Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Câu chuyện văn hóa

ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG CHUNG TAY…

Nhiều người đã cho rằng ngày nay “Lục Vân Tiên” không còn nhiều. Cái tâm lý “thúc thủ cầu an” tuy không bao trùm tất cả nhưng dường như nó luôn có trong mỗi người. Khi có sự dũng cảm của ai đó thì cái tâm lý ấy nhỏ lại, còn khi “đồng loạt” cầu an thì cái tâm lý ấy lớn nhất. Tôi chợt nhớ chuyện trong một bộ phim hoạt hình, có một con quái vật sống bằng sự sợ hãi của người khác, khi ai đó càng sợ thì nó càng lớn và ngược lại!
Tình trạng vắng bóng “Lục Vân Tiên” cũng có sự gần gũi với những sự việc mà bài Không phải việc của tôi của Nguyễn Son (Tuổi trẻ ngày 25-7-2008) đã phản ánh. Có một sự thật phổ biến và đau lòng là mọi người đều thấy có những sự việc không hay, đáng trách, đáng lên án, hoặc đáng làm nhưng ai nấy nhìn nhau, xem như mình vô can. “Không phải việc của tôi”, vậy là việc của ai, nào ai biết! Nguyễn Son viết: “Mọi người đều yên trí rằng: sẽ có vài người hoặc ai đó làm việc ấy. Nhưng rốt cuộc chẳng có người nào làm. Thấy vậy, mấy người nổi giận, bảo đó là việc của mọi người. Còn mọi người cho rằng người nào đó cũng làm được. Vậy mà: Chẳng người nào nhận ra rằng: mọi người đều không ai làm. Kết cuộc: mọi người đổ lỗi cho mấy người, trong khi chẳng người nào làm cái việc mà người nào đó đã làm”. Nó có gì mỉa mai như câu “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”, “cha chung không ai khóc”, vì “đâu phải của tôi”, “đâu phải việc của tôi”!
Khẩu hiệu một thời được đề cao (và bây giờ cũng vậy) của xã hội ta là “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” dường như chỉ đúng một nửa. Ai đó vì mình thì được, còn mình chẳng mấy bận tâm chuyện của người khác, dù nó có “chướng tai gai mắt” thế nào. Đó là kiểu “ai cũng oán đêm đen nhưng chẳng ai chịu góp một que diêm”. Nó sinh ra thứ “chủ nghĩa” “mackeno” (mặc kệ nó), như một triết lý sống an toàn, “nước giếng không đụng đến nước sông”. Vậy thì còn đâu tính cố kết cộng đồng, còn đâu “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, còn đâu “môi hở răng lạnh”… khi mà người ta tự dứt sợi dây ràng buộc vô hình nhưng rất bền chặt giữa những con người trong cộng đồng, dân tộc với nhau?
Thực tế có một sự liên hệ về mối quan hệ nhân quả giữa “không phải việc của tôi” với “hậu quả của tôi”. Chẳng hạn như, một người thấy người khác xả rác bừa bãi mà không nhắc nhở thì chính bản thân người đó sẽ phải sống trong môi trường đầy rác; một người thấy trộm mà không tri hô, không đấu tranh thì sẽ có lúc trở thành nạn nhân của tên trộm đó… Tức là “giông gió bạo tàn không tha thứ cho kẻ thúc thủ cầu an”.
Tuy nhiên, để mọi người cùng chung tay để đẩy lùi dần cái ác, cái xấu (không chỉ trên đường phố và trong xã hội) thì không thể kêu gọi suông. Ai cũng có lý do chính đáng để không trực tiếp đương đầu với cái ác, cái xấu. Vai trò của các cơ quan công quyền phải được phát huy một cách tích cực nhất. Vẫn còn đó phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”, nhưng các phong trào này sẽ đi đến đâu nếu vai trò hạt nhân của các cơ quan công quyền, của các cán bộ, công chức quá mờ nhạt? Tức là, để một người mạnh dạn ra tay truy bắt cướp thì ít nhất họ cũng được biết rằng sau lưng họ là ai, chứ không phải sự lo lắng rằng sẽ không có ai cả, hoặc mọi người xung quanh thì chỉ dám nhìn qua khe cửa, còn lực lượng công an không biết bao giờ mới đến… Hoặc nếu họ gặp rủi ro thì có sự quan tâm nào đến gia đình họ không… Như vậy, cơ quan công quyền vẫn là lực lượng chính, sự tham gia của người dân chỉ là phụ trợ, bổ sung.
Tôi được biết, ở một số nước phát triển, ý thức công dân của người dân rất cao nhưng hiếm có việc họ trở thành “Lục Vân Tiên”, vì việc một cá nhân tấn công một cá nhân khác mà không phải hành vi tự vệ chính đáng đều là vi phạm pháp luật. Hành động ý nghĩa nhất của họ là báo cảnh sát và lực lượng an ninh của họ thường xuyên làm việc hiệu quả, tạo được niềm tin cho người dân. Còn ở ta thì sao? Nếu vì các cơ quan công quyền chưa làm tròn chức trách của mình mà chỉ kêu gọi tinh thần nghĩa hiệp của người dân thì e rằng sẽ ngày càng có ít “Lục Vân Tiên” hơn!

Tạp bút

RAU SẠCH


1. Hiểu thông thường, “rau sạch” là loại rau phải được trồng theo một yêu cầu nghiêm ngặt về việc chọn giống, bón phân, tưới nước, sử dụng thuốc trừ sâu… Yêu cầu là vậy nhưng ai biết rằng có bao nhiêu phần trăm rau đang bán ở những nơi được coi là sạch liệu có thực sự sạch hay không? Hay người ta lâu nay vẫn “thủ thỉ” với nhau rằng “rau có sâu là rau sạch”, vì vậy có người cố tìm một vài cọng rau bị sâu ăn lỗ chỗ bỏ lẫn vào mớ rau tươi non khác, thậm chí còn bắt cả sâu bỏ vào bó rau, để chứng minh rằng nó sạch.
Người dân có quyền được ăn rau sạch. Vì đó là sức khỏe của họ, là tránh thiệt hại bản thân và cho xã hội. Thế nhưng liệu các loại rau mà chúng ta ăn hàng ngày, dù có giấy chứng nhận, dù được rửa kỹ bằng nước muối, bằng thuốc tím, bằng nước ozone… có thực sự sạch? Hay chúng ta cứ nhắm mắt làm ngơ?
2. Tôi có may mắn là thường được ăn rau sạch, sạch thực sự, sạch tuyệt đối. Bởi đó là loại rau tự nhiên (tự mọc, không phải trồng), vốn có rất nhiều trong vườn nhà. Hàng tháng, tôi thường về thăm gia đình ở Đồng Nai, nhân tiện, hái ít trái cây, đặc biệt là rau đem về thành phố. Rau hái tươi, rửa sạch, để ráo, gói vào lá chuối tươi rồi để trong tủ lạnh, có thể ăn dần trong cả tuần.
Rau càng cua hay mọc trong các bụi chuối, dưới các kẹt đá, lá xanh phơn phớt tươi non; rau này trộn gỏi thịt bò hoặc trộn chanh đường với chút hạt điều hay đậu phộng. Rau má mọc ở chỗ ẩm ướt có nhiều ánh sáng; cắt sát gốc, nấu canh với thịt bằm hoặc ăn sống đều rất ngon (mùa nắng mon rau má xay sinh tố giải nhiệt rất tốt). Loại rau sam, rau dền mọc dưới gốc quýt, gốc bưởi, luộc chấm nước thịt kho hoặc nấu canh thịt bằm cũng rất mát, lại có nhiều chất sắt. Này là mồng tơi mọc dại, cọng mập như chiếc đũa, lá to như bàn tay em bé, nấu với cua, tôm với mướp là món bổ dưỡng! Mà mướp thì cũng có sẵn, đó là loại mướp hương trái nhỏ, thơm ngát hay mọc trên bờ rào, leo lên cây điều rồi rủ trái. Hay rau ngót lá xanh đen. Loại rau này chỉ non vào mùa mưa, nhưng mẹ tôi vẫn có cách khiến nó non quanh năm: khi ngót già và nở hoa, người bèn cắt sát gốc và tưới nước, chỉ độ mươi ngày sau đọt mới mọc non nhẫn… Và còn bao nhiêu thứ khác nữa!
Rau mọc nhiều, có thể ăn trường kỳ, cứ hái lá, ngắt ngọn rồi nó tự mọc lại, tươi hơn, non hơn; vài chỗ “quên” hái, để già nên kết trái, hạt vương vãi đâu đó. Mùa mưa năm sau lại lên cây. Cứ thế, ăn mãi!
3. Ăn rau sạch dĩ nhiên rất ngon lại đảm bảo sức khỏe. Rau mọc dại còn giữ được hương vị đặc trưng đậm đà của từng loại, khác xa với loại rau trồng bị “ép” lớn nhanh để bán nên trở nên nhạt nhẽo. Cái vị đăng đắng của rau má, mùi hăng hăng của rau càng cua, vị chua chua của rau sam hay mùi hương nồng nàn của mướp… đều không lẫn vào đâu được.
Ăn rau trong vườn nhà không tốn tiền thì lại càng hay. Hái từng cọng rau, tôi không chỉ tiết kiệm được ít tiền chợ mà còn nhớ lại thuở nào mẹ tôi cũng hái từng lá rau bán cho tôi có tiền đi học đại học. Trong bữa ăn, tôi hay đem những chuyện này nói lại với các con cho chúng hiểu truyền thống gia đình thế nào mà định hướng nhân cách, tính cách. Nhưng hay nhất là trong mỗi bữa cơm được thưởng thức món ăn của quê nhà. Nó giản dị, đạm bạc mà cũng đậm đà tình nghĩa quê hương.
4. Những thứ rau dân dã mọc hoang đó bây giờ ở thành thị lại trở thành đặc sản. Vào nhà hàng, mồng tơi xào tỏi hay rau càng cua trộn thịt bò, rau dền nấu cua… được nhiều người ưa chuộng và giá cả chẳng rẻ chút nào. Nhưng ai dám đảm bảo đó là rau sạch?
Ngẫm lại, dường như có một “xu hướng đi ngược” trong sinh hoạt, ăn uống. Những thứ mà ngày trước vẫn thường dùng, có một lúc bị coi là “nhà quê”, “nhà nghèo”, thì nay xuất hiện trở lại ở vị thế khác hẳn. Như ngày nào người miền Tây toàn ở nhà lá dừa nước, sau đó người ta “tôn hóa”, “ngói hóa” thì bây giờ nhiều người (nhất là ở thành thị), người ta lại thích lợp lá, vừa cho mát vừa mang tính dân dã, mộc mạc. Nói gì đến rau mọc dại!
Người ta đang trở về quê. Bằng cách này hay cách khác!
Bài đã đăng Báo Sài Gòn Đầu tư tài chính, ngày 25-11-2010

Câu chuyện văn hóa

SAO PHẢI CỨ BẦU CHỌN QUỐC TỬU?

Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ nhiều năm trước, khi có người đề xuất lấy một loài hoa nào đó làm quốc hoa thì dư luận nhiệt tình hưởng ứng. Thái độ này thể hiện ở 2 dạng: một là ủng hộ việc nước ta nên có quốc hoa; hai là nên chọn hoa sen làm quốc hoa với những ý kiến khá thuyết phục. Rõ ràng đề xuất này đã đúng trúng và kích thích được tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc.
Tuy nhiên, khi có đề xuất (thậm chí được xây dựng thành một đề án hẳn hoi) về quốc tửu Việt Nam thì cũng có rất nhiều ý kiến nhưng hầu hết đều phản đối. Chung quy, các ý kiến có thể nhóm lại: bầu chọn quốc tửu để làm gì (mục đích), để cho ai (tác dụng, ích lợi) và bầu chọn ra sao (quy trình, đối tượng…). Nhìn chung, dư luận đều cho rằng bầu chọn quốc tửu không để làm gì cả, cũng không mang lại lợi ích thiết thực cho nhiều người và việc bầu chọn cũng không dễ dàng gì.
Trên thế giới, nước vừa công bố quốc tửu gần đây nhất là Argentina (tháng 11-2010). Trong buổi lễ diễn ra tại thủ đô Buenos Aires, Tổng thống Cristina Fernández đã phát biểu ”rượu vang phải được xem như văn hóa và bản sắc của một dân tộc. Rượu vang mang đến niềm tự hào cho người dân và đất nước Argentina”. Hiện tại, ngành công nghiệp rượu vang của nước này mang lại kim ngạch thương mại hàng năm đạt 2,6 tỷ USD, tương đương 1,37% GDP, tạo việc làm cho hơn 400.000 người. Argentina hiện là nhà sản xuất rượu vang thứ năm thế giới, nhà xuất khẩu thứ chín trên toàn cầu và xếp thứ bảy trong danh sách các nước tiêu thụ thứ đồ uống lên men từ nho theo bình quân đầu người trong một năm, với 30 lít. Theo thống kê, 77% rượu vang do Argentina sản xuất phục vụ cho nhu cầu trong nước. Ngành công nghiệp sản xuất rượu đã góp phần phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng nho, với 228.000ha. Một số nước khác cũng có loại rượu đặc trưng trở thành quốc tửu: Trung Quốc có Mao Đài, Nga có Vodka, Mỹ có Whisky...
So sánh với các nước vừa kể, rượu của Việt Nam chưa có một vị trí xứng đáng và phù hợp trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, rượu dù có mặt thường xuyên trong đời sống hàng ngày, kể cả các sinh hoạt văn hóa, lễ hội nhưng là loại rượu nào thì sẽ dẫn đến tranh luận; yếu tố văn hóa của rượu (bất kể rượu nào) còn chưa thật đậm nét; tác hại do rượu gây ra (về sức khỏe, tính mạng, kinh tế…) đối với một bộ phận người dân vẫn còn nặng nề; ngành sản xuất rượu chưa đóng góp nhiều trong cơ cấu kinh tế đất nước, cũng không kích thích nông nghiệp phát triển; uy tín và thương hiệu của rượu Việt Nam trên thế giới cũng chưa có…
Vì vậy, bây giờ đặt ra vấn đề quốc tửu, có thể khiến nhiều người hiểu rằng đây là một hình thức khuyến khích người dân uống rượu, hoặc là một chiêu “quảng bá” cho một loại rượu nào đó (được chọn), tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các loại rượu, các vùng sản xuất rượu.
Nếu so sánh giữa quốc hoa và quốc tửu thì quốc hoa gần như hoàn toàn mang ý nghĩa tinh thần nên khó bị lợi dụng. Hơn nữa, nếu chọn hoa sen, thì với vẻ đẹp tinh khiết của loài hoa này, rất dễ được mọi người chấp nhận. Trong khi đó, quốc tửu mang nhiều ý nghĩa vật chất nên dễ bị lợi dụng làm cho tầm thường hóa. Đồng thời, cũng dễ được mang ra đong đếm, mà đã đong đếm thì có nhiều tiêu chí khác nhau nên sẽ không được sự đồng thuận cao. Hơn nữa, với sự tản mác các loại rượu, gần như rất khó chọn được loại rượu nào thực sự đặc trưng của cả nước, dù loại rượu đặc trưng vùng miền đã có không ít.
Vì những lẽ đó, không nên tiếp tục đặt ra vấn đề bình chọn quốc tửu, hay ít nhất cũng là trong điều kiện hiện nay. Thay vì tốn kém công sức, trí tuệ, tiền của cho việc làm không có nhiều lợi ích thiết thực này, hãy đầu tư cho những dự án, những công trình ích nước lợi dân hơn!


Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Câu chuyện văn hóa

VĂN HÓA ĐI XE MÁY…

1. Bữa nọ, khi tôi đang trên đường về Định Quán (Đồng Nai) bằng xe máy, đoạn qua xã Phú Cường (trên quốc lộ 20), thì một anh đi xe Airblade chạy vượt lên bảo: “Anh đi cẩn thận nhé! Đoạn này hay có cảnh sát giao thông bắn tốc độ lắm”! Tôi cảm ơn anh rồi chạy chầm chậm phía sau. Được một đoạn, anh ra dấu “không có” rồi anh chủ động đi chậm lại, quay sang bảo tôi: “Anh đi từ đây về Định Quán, nhớ để ý có một chiếc bảy chỗ đậu bên lề, là “họ” đang canh “bắn” đó”! Tôi cảm ơn anh một lần nữa rồi vượt lên phía trước…
Những người đi đường báo hiệu nhau “có công an” rất phổ biến trên mọi nẻo đường ở nước ta. Ôtô thì dùng tay, còi, đèn… để cho bác tài hướng ngược chiều biết phía trước “có” hay “không”. Còn người đi xe (nhất là khi đi vào đường cấm, chạy bên trái đường…) cũng hay được những người đi xe máy khác hoặc người buôn bán trên lề đường “cảnh báo” tương tự. Điều lạ là, nhiều thấy người chạy xe gắn máy vi phạm luật giao thông chẳng những không cảnh báo nguy hiểm (cho bản thân và cho người đi đường khác) mà còn “giúp” họ tránh né cảnh sát giao thông. Điều này không phải đáng chú ý lắm sao?
2. Một sự giúp đỡ khác, thiết thực và đáng quý hơn rất nhiều đối với những người đi xe máy, cũng rất phổ biến là báo chưa gạt chân chống, chưa tắt đèn xe hoặc xe bị hỏng hóc gì đó… Nhiều người cố chạy vượt lên xe người khác chỉ để báo rằng người đó nên gạt chân chống xe lên, chẳng cần đợi nói câu cảm ơn rồi tự lùi xe lại. Ai biết rằng cái chân chống còn “ngang ngạnh” đó có thể gây nguy hiểm cho người điều khiển, nhất là khi ôm cua hoặc đi vào đường gồ ghề…
Một lần, tôi cũng gặp một “sự cố” liên quan đến đèn xi nhan. Đang đi đường, một tay bặm trợn chạy vượt lên rồi ép tôi vào lề quát: “Ông không chịu tắt đèn xin nhan, muốn bị người ta đụng hả?” Tôi hơi bức mình vì cái kiểu quát nạt đó, lại thêm bực bội đường đông, xe kẹt nên xẵng giọng: “Quên chút làm gì dữ vậy? Có mắc mớ gì tới anh không?” Anh ta hơi “quê” nên càng sừng sộ, toan chặn đầu xe tôi lại, như muốn hành hung. Thấy căng, tôi bèn làm thinh rồi tìm đường lảng đi. Hồi lâu nghĩ lại, có lẽ anh ta có ý tốt, chẳng qua cách thể hiện chưa tốt mà thôi…
3. Nhiều người đi xe máy bây giờ chưa thực sự thể hiện tính văn hóa, văn minh của mình, nhất là ở các đô thị. Chạy lạng lách, đánh võng, vượt cắt mặt người khác, chạy lấn vào tuyến ôtô… là những hành vi rất nguy hiểm. Chạy vào đường cấm, vượt đèn đỏ, chạy bên trái đường, chạy trên lề đường, vượt qua vạch sơn trắng dành cho người đi bộ… không chỉ nguy hiểm cho bản thân và người đi đường khác mà còn là nguyên nhân gây ra tình trạng kẹt xe. Bấm kèn inh ỏi, bật đèn chiếu xa (nhất là loại đèn halogen) khi tránh nhau vào ban đêm, nẹt pô, rú ga… cũng là những hành vi đáng bị chê trách. Rồi việc chạy ào qua chỗ đường bị ngập nước, mặc cho nước bắn tung tóe vào người khác, cũng đáng bị phê phán…
Xe máy bây giờ trở thành phương tiện đi lại phổ biến nhất tại Việt Nam. Xe máy mang lại rất nhiều tiện lợi, không chỉ trong giao thông mà còn trong chuyên chở hàng hóa, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có đường ôtô. Tuy vậy, xe máy cũng là nguyên nhân của những hệ lụy nguy hiểm, như kẹt xe, ô nhiễm môi trường và nhất là tai nạn giao thông.
Do đó, mỗi người đi xe máy cần có ý thức bảo vệ bản thân mình và tôn trọng những người tham gia giao thông khác. Đó là biểu hiện quan trọng nhất của văn hóa giao thông. Và, văn hóa giao thông trước hết là đảm bảo an toàn cho mọi người trên đường.
Bài đã đăng Báo SGGP, ngày 15-1-2011

Câu chuyện giáo dục

DẠY LỊCH SỬ PHẢI CHO THUYẾT PHỤC!

Vừa qua, có vài ý kiến “phản biện” đối với một số chi tiết lịch sử. Chẳng hạn, có ý kiến phản bác lại chi tiết trong một số tài liệu (kể cả sách giáo khoa) cho rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống quân đô hộ nhà Đường (năm 722) có nguyên nhân trực tiếp từ việc vua Đường Minh Hoàng bắt ép người dân Châu Hoan (Nghệ An) gánh quả vải (lệ chi) sang Trường An dâng cho Dương Quý phi. Ý kiến này cho rằng quả vải ở Nghệ An không phải là giống vải ngon để có thể tiến cho vua chúa. Hơn nữa, nếu có được tiến cống thì từ Nghệ An đến Trường An xa những 4.000 km, quả vải không thể nào còn ăn được. Ngoài ra, theo tài liệu lịch sử, Dương Quý Phi sinh năm 719, khi Mai Thúc Loan khởi binh, nàng mới… 3 tuổi!
Hay chuyện về vua Lê Long Đĩnh cũng có điểm nghi vấn. Lâu nay, sách sử - kể cả trong Đại Việt sử ký toàn thư – thường cho rằng vị vua này giết anh đoạt ngôi, là một hôn quân, lấy trò róc mía trên đầu nhà sư, giả lỡ tay làm chảy máu để làm trò vui; lấy việc cột tù nhân vào mạn thuyền cho rắn độc cắn hay cột tử tù vào cột đồng rồi đốt lửa cho người tù chết dần dần làm hình phạt… Sử cũng cho rằng Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được nên khi thượng triều phải nằm nên gọi là Ngọa Triều... Thế nhưng sử cũng ghi lại rằng vị vua này thường thân chinh đánh giặc, có sự quan tâm đến kinh Phật, đến sách vở lễ giáo... Thành ra liệu vị vua này có thực sự giết anh đoạt ngôi hay không, có phải là hôn quân hay không, một vị vua bị bệnh trĩ phải “ngọa triều” thì có thể cầm quân đánh trận không… Phải chăng vì sự “đóng đinh” của Đại Việt sử ký toàn thư từ hơn 500 năm qua mà các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay không tiếc gì mà không bồi thêm những “chiếc đinh” khác?
Lâu nay, nhiều người cho rằng chương trình giáo dục lịch sử trong nhà trường không hấp dẫn học sinh. Đó là một trong những lý do khiến kiến thức về lịch sử của một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông không tốt. Điều đó đúng nhưng cũng cần nhắc đến nội dung giảng dạy của môn lịch sử. Ngoài ra, cách giảng dạy mà ít gợi mở cho học sinh suy nghĩ, không tạo điều kiện để học sinh được phản biện những nội dung đã truyền đạt thì rõ ràng không kích thích tính sáng tạo và tinh thần tự tìm hiểu của học sinh.
Nhiều người đã nhắc đến cách đặt vấn đề “một chiều” trong nội dung của môn lịch sử. Đó là kiểu giảng “địch xấu ta tốt”, “chế độ phong kiến phản động” hoặc ở những chỗ khó lý giải thì thường dùng từ “do hoàn cảnh lịch sử”… Với cách dạy đó, học sinh thường thấy những anh hùng dân tộc không có chút “tì vết”; một kẻ phản bội Tổ quốc thì hoàn toàn xấu xa; một chế độ có nhiều sai lầm không có đóng góp gì cho đất nước… Mà học lịch sử đâu phải chỉ học những cái hay, cái tốt? Hơn nữa, trên thực tế, đâu phải chuyện gì cũng rạch ròi để có thể xác định rằng A là A, B là B? Vậy tại sao không gợi mở để học sinh suy nghĩ, tự rút ra bài học cho mình, thay vì áp đặt, gò ép?
Tính thuyết phục trở thành yêu cầu quan trọng trong giảng dạy môn lịch sử. Học sinh học lịch sử không phải chỉ để biết ai đã làm gì vào thời gian nào, kết quả ra sao, hay để yêu ghét ai mà quan trọng hơn là qua đó các em học được điều gì cho bản thân và gợi mở cho các em suy nghĩ để sống có ích cho đất nước. Học sinh học lịch sử để các em thêm có tình yêu với Tổ quốc, có thêm trách nhiệm với đất nước, để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thêm những thành viên mới cùng chung tay góp sức.Vì vậy, bên cạnh cải tiến chương trình thì một số nội dung và cách đặt vấn đề đối với các nội dung đó cũng cần thiết được quan tâm nhiều hơn. Bài học trong môn lịch sử phải viết cho chính xác, phải được nhìn bằng con mắt khách quan, khoa học, không có định kiến. Những chi tiết, sự kiện nào trước đây chưa nói rõ hoặc nói chưa đúng thì nay nên cần thiết “nói lại” cho đúng, cho rõ. Những điểm nghi vấn thì cứ mạnh dạn nêu lên để cho học sinh suy nghĩ thay vì bỏ qua hoặc suy diễn theo ý kiến chủ quan của ai đó. Do đó, tư tưởng “yêu nên tốt ghét nên xấu” phải được loại bỏ; công phải được ca ngợi, tội phải được phê phán, không được lập lờ, lấp lửng.

Thời sự và suy nghĩ

CHỈ SỐ LẠC QUAN “VÀNG”

Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng vào cuối năm 2010, 2 cuộc khảo sát riêng biệt đều cho cùng kết quả về tinh thần lạc quan của người Việt Nam.
Cuộc khảo sát thứ nhất có tên gọi TNS AP Temperature check 2010, cho thấy, 48% trong tổng số 500 người được hỏi cho rằng tình hình kinh tế và việc làm của Việt Nam là tích cực, và tỷ lệ này cao hơn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Khi được hỏi về triển vọng của Việt Nam trong năm 2011, có đến 68% tin rằng tình hình kinh tế sẽ tốt hơn và 69% cho rằng nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra trong năm tới. Tỷ lệ này cũng cao hơn nhiều so với 3 nước trên. Từ kết quả của các khảo sát và nghiên cứu thị trường, TNS Việt Nam đưa ra chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam năm 2010 là 78, cao hơn mức 64 của năm 2009 nhưng vẫn còn thấp hơn mức 89 của năm 2008(1).
Cuộc khảo sát thứ hai, là cuộc thăm dò ý kiến trên 63.000 người đến từ 53 quốc gia, do tổ chức nghiên cứu thị trường BVA và Hiệp hội quốc tế Gallup phối hợp thực hiện, trong khoảng từ tháng 10 đến tháng 12-2010. Nước có niềm tin lạc quan nhất là Việt Nam, tiếp đến là Nigeria, Brazil, Ghana và Trung Quốc. 70% người Việt Nam tham gia một cuộc khảo sát này tin tưởng vào triển vọng kinh tế của nước nhà. Các chuyên gia nhận định vị trí của Việt Nam phản ánh sự phát triển kinh tế quốc gia với tỷ lệ tăng trưởng là 7% trong năm 2010(2).
Các kết quả này hẳn gây ra không ít tranh luận. Ý kiến ủng hộ thì cho rằng, lạc quan là một trong những đặc điểm tính cách của người Việt Nam từ xưa đến nay; rằng lạc quan sẽ giúp người ta sáng suốt và chủ động giải quyết các khó khăn; rằng thực tế có những dấu hiệu rất tích cực, đáng để lạc quan; rằng lạc quan không mất tiền, tội gì mà căng thẳng… Ý kiến nghi ngờ thì cho rằng cuộc khảo sát có thể chưa toàn diện (như thiếu những người là nông dân, bà con đồng bào thiểu số…); rằng đây chỉ là lạc quan tếu; rằng thực tế có quá nhiều việc không đáng lạc quan (như lạm phát, ô nhiễm môi trường, kẹt xe…); rằng cuộc khảo sát này không phản ánh đúng thực tế xã hội Việt Nam; rằng kết quả này chỉ đáng để tham khảo cho vui thôi…
Cũng có ý kiến cho rằng không nên vì kết quả này mà quên đi thực tại. Lạc quan là tốt nhưng cần gắn tâm lý này với những hành động cụ thể, trong từng việc cụ thể của từng người. Vì lạc quan tự nó không đem lại những lợi ích cụ thể, thiết thực, mà phải qua nỗ lực lao động, sáng tạo, học tập… trên tinh thần của niềm phấn chấn đó.
Phải nói rằng, tinh thần lạc quan của người Việt Nam ta là một đặc điểm vô cùng quý báu. Không lạc quan sao được khi nước ta phải thường xuyên đối mặt với thiên tai địch họa, do đó, lạc quan để tạo ra sức mạnh vượt qua những thử thách đó và mang tính truyền thống ngàn đời qua. Ca dao có câu Đừng than phận khó ai ơi/Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây!, đã phản ánh lòng tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn. Hay quán ngữ “Cái khó ló cái khôn” cũng là một cách biểu đạt khả năng tìm ra được lối ra dù ở trong hoàn cảnh khó khăn. Hay rất nhiều truyện tiếu lâm, truyện trạng (nói ngang, nói dóc, mà ở Nam bộ nổi tiếng nhất là chuyện Bác Ba Phi) cũng là một dạng khác của tinh thần lạc quan.
Vì vậy, tỉ lệ xấp xỉ 70% những người tham gia khảo sát có lý do chính đáng (và hợp logic) để tin tưởng vào một năm mới tốt đẹp hơn. Trong nhiều năm qua, nhất là từ khi đổi mới, mở cửa đến nay, năm sau tốt hơn năm trước luôn là xu hướng chủ đạo, không chỉ đối với thế của đất nước mà còn với hầu hết người dân Việt Nam. Sự chuyển biến đó là hoàn toàn tích cực, phù hợp với thực tế và mang lại ý nghĩa cụ thể, thiết thực cho tuyệt đại đa số người dân. Nhìn vào bữa ăn, cách ăn mặc, phương tiện đi lại, cách thức giải trí… và so sánh lại mỗi 5 năm, ta thấy có sự thay đổi rất lớn. Nếu so tới 20 năm thì như là một cuộc đổi đời. Do đó, lạc quan này không phải là lạc quan tếu mà có cơ sở thực tiễn của nó; tức không phải là lạc quan theo kiểu A.Q. với phép thắng lợi tinh thần.
Thái độ lạc quan này dựa trên những niềm tin có tính khách quan, chứ không phải tin tưởng một cách vô căn cứ hay mù quáng. Trước hết, niềm tin này dựa vào chủ trương, đường lối và sự lãnh đạo của Đảng, của nhà nước, của hệ thống chính trị. Rõ ràng sự lãnh đạo này đã đem lại những kết quả rất quan trọng và thiết thực cho hầu hết người dân. Qua những quyết sách mang tính đột phá, như mở rộng quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút đầu tư nước ngoài… đã tạo nên thế nước và vận nước lên cao, nâng cao sức sản xuất và từ đó nâng chất lượng sống của người dân. Một số biểu hiện được cho là hạn chế, yếu kém thì cũng có lý do từ sự phát triển nhanh chóng này. Chẳng hạn, nạn kẹt xe thì chính do có quá nhiều xe, do nhiều người có khả năng và nhu cầu sử dụng xe, kể cả các loại ôtô đắt tiền; hay biểu hiện “trúng mùa mất giá” cũng do năng suất sản xuất nông nghiệp được đẩy lên cao, số nông dân giỏi ngày càng nhiều…(3) Dĩ nhiên, có một số mặt quản lý chưa theo kịp thực tế. Điều này đã được Đảng và nhà nước nhìn nhận và tiếp tục khắc phục. Từ đó có thể thấy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đang phát triển ổn định, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và có hiệu quả.
Niềm tin thứ hai ở những người lãnh đạo Đảng, nhà nước và hệ thống chính trị. Các quyết sách dù đúng đắn nhưng nếu không do những người điều hành, thực hiện có trình độ, có tâm huyết thì cũng không thể phát huy hiệu quả. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà báo điện tử VnExpress đã bình chọn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là nhân vật của năm 2010, sau hàng loạt biện pháp điều hành kinh tế vĩ mô hợp lý, quyết đoán trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn ảnh hưởng sau cuộc suy thoái, cũng như sự điều chỉnh ở các tập đoàn kinh tế nhà nước (qua vụ Vinashin), cùng sự thẳng thắn, cầu thị trong các phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội… Hay qua việc Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một biểu hiện cho thấy Đảng sáng suốt, trong sạch và hết lòng vì nhân dân. Chính Cuộc vận động này đã được người dân quan tâm, hưởng ứng nhiệt tình, cũng là sự quan tâm, hưởng ứng các chủ trương lớn của Đảng(4).
Niềm tin thứ ba chính là ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI với Cương lĩnh chính trị được bổ sung, phát triển, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn mới, nghị quyết mới. Có thể nói, Đại hội XI có vai trò bước ngoặt lịch sử vì nó vạch ra đường hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cũng có thể nói, đại hội này (và đại hội sau) mang tính “bản lề” bởi nó ở giao thời của đất nước – đầu nhiệm kỳ XI là lúc nước ta cơ bản vượt qua tình trạng kém phát triển (GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt xấp xỉ 1.200 USD) và cuối nhiệm kỳ XII là lúc nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Trong khi đó, dự thảo Cương lĩnh (phát triển, bổ sung, sửa đổi), báo cáo chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã được công bố rộng rãi để toàn Đảng, toàn dân hiểu và tham gia góp ý. Điều đó khẳng định tinh thần lắng nghe cầu thị của Đảng.
Tuy nhiên, có ý kiến nhận định, phải chăng do trình độ nhận thức, do nhu cầu (yêu cầu, đòi hỏi) của người được khảo sát (ít nhiều phản ánh là người dân Việt Nam nói chung) còn thấp? Phải chăng do chưa đòi hỏi có mức sống cao (cũng là chưa có những ước mơ lớn) nên sự nhìn nhận thực tế như vậy là lạc quan? Ví như với người ở nhà tranh mà được chuyển sang nhà ngói là cả một sự đổi đời; còn với người đã ở nhà ngói mà chuyển sang ở nhà đúc thì cũng không phải sự thay đổi to tát. Điều này rất đáng suy nghĩ. Vì phạm trù hạnh phúc hay lạc quan có những mức độ riêng của nó, có sự khác nhau giữa những người khác nhau. Điều này đặt ra trách nhiệm phải tiếp tục nâng cao chất lượng sống (mức sống) của người dân. “Chỉ số lạc quan” như trong các cuộc khảo sát trên chỉ đáng để tham khảo, không có nghĩa là người dân đã hoàn toàn thỏa mãn, tin tưởng các chủ trương, chính sách của nhà quản lý.
Dù vậy, người dân lạc quan, có nghĩa rằng họ có sự ủng hộ lớn đối với các quyết sách của nhà nước. Do đó, đừng đánh mất chỉ số lạc quan “vàng” này, cũng có nghĩa là đừng đánh mất lòng tin, sự ủng hộ của người dân.
(1) Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn online ngày 13-12-2010, tại địa chỉ http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/44857/TNS-Chi-so-lac-quan-cua-nguoi-tieu-dung-Viet-Nam-tang.html
(2) Theo Vnexpress.net, tại địa chỉ http://vnexpress.net/GL/The-gioi/2011/01/3BA25038/
(3) Riêng tại TP.HCM, kết quả thăm dò dư luận xã hội về 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII (2005 – 2010) do Ban Tuyên giáo Thành ủy tiến hành, đã cho một số kết quả: đánh giá những thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong 5 năm, hai mặt được đánh giá khá tốt là “tốc độ tăng trưởng kinh tế (77,62%) và xóa đói giảm nghèo (71,08%); về triển vọng phát triển của thành phố trong 5 năm tới, 81,93% số người được hỏi cho rằng “tốc độ tăng trưởng kinh tế” sẽ tốt hơn 5 năm qua, 73,81% cho rằng sẽ tăng hộ khá, giảm hộ nghèo…
(4) Cũng trong cuộc thăm dò của Ban Tuyên giáo Thành ủy, về “mức độ tác động của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị, địa phương”, 90,9% người được hỏi cho rằng tốt hơn; 82,5% cho rằng có sự chuyển biến (theo chiều hướng tích cực) trong đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên thông qua Cuộc vận động…