Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Thời sự và suy nghĩ

CHỈ SỐ LẠC QUAN “VÀNG”

Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng vào cuối năm 2010, 2 cuộc khảo sát riêng biệt đều cho cùng kết quả về tinh thần lạc quan của người Việt Nam.
Cuộc khảo sát thứ nhất có tên gọi TNS AP Temperature check 2010, cho thấy, 48% trong tổng số 500 người được hỏi cho rằng tình hình kinh tế và việc làm của Việt Nam là tích cực, và tỷ lệ này cao hơn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Khi được hỏi về triển vọng của Việt Nam trong năm 2011, có đến 68% tin rằng tình hình kinh tế sẽ tốt hơn và 69% cho rằng nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra trong năm tới. Tỷ lệ này cũng cao hơn nhiều so với 3 nước trên. Từ kết quả của các khảo sát và nghiên cứu thị trường, TNS Việt Nam đưa ra chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam năm 2010 là 78, cao hơn mức 64 của năm 2009 nhưng vẫn còn thấp hơn mức 89 của năm 2008(1).
Cuộc khảo sát thứ hai, là cuộc thăm dò ý kiến trên 63.000 người đến từ 53 quốc gia, do tổ chức nghiên cứu thị trường BVA và Hiệp hội quốc tế Gallup phối hợp thực hiện, trong khoảng từ tháng 10 đến tháng 12-2010. Nước có niềm tin lạc quan nhất là Việt Nam, tiếp đến là Nigeria, Brazil, Ghana và Trung Quốc. 70% người Việt Nam tham gia một cuộc khảo sát này tin tưởng vào triển vọng kinh tế của nước nhà. Các chuyên gia nhận định vị trí của Việt Nam phản ánh sự phát triển kinh tế quốc gia với tỷ lệ tăng trưởng là 7% trong năm 2010(2).
Các kết quả này hẳn gây ra không ít tranh luận. Ý kiến ủng hộ thì cho rằng, lạc quan là một trong những đặc điểm tính cách của người Việt Nam từ xưa đến nay; rằng lạc quan sẽ giúp người ta sáng suốt và chủ động giải quyết các khó khăn; rằng thực tế có những dấu hiệu rất tích cực, đáng để lạc quan; rằng lạc quan không mất tiền, tội gì mà căng thẳng… Ý kiến nghi ngờ thì cho rằng cuộc khảo sát có thể chưa toàn diện (như thiếu những người là nông dân, bà con đồng bào thiểu số…); rằng đây chỉ là lạc quan tếu; rằng thực tế có quá nhiều việc không đáng lạc quan (như lạm phát, ô nhiễm môi trường, kẹt xe…); rằng cuộc khảo sát này không phản ánh đúng thực tế xã hội Việt Nam; rằng kết quả này chỉ đáng để tham khảo cho vui thôi…
Cũng có ý kiến cho rằng không nên vì kết quả này mà quên đi thực tại. Lạc quan là tốt nhưng cần gắn tâm lý này với những hành động cụ thể, trong từng việc cụ thể của từng người. Vì lạc quan tự nó không đem lại những lợi ích cụ thể, thiết thực, mà phải qua nỗ lực lao động, sáng tạo, học tập… trên tinh thần của niềm phấn chấn đó.
Phải nói rằng, tinh thần lạc quan của người Việt Nam ta là một đặc điểm vô cùng quý báu. Không lạc quan sao được khi nước ta phải thường xuyên đối mặt với thiên tai địch họa, do đó, lạc quan để tạo ra sức mạnh vượt qua những thử thách đó và mang tính truyền thống ngàn đời qua. Ca dao có câu Đừng than phận khó ai ơi/Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây!, đã phản ánh lòng tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn. Hay quán ngữ “Cái khó ló cái khôn” cũng là một cách biểu đạt khả năng tìm ra được lối ra dù ở trong hoàn cảnh khó khăn. Hay rất nhiều truyện tiếu lâm, truyện trạng (nói ngang, nói dóc, mà ở Nam bộ nổi tiếng nhất là chuyện Bác Ba Phi) cũng là một dạng khác của tinh thần lạc quan.
Vì vậy, tỉ lệ xấp xỉ 70% những người tham gia khảo sát có lý do chính đáng (và hợp logic) để tin tưởng vào một năm mới tốt đẹp hơn. Trong nhiều năm qua, nhất là từ khi đổi mới, mở cửa đến nay, năm sau tốt hơn năm trước luôn là xu hướng chủ đạo, không chỉ đối với thế của đất nước mà còn với hầu hết người dân Việt Nam. Sự chuyển biến đó là hoàn toàn tích cực, phù hợp với thực tế và mang lại ý nghĩa cụ thể, thiết thực cho tuyệt đại đa số người dân. Nhìn vào bữa ăn, cách ăn mặc, phương tiện đi lại, cách thức giải trí… và so sánh lại mỗi 5 năm, ta thấy có sự thay đổi rất lớn. Nếu so tới 20 năm thì như là một cuộc đổi đời. Do đó, lạc quan này không phải là lạc quan tếu mà có cơ sở thực tiễn của nó; tức không phải là lạc quan theo kiểu A.Q. với phép thắng lợi tinh thần.
Thái độ lạc quan này dựa trên những niềm tin có tính khách quan, chứ không phải tin tưởng một cách vô căn cứ hay mù quáng. Trước hết, niềm tin này dựa vào chủ trương, đường lối và sự lãnh đạo của Đảng, của nhà nước, của hệ thống chính trị. Rõ ràng sự lãnh đạo này đã đem lại những kết quả rất quan trọng và thiết thực cho hầu hết người dân. Qua những quyết sách mang tính đột phá, như mở rộng quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút đầu tư nước ngoài… đã tạo nên thế nước và vận nước lên cao, nâng cao sức sản xuất và từ đó nâng chất lượng sống của người dân. Một số biểu hiện được cho là hạn chế, yếu kém thì cũng có lý do từ sự phát triển nhanh chóng này. Chẳng hạn, nạn kẹt xe thì chính do có quá nhiều xe, do nhiều người có khả năng và nhu cầu sử dụng xe, kể cả các loại ôtô đắt tiền; hay biểu hiện “trúng mùa mất giá” cũng do năng suất sản xuất nông nghiệp được đẩy lên cao, số nông dân giỏi ngày càng nhiều…(3) Dĩ nhiên, có một số mặt quản lý chưa theo kịp thực tế. Điều này đã được Đảng và nhà nước nhìn nhận và tiếp tục khắc phục. Từ đó có thể thấy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đang phát triển ổn định, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và có hiệu quả.
Niềm tin thứ hai ở những người lãnh đạo Đảng, nhà nước và hệ thống chính trị. Các quyết sách dù đúng đắn nhưng nếu không do những người điều hành, thực hiện có trình độ, có tâm huyết thì cũng không thể phát huy hiệu quả. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà báo điện tử VnExpress đã bình chọn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là nhân vật của năm 2010, sau hàng loạt biện pháp điều hành kinh tế vĩ mô hợp lý, quyết đoán trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn ảnh hưởng sau cuộc suy thoái, cũng như sự điều chỉnh ở các tập đoàn kinh tế nhà nước (qua vụ Vinashin), cùng sự thẳng thắn, cầu thị trong các phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội… Hay qua việc Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một biểu hiện cho thấy Đảng sáng suốt, trong sạch và hết lòng vì nhân dân. Chính Cuộc vận động này đã được người dân quan tâm, hưởng ứng nhiệt tình, cũng là sự quan tâm, hưởng ứng các chủ trương lớn của Đảng(4).
Niềm tin thứ ba chính là ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI với Cương lĩnh chính trị được bổ sung, phát triển, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn mới, nghị quyết mới. Có thể nói, Đại hội XI có vai trò bước ngoặt lịch sử vì nó vạch ra đường hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cũng có thể nói, đại hội này (và đại hội sau) mang tính “bản lề” bởi nó ở giao thời của đất nước – đầu nhiệm kỳ XI là lúc nước ta cơ bản vượt qua tình trạng kém phát triển (GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt xấp xỉ 1.200 USD) và cuối nhiệm kỳ XII là lúc nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Trong khi đó, dự thảo Cương lĩnh (phát triển, bổ sung, sửa đổi), báo cáo chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã được công bố rộng rãi để toàn Đảng, toàn dân hiểu và tham gia góp ý. Điều đó khẳng định tinh thần lắng nghe cầu thị của Đảng.
Tuy nhiên, có ý kiến nhận định, phải chăng do trình độ nhận thức, do nhu cầu (yêu cầu, đòi hỏi) của người được khảo sát (ít nhiều phản ánh là người dân Việt Nam nói chung) còn thấp? Phải chăng do chưa đòi hỏi có mức sống cao (cũng là chưa có những ước mơ lớn) nên sự nhìn nhận thực tế như vậy là lạc quan? Ví như với người ở nhà tranh mà được chuyển sang nhà ngói là cả một sự đổi đời; còn với người đã ở nhà ngói mà chuyển sang ở nhà đúc thì cũng không phải sự thay đổi to tát. Điều này rất đáng suy nghĩ. Vì phạm trù hạnh phúc hay lạc quan có những mức độ riêng của nó, có sự khác nhau giữa những người khác nhau. Điều này đặt ra trách nhiệm phải tiếp tục nâng cao chất lượng sống (mức sống) của người dân. “Chỉ số lạc quan” như trong các cuộc khảo sát trên chỉ đáng để tham khảo, không có nghĩa là người dân đã hoàn toàn thỏa mãn, tin tưởng các chủ trương, chính sách của nhà quản lý.
Dù vậy, người dân lạc quan, có nghĩa rằng họ có sự ủng hộ lớn đối với các quyết sách của nhà nước. Do đó, đừng đánh mất chỉ số lạc quan “vàng” này, cũng có nghĩa là đừng đánh mất lòng tin, sự ủng hộ của người dân.
(1) Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn online ngày 13-12-2010, tại địa chỉ http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/44857/TNS-Chi-so-lac-quan-cua-nguoi-tieu-dung-Viet-Nam-tang.html
(2) Theo Vnexpress.net, tại địa chỉ http://vnexpress.net/GL/The-gioi/2011/01/3BA25038/
(3) Riêng tại TP.HCM, kết quả thăm dò dư luận xã hội về 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII (2005 – 2010) do Ban Tuyên giáo Thành ủy tiến hành, đã cho một số kết quả: đánh giá những thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong 5 năm, hai mặt được đánh giá khá tốt là “tốc độ tăng trưởng kinh tế (77,62%) và xóa đói giảm nghèo (71,08%); về triển vọng phát triển của thành phố trong 5 năm tới, 81,93% số người được hỏi cho rằng “tốc độ tăng trưởng kinh tế” sẽ tốt hơn 5 năm qua, 73,81% cho rằng sẽ tăng hộ khá, giảm hộ nghèo…
(4) Cũng trong cuộc thăm dò của Ban Tuyên giáo Thành ủy, về “mức độ tác động của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị, địa phương”, 90,9% người được hỏi cho rằng tốt hơn; 82,5% cho rằng có sự chuyển biến (theo chiều hướng tích cực) trong đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên thông qua Cuộc vận động…

Không có nhận xét nào: