Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

Tạp bút

NHỚ ĐỒNG QUÊ…

Tôi lớn lên ở vùng đồng bằng, tuổi thơ gắn chặt với ruộng đồng, nên lòng yêu quý lắm những cánh đồng quê mỗi ngày hai buổi nước đầy vơi, nhớ những dòng kinh mỗi năm hai mùa nước ngập bờ và nước cạn sát đáy. Tôi nhớ lắm những bãi bồi phù sa ngập đầu gối, đi vào cứ “ục ịch” mà xoay sở tìm lối ra. Tôi cũng chẳng thể nào quên nhưng mùa lúa chín vàng, từng bầy chim sẻ đông vô kể sà xuống ăn uống. Anh em chúng tôi đứa cầm hai nắp xoong, đứa mang thùng thiếc ra đuổi.
Cách đây hơn 20 năm, nhiều lần tôi mang áo ra kinh giặt thì cá chốt cứ dính vào áo, gỡ ra nấu đủ nồi canh chua lá me cho một bữa ăn. Những bữa trời mưa, cá rô cứ lóc ngược theo dòng nước chảy từ bờ xuống rồi lẩn trong đám cỏ, tha hồ cho chúng tôi tóm gọn. Còn “làm siêng” hơn một chút thì đi dọc bờ kinh, theo mớn nước, tìm những cái hang tự nhiên, thò tay vào thế nào cũng tóm được vài chú bống dừa hoặc cá lóc. Thậm chí cứ men theo mấy bụi dừa nước mọc ven bờ kinh, chờ nước xuống, cứ thò tay vào bẹ lá nào to, còn nước là cũng có thể tìm được những con bống dừa béo núc ních. Có nhiều bữa, nhằm con nước, cá kếnh (cá đối non) chạy lền mặt nước, giá lấy cái rổ thôi, chẳng cần vợt, cũng có thể xúc được bộn.
Không chỉ có cá, ếch, nhái cũng còn nhiều vô kể. Cứ sau mỗi cơn mưa, ếch nhái thi nhau kêu nghe não ruột. Không biết chúng ẩn nơi nào nhưng tiếng kêu thì cứ ngay đầu nhà, ở ngay mấy bụi rau muống, rau đắng mọc hoang ở bờ ao. Cái dàn nhạc ếch, nhái, ễnh ương là tiếng ru thường xuyên tôi vào giấc ngủ. Nó không êm ái như tiếng hát của mẹ của bà nhưng cũng mang đậm hồn quê, vì không phải nơi nào cũng có.
Ngày còn nhỏ, nhiều bữa đi giữ vịt mắc mưa, về trễ, ngang qua mấy chòi giữ ruộng, nghe mùi cá đồng kho với sả thì chân như không muốn bước nữa. Trước mắt không thấy bầy vịt đâu, chỉ thấy cái ơ cá nứt những thịt lẫn trong những thớ sả xắt nhỏ, điểm bằng vài trái ớt hiểm, nồi cơm gạo trắng bốc khói nghi ngút, dĩa rau muống luộc hoặc tô rau đắng luộc cơm mẻ… Nước miếng tôi cứ thế mà ứa ra, đành phất cây sào trúc đuổi bầy vịt về lẹ để sà vào bếp, hỏi mẹ làm cơm xong chưa…
Lúa làm ra ngày càng nhiều thì cá đồng ngày càng ít. Người ta có hơn cả ngàn lẻ một cách bắt cá. Những kiểu “truyền thống”… xưa rồi. Người ta dùng lưới mắt nhỏ để bắt được nhiều cá. “Hiện đại” hơn, họ dùng bình ắc quy để “xuyệt”, đảm bảo cá không chết không ăn tiền! Còn dây thuốc cá cũng được sử dụng triệt để để bắt cho mau lẹ mà đạt hiệu quả cao! Những năm sau này, đa số cá kếnh không còn cơ hội để trở thành cá đối, còn cá ròng ròng cũng lần lượt theo vợt xúc để vào những bữa ăn đặc sản, thậm chí được xuất khẩu ra nước ngoài!...
Viết lại những dòng này, tôi bỗng sống lại thời niên thiếu ở một vùng quê nghèo khó trên cù lao An Hóa. Bỗng thèm bữa cơm có cá đồng kho tiêu, nấu canh chua lá me, ăn kèm mớ rau muống đỏ vị chan chát hái ở dưới ao và nắm rau đắng quơ vội trên rộc, điểm cay bằng mấy trái ớt hiểm, rồi “chữa lửa” bằng trái dừa cắt mặt sẵn. Đó, hạt gạo, con cá, lá rau, nhúm ớt, trái dừa có sẵn ở quanh nhà, qua bàn tay cần cù là có được bữa cơm thanh đạm mà ngọt ngào hương vị quê hương. Những bữa ăn như thế bây giờ thật lạ lẫm. Thậm chí những loài cá, những lá rau, những cái tên dân dã thuở nào giờ có người bây giờ đã quên mất!

Không có nhận xét nào: