giống lúa mới, lùn hơn, ngắn ngày hơn nhưng năng suất cao hơn và không còn dùng hái nữa mà dùng liềm để cắt. Vì vậy, những người trẻ tuổi thường không còn biết cách gặt lúa nữa. Lúa gặt xong, ba tôi bó lại từng bó to bằng chính thân rạ dài ngoằng, sau đó dùng đòn xóc để gánh về sân nhà. Cứ thế, ba và mẹ tôi lần lượt gặt, bó rồi gánh lúa về. Lúa được xếp thành những bức tường thành trên những chỗ cao nhất để tránh bị ngập nước. Tôi nhìn những hàng lúa cao ngất mà lẽo đẽo theo ba để hỏi: Lúa năm nay chừng được bao nhiêu giạ? Tôi lại hỏi năm ngoái nhà thu được bao nhiêu giạ để lẩm nhẩm so sánh. Anh em chúng tôi thường chơi trốn tìm sau những hàng lúa, thỉnh thoảng ngã vào lúa, mẹ tôi trông thấy thể nào cũng mắng yêu: Đi ra tụi con, xót lắm!
Những buổi chiều nghỉ học, tôi dắt mấy đứa em ra ruộng cùng trông vịt. Bầy vịt đẻ thi nhau tìm mồi trên những thửa ruộng vừa cắt lúa xong. Tôi hay tìm những cọng rạ to để làm mấy chiếc kèn rồi chia cho mấy anh em cùng thổi. Tiếng “toe toe” cứ vang vang trong gió chiều xào xạc, đọng mãi trên những ngọn dừa quanh nhà. Những bầy chim gọi nhau lũ lượt bay về tổ trong rán chiều chập choạng. Một cảm giác bình dị, thân thương mà trù phú lạ lùng.
Tôi còn nhớ, những năm đầu, máy suốt lúa còn hiếm lắm. Lúa nhà tôi thu được bao nhiêu chất đống trước sân và trong nhà, rồi cả gia đình cùng nhau… đạp. Bây giờ nói chuyện đạp lúa bằng sức người hay sức trâu bò thì lạ lắm nhưng đó là chuyện phổ biến của mấy mươi năm trước. Ba tôi là một “kiện tướng” đạp lúa. Cứ gà gáy hiệp đầu, ba đã dậy, châm bình trà nóng, uống vài li là bắt đầu đạp. Bàn chân to bản kiểu “Giao Chỉ” của ba tôi cứ rào rào trên những bó lúa. Mẹ tôi cũng luôn dậy cùng ba tôi để đạp lúa. Trời sáng, anh em chúng tôi mới dậy, hôm nào không đi học thì đi canh bầy vịt đẻ. Rảnh rỗi cũng tham gia đạp lúa. Nhưng những bàn chân trẻ con vừa nhỏ vừa mềm đạp lúa chẳng rụng là bao, chỉ một lúc lại thấy ran rát. Lúa trong nhà chỉ do ba mẹ tôi thi nhau đạp, từ sáng đến tối mịt, ngày này qua ngày khác, cho đến khi hết thì thôi. Năm nào mau hết, ba tôi lại buồn buồn ngồi giũ lại rơm xem rơm đã “chín” chưa, có còn lúa sót lại không. Năm nào được trăm giạ thì mừng như bắt được vàng…
Chỉ được hơn chục năm, gia đình tôi rời quê, tha hương cầu thực. Tôi chưa trở thành một nông dân thực thụ thì đã phải làm nghề khác. Nhiều năm sau, trở lại quê, những cánh đồng lúa cao sản, vào mùa, bông oằn như cánh cung, vàng rực như bãi sa mạc. Không còn ai gõ thùng khua nắp như xưa nữa. Cũng chẳng ai cặm cụi đạp từng bó lúa như ba tôi ngày nào. Máy suốt lúa đến tận đồng, tiếng nổ phành phạch, lúa rơi rào rào, mùi rơm với mùi bùn rạ nồng nàn, quyến luyến…
Nhưng cũng chỉ được vài năm. Còn bây giờ, đồng quê đã khác, ruộng đã được đào làm ao thả tôm sú. Chẳng còn ai trồng lúa. Chẳng còn mùa lúa chín. Chim sẻ cũng chẳng có chỗ mà ăn. Người ta bán tôm mua lúa mua gạo. Có nhiều thứ đổi thay, nhưng tự nhiên tôi thấy buồn buồn, như mất mát một cái gì đó quen thuộc, gần gũi. Phải chi có lúa để cho ba đạp và tôi chụp vài bức ảnh…
Quê tôi chỉ làm được một vụ lúa, gọi là lúa mùa. Tháng sáu âm lịch, khi mùa mưa vừa đến, thì cả vùng quê rộn ràng chuẩn bị gieo mạ. Đến tháng bảy, tháng tám, người ta mới cấy. Đến tháng mười một là mùa gặt. Thu hoạch lúa xong là chuẩn bị đến Tết.
Nhà tôi làm được bảy sào ruộng. Nhà ngay trên ruộng nên cả có có dịp chăm sóc cánh đồng nhà mình để mong được vụ mùa bội thu. Năm nào cũng vậy, đến mùa lúa chín là nước lên tràn bờ. Lũ ở vùng Đồng Tháp Mười còn đọng lại hàng tháng nhưng lũ ở quê tôi, nằm hạ nguồn của dòng Cửu Long, thì chỉ là nước lên ngập nền nhà một buổi và kéo dài trong vài ngày vào giữa con nước. Độ ba bốn lần như vậy là hết mùa nước nổi.
Lúa sắp chín, anh em chúng tôi được phát nào nắp, nào xoong, nào thùng thiếc để ra đồng đuổi chim sẻ. Không biết từ đâu, loài chim nhỏ này về đây hàng đàn để ăn lúa. Khi chim vừa sà xuống, chúng tôi vội gõ thùng, khua nắp loảng xoảng để chúng hốt hoảng mà bay đi. Chúng rời đám lúa này thì bay đến đám lúa khác; bầy này bay đi thì bầy khác bay đến; chúng tôi cứ chạy xăng xăng cho đến tối mới thôi.
Người quê tôi luôn chọn bữa nào nước thấp trong con nước kém để thu hoạch lúa. Những năm đầu giải phóng, người dân ở đây chỉ trồng lúa mùa cao dàn, khi lúa chín thường ngã rạp nên phải dùng lưỡi hái để gặt. Sau này, nhờ những giống lúa mới, lùn hơn, ngắn ngày hơn nhưng năng suất cao hơn và không còn dùng hái nữa mà dùng liềm để cắt. Vì vậy, những người trẻ tuổi thường không còn biết cách gặt lúa nữa. Lúa gặt xong, ba tôi bó lại từng bó to bằng chính thân rạ dài ngoằng, sau đó dùng đòn xóc để gánh về sân nhà. Cứ thế, ba và mẹ tôi lần lượt gặt, bó rồi gánh lúa về. Lúa được xếp thành những bức tường thành trên những chỗ cao nhất để tránh bị ngập nước. Tôi nhìn những hàng lúa cao ngất mà lẽo đẽo theo ba để hỏi: Lúa năm nay chừng được bao nhiêu giạ? Tôi lại hỏi năm ngoái nhà thu được bao nhiêu giạ để lẩm nhẩm so sánh. Anh em chúng tôi thường chơi trốn tìm sau những hàng lúa, thỉnh thoảng ngã vào lúa, mẹ tôi trông thấy thể nào cũng mắng yêu: Đi ra tụi con, xót lắm!
Những buổi chiều nghỉ học, tôi dắt mấy đứa em ra ruộng cùng trông vịt. Bầy vịt đẻ thi nhau tìm mồi trên những thửa ruộng vừa cắt lúa xong. Tôi hay tìm những cọng rạ to để làm mấy chiếc kèn rồi chia cho mấy anh em cùng thổi. Tiếng “toe toe” cứ vang vang trong gió chiều xào xạc, đọng mãi trên những ngọn dừa quanh nhà. Những bầy chim gọi nhau lũ lượt bay về tổ trong rán chiều chập choạng. Một cảm giác bình dị, thân thương mà trù phú lạ lùng.
Tôi còn nhớ, những năm đầu, máy suốt lúa còn hiếm lắm. Lúa nhà tôi thu được bao nhiêu chất đống trước sân và trong nhà, rồi cả gia đình cùng nhau… đạp. Bây giờ nói chuyện đạp lúa bằng sức người hay sức trâu bò thì lạ lắm nhưng đó là chuyện phổ biến của mấy mươi năm trước. Ba tôi là một “kiện tướng” đạp lúa. Cứ gà gáy hiệp đầu, ba đã dậy, châm bình trà nóng, uống vài li là bắt đầu đạp. Bàn chân to bản kiểu “Giao Chỉ” của ba tôi cứ rào rào trên những bó lúa. Mẹ tôi cũng luôn dậy cùng ba tôi để đạp lúa. Trời sáng, anh em chúng tôi mới dậy, hôm nào không đi học thì đi canh bầy vịt đẻ. Rảnh rỗi cũng tham gia đạp lúa. Nhưng những bàn chân trẻ con vừa nhỏ vừa mềm đạp lúa chẳng rụng là bao, chỉ một lúc lại thấy ran rát. Lúa trong nhà chỉ do ba mẹ tôi thi nhau đạp, từ sáng đến tối mịt, ngày này qua ngày khác, cho đến khi hết thì thôi. Năm nào mau hết, ba tôi lại buồn buồn ngồi giũ lại rơm xem rơm đã “chín” chưa, có còn lúa sót lại không. Năm nào được trăm giạ thì mừng như bắt được vàng…
Chỉ được hơn chục năm, gia đình tôi rời quê, tha hương cầu thực. Tôi chưa trở thành một nông dân thực thụ thì đã phải làm nghề khác. Nhiều năm sau, trở lại quê, những cánh đồng lúa cao sản, vào mùa, bông oằn như cánh cung, vàng rực như bãi sa mạc. Không còn ai gõ thùng khua nắp như xưa nữa. Cũng chẳng ai cặm cụi đạp từng bó lúa như ba tôi ngày nào. Máy suốt lúa đến tận đồng, tiếng nổ phành phạch, lúa rơi rào rào, mùi rơm với mùi bùn rạ nồng nàn, quyến luyến…
Nhưng cũng chỉ được vài năm. Còn bây giờ, đồng quê đã khác, ruộng đã được đào làm ao thả tôm sú. Chẳng còn ai trồng lúa. Chẳng còn mùa lúa chín. Chim sẻ cũng chẳng có chỗ mà ăn. Người ta bán tôm mua lúa mua gạo. Có nhiều thứ đổi thay, nhưng tự nhiên tôi thấy buồn buồn, như mất mát một cái gì đó quen thuộc, gần gũi. Phải chi có lúa để cho ba đạp và tôi chụp vài bức ảnh…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét