DẠY LỊCH SỬ PHẢI CHO THUYẾT PHỤC!
Vừa qua, có vài ý kiến “phản biện” đối với một số chi tiết lịch sử. Chẳng hạn, có ý kiến phản bác lại chi tiết trong một số tài liệu (kể cả sách giáo khoa) cho rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống quân đô hộ nhà Đường (năm 722) có nguyên nhân trực tiếp từ việc vua Đường Minh Hoàng bắt ép người dân Châu Hoan (Nghệ An) gánh quả vải (lệ chi) sang Trường An dâng cho Dương Quý phi. Ý kiến này cho rằng quả vải ở Nghệ An không phải là giống vải ngon để có thể tiến cho vua chúa. Hơn nữa, nếu có được tiến cống thì từ Nghệ An đến Trường An xa những 4.000 km, quả vải không thể nào còn ăn được. Ngoài ra, theo tài liệu lịch sử, Dương Quý Phi sinh năm 719, khi Mai Thúc Loan khởi binh, nàng mới… 3 tuổi!
Hay chuyện về vua Lê Long Đĩnh cũng có điểm nghi vấn. Lâu nay, sách sử - kể cả trong Đại Việt sử ký toàn thư – thường cho rằng vị vua này giết anh đoạt ngôi, là một hôn quân, lấy trò róc mía trên đầu nhà sư, giả lỡ tay làm chảy máu để làm trò vui; lấy việc cột tù nhân vào mạn thuyền cho rắn độc cắn hay cột tử tù vào cột đồng rồi đốt lửa cho người tù chết dần dần làm hình phạt… Sử cũng cho rằng Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được nên khi thượng triều phải nằm nên gọi là Ngọa Triều... Thế nhưng sử cũng ghi lại rằng vị vua này thường thân chinh đánh giặc, có sự quan tâm đến kinh Phật, đến sách vở lễ giáo... Thành ra liệu vị vua này có thực sự giết anh đoạt ngôi hay không, có phải là hôn quân hay không, một vị vua bị bệnh trĩ phải “ngọa triều” thì có thể cầm quân đánh trận không… Phải chăng vì sự “đóng đinh” của Đại Việt sử ký toàn thư từ hơn 500 năm qua mà các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay không tiếc gì mà không bồi thêm những “chiếc đinh” khác?
Lâu nay, nhiều người cho rằng chương trình giáo dục lịch sử trong nhà trường không hấp dẫn học sinh. Đó là một trong những lý do khiến kiến thức về lịch sử của một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông không tốt. Điều đó đúng nhưng cũng cần nhắc đến nội dung giảng dạy của môn lịch sử. Ngoài ra, cách giảng dạy mà ít gợi mở cho học sinh suy nghĩ, không tạo điều kiện để học sinh được phản biện những nội dung đã truyền đạt thì rõ ràng không kích thích tính sáng tạo và tinh thần tự tìm hiểu của học sinh.
Nhiều người đã nhắc đến cách đặt vấn đề “một chiều” trong nội dung của môn lịch sử. Đó là kiểu giảng “địch xấu ta tốt”, “chế độ phong kiến phản động” hoặc ở những chỗ khó lý giải thì thường dùng từ “do hoàn cảnh lịch sử”… Với cách dạy đó, học sinh thường thấy những anh hùng dân tộc không có chút “tì vết”; một kẻ phản bội Tổ quốc thì hoàn toàn xấu xa; một chế độ có nhiều sai lầm không có đóng góp gì cho đất nước… Mà học lịch sử đâu phải chỉ học những cái hay, cái tốt? Hơn nữa, trên thực tế, đâu phải chuyện gì cũng rạch ròi để có thể xác định rằng A là A, B là B? Vậy tại sao không gợi mở để học sinh suy nghĩ, tự rút ra bài học cho mình, thay vì áp đặt, gò ép?
Tính thuyết phục trở thành yêu cầu quan trọng trong giảng dạy môn lịch sử. Học sinh học lịch sử không phải chỉ để biết ai đã làm gì vào thời gian nào, kết quả ra sao, hay để yêu ghét ai mà quan trọng hơn là qua đó các em học được điều gì cho bản thân và gợi mở cho các em suy nghĩ để sống có ích cho đất nước. Học sinh học lịch sử để các em thêm có tình yêu với Tổ quốc, có thêm trách nhiệm với đất nước, để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thêm những thành viên mới cùng chung tay góp sức.Vì vậy, bên cạnh cải tiến chương trình thì một số nội dung và cách đặt vấn đề đối với các nội dung đó cũng cần thiết được quan tâm nhiều hơn. Bài học trong môn lịch sử phải viết cho chính xác, phải được nhìn bằng con mắt khách quan, khoa học, không có định kiến. Những chi tiết, sự kiện nào trước đây chưa nói rõ hoặc nói chưa đúng thì nay nên cần thiết “nói lại” cho đúng, cho rõ. Những điểm nghi vấn thì cứ mạnh dạn nêu lên để cho học sinh suy nghĩ thay vì bỏ qua hoặc suy diễn theo ý kiến chủ quan của ai đó. Do đó, tư tưởng “yêu nên tốt ghét nên xấu” phải được loại bỏ; công phải được ca ngợi, tội phải được phê phán, không được lập lờ, lấp lửng.
Vừa qua, có vài ý kiến “phản biện” đối với một số chi tiết lịch sử. Chẳng hạn, có ý kiến phản bác lại chi tiết trong một số tài liệu (kể cả sách giáo khoa) cho rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan chống quân đô hộ nhà Đường (năm 722) có nguyên nhân trực tiếp từ việc vua Đường Minh Hoàng bắt ép người dân Châu Hoan (Nghệ An) gánh quả vải (lệ chi) sang Trường An dâng cho Dương Quý phi. Ý kiến này cho rằng quả vải ở Nghệ An không phải là giống vải ngon để có thể tiến cho vua chúa. Hơn nữa, nếu có được tiến cống thì từ Nghệ An đến Trường An xa những 4.000 km, quả vải không thể nào còn ăn được. Ngoài ra, theo tài liệu lịch sử, Dương Quý Phi sinh năm 719, khi Mai Thúc Loan khởi binh, nàng mới… 3 tuổi!
Hay chuyện về vua Lê Long Đĩnh cũng có điểm nghi vấn. Lâu nay, sách sử - kể cả trong Đại Việt sử ký toàn thư – thường cho rằng vị vua này giết anh đoạt ngôi, là một hôn quân, lấy trò róc mía trên đầu nhà sư, giả lỡ tay làm chảy máu để làm trò vui; lấy việc cột tù nhân vào mạn thuyền cho rắn độc cắn hay cột tử tù vào cột đồng rồi đốt lửa cho người tù chết dần dần làm hình phạt… Sử cũng cho rằng Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được nên khi thượng triều phải nằm nên gọi là Ngọa Triều... Thế nhưng sử cũng ghi lại rằng vị vua này thường thân chinh đánh giặc, có sự quan tâm đến kinh Phật, đến sách vở lễ giáo... Thành ra liệu vị vua này có thực sự giết anh đoạt ngôi hay không, có phải là hôn quân hay không, một vị vua bị bệnh trĩ phải “ngọa triều” thì có thể cầm quân đánh trận không… Phải chăng vì sự “đóng đinh” của Đại Việt sử ký toàn thư từ hơn 500 năm qua mà các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay không tiếc gì mà không bồi thêm những “chiếc đinh” khác?
Lâu nay, nhiều người cho rằng chương trình giáo dục lịch sử trong nhà trường không hấp dẫn học sinh. Đó là một trong những lý do khiến kiến thức về lịch sử của một bộ phận không nhỏ học sinh phổ thông không tốt. Điều đó đúng nhưng cũng cần nhắc đến nội dung giảng dạy của môn lịch sử. Ngoài ra, cách giảng dạy mà ít gợi mở cho học sinh suy nghĩ, không tạo điều kiện để học sinh được phản biện những nội dung đã truyền đạt thì rõ ràng không kích thích tính sáng tạo và tinh thần tự tìm hiểu của học sinh.
Nhiều người đã nhắc đến cách đặt vấn đề “một chiều” trong nội dung của môn lịch sử. Đó là kiểu giảng “địch xấu ta tốt”, “chế độ phong kiến phản động” hoặc ở những chỗ khó lý giải thì thường dùng từ “do hoàn cảnh lịch sử”… Với cách dạy đó, học sinh thường thấy những anh hùng dân tộc không có chút “tì vết”; một kẻ phản bội Tổ quốc thì hoàn toàn xấu xa; một chế độ có nhiều sai lầm không có đóng góp gì cho đất nước… Mà học lịch sử đâu phải chỉ học những cái hay, cái tốt? Hơn nữa, trên thực tế, đâu phải chuyện gì cũng rạch ròi để có thể xác định rằng A là A, B là B? Vậy tại sao không gợi mở để học sinh suy nghĩ, tự rút ra bài học cho mình, thay vì áp đặt, gò ép?
Tính thuyết phục trở thành yêu cầu quan trọng trong giảng dạy môn lịch sử. Học sinh học lịch sử không phải chỉ để biết ai đã làm gì vào thời gian nào, kết quả ra sao, hay để yêu ghét ai mà quan trọng hơn là qua đó các em học được điều gì cho bản thân và gợi mở cho các em suy nghĩ để sống có ích cho đất nước. Học sinh học lịch sử để các em thêm có tình yêu với Tổ quốc, có thêm trách nhiệm với đất nước, để công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thêm những thành viên mới cùng chung tay góp sức.Vì vậy, bên cạnh cải tiến chương trình thì một số nội dung và cách đặt vấn đề đối với các nội dung đó cũng cần thiết được quan tâm nhiều hơn. Bài học trong môn lịch sử phải viết cho chính xác, phải được nhìn bằng con mắt khách quan, khoa học, không có định kiến. Những chi tiết, sự kiện nào trước đây chưa nói rõ hoặc nói chưa đúng thì nay nên cần thiết “nói lại” cho đúng, cho rõ. Những điểm nghi vấn thì cứ mạnh dạn nêu lên để cho học sinh suy nghĩ thay vì bỏ qua hoặc suy diễn theo ý kiến chủ quan của ai đó. Do đó, tư tưởng “yêu nên tốt ghét nên xấu” phải được loại bỏ; công phải được ca ngợi, tội phải được phê phán, không được lập lờ, lấp lửng.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét