TÍNH THIẾU ỔN ĐỊNH CỦA NỀN KINH TẾ
Thời gian gần đây, nền kinh tế nước ta đã bộc lộ nhiều biểu hiện của tính thiếu ổn định. Trong khi giá đồng USD trên thế giới có xu hướng giảm thì tỷ giá USD/VND lại tăng. Có người lý giải rằng đây là hệ quả của việc giá vàng tăng mạnh. Điều đó đúng và một lần nữa lại làm rõ thêm tính phập phù của nền kinh tế: giá vàng trong nước tăng không theo (tương ứng) giá vàng thế giới mà do tâm lý hốt hoảng của người dân và của cả các nhà đầu tư cùng sự tiếp tay của những kẻ đầu cơ. Trong khi đó, việc có quá nhiều tổ chức, cá nhân trữ vàng cũng là một biểu hiện của nền kinh tế thiếu năng động, ít sức sống bởi một bộ phận đáng kể nguồn vốn đã bị “chôn” trong số vàng dự trữ.
Đó là những biểu hiện cụ thể. Sâu xa hơn là những bất ổn trong điều hành vĩ mô. Nợ công lớn tiềm tàng những rủi ro. Tính đến tháng 10-2010, nợ công của Việt Nam là gần 51 tỉ USD (chiếm 51,6% GDP, so sánh với một số nước trong khu vực như: Trung Quốc là 17,4%, Indonesia là 26,5%, Thái Lan (48,6%), Malaysia (52,1%), Philippines (55,8%)), bình quân mỗi người Việt Nam đang gánh 580,91 USD nợ công. Con số này là 713,6 USD đối với Trung Quốc, 743 USD đối với Indonesia, 4.184 USD đối với Malaysia, 1.071 USD đối với Philippines, 2.064 USD đối với Thái Lan…(1) Nợ công của Việt Nam đã tăng 5,5 lần trong gần 10 năm qua, dù hiện nay được cho là trong mức độ an toàn nhưng không có nghĩa là sẽ mãi an toàn nếu để nó tiếp tục tăng, trong khi chưa tạo ra được nội lực đủ mạnh cho nền kinh tế.
Hay như sự trồi sụt của thị trường chứng khoán trong 3 năm gần đây cũng cho thấy các nhà điều hành vẫn còn nhiều việc để làm. Hồi đầu năm 2008, khi các chỉ số đột ngột xuống thấp, một lãnh đạo Chính phủ tuyên bố: nếu tôi là nhà đầu tư, tôi sẽ mua cổ phiếu vào lúc này… Lập tức các sàn giao dịch “xanh” trở lại. Sau đó, Chính phủ cũng đã có một số tác động nhưng cuộc khủng hoảng tài chính ngay sau đó đã khiến sự can thiệp này không còn mấy ý nghĩa. Vì vậy, một thời gian ngắn sau đó, giá cổ phiếu tiếp tục tụt dốc. Điều đó cho thấy, thị trường có lòng tin nhất định đối với các tuyên bố của Chính phủ. Nhưng tuyên bố chỉ để trấn an các nhà đầu tư, để củng cố lòng tin. Trên thực thị trường vốn luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế, trong đó các biện pháp điều hành, can thiệp luôn có ý nghĩa nhất định, chứ không dựa vào một lời khẳng định hay tuyên bố nào đó.
Sự gia tăng của giá trị nhập siêu cũng là điều đáng lo ngại. Bảy tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 38,3 tỉ USD, nhập khẩu 45,7 tỉ USD. So với cùng kỳ năm 2009, xuất khẩu tăng 17,5%, nhập khẩu tăng tới 25,5%(2). Như vậy, nhập siêu đã liên tục tăng mạnh kể từ năm 2007 (giai đoạn 1995 – 2006, nhập siêu chỉ ở khoảng 5 tỉ USD). Điều đáng nói là trong giá trị nhập khẩu, ngày càng nhiều các sản phẩm tiêu dùng, từ những mặt hàng cao cấp như máy bay, xe hơi đắt tiền cho đến những hàng hóa Việt Nam sản xuất rất nhiều như muối, đường, trái cây… Nhập siêu không chỉ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, gây khó khăn trong việc dự trữ ngoại tệ mà còn gián tiếp gây ra tình hình lạm phát.
Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, hệ thống hành chính còn cồng kềnh… cũng là những nguyên nhân làm nền kinh tế nước phát triển chưa bền vững. Vì vậy, nhà nước cần có những chính sách điều hành ở tầm vĩ mô mang tính đột phá chứ không đi vào giải quyết những sự vụ, cục bộ. Chẳng hạn, để giảm nhập siêu, cần đẩy mạnh sản xuất để (một bộ phận) hàng hóa nội địa dần thay thế hàng hóa nước ngoài; để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường cần xây dựng hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh, có bộ máy đủ mạnh… Bên cạnh đó, cần minh bạch, trung thực đối với một số chỉ tiêu, thông số của nền kinh tế, như nợ công, nợ nước ngoài, tỉ lệ nhập siêu…
Ngoài ra, không nhất thiết chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng hàng năm mà có thể để lại hệ quả cho những năm sau, nhất là trong việc khai thác tài nguyên.
“Phát triển bền vững”, “tăng trưởng bền vững”… là những cụm từ mà là những yêu cầu được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây. Để đạt được sự bền vững, cần có những chính sách phù hợp!
(1) Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 12-10-2010. Link: http://vneconomy.vn/20101012051115247p0c6/no-cong-cua-viet-nam-nhin-tu-the-economist.htm
(2) Theo trang điện tử của Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công thương) ngày 9-8-2010. Link: http://www.tinthuongmai.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/6/ContentID/68186/Default.aspx
Thời gian gần đây, nền kinh tế nước ta đã bộc lộ nhiều biểu hiện của tính thiếu ổn định. Trong khi giá đồng USD trên thế giới có xu hướng giảm thì tỷ giá USD/VND lại tăng. Có người lý giải rằng đây là hệ quả của việc giá vàng tăng mạnh. Điều đó đúng và một lần nữa lại làm rõ thêm tính phập phù của nền kinh tế: giá vàng trong nước tăng không theo (tương ứng) giá vàng thế giới mà do tâm lý hốt hoảng của người dân và của cả các nhà đầu tư cùng sự tiếp tay của những kẻ đầu cơ. Trong khi đó, việc có quá nhiều tổ chức, cá nhân trữ vàng cũng là một biểu hiện của nền kinh tế thiếu năng động, ít sức sống bởi một bộ phận đáng kể nguồn vốn đã bị “chôn” trong số vàng dự trữ.
Đó là những biểu hiện cụ thể. Sâu xa hơn là những bất ổn trong điều hành vĩ mô. Nợ công lớn tiềm tàng những rủi ro. Tính đến tháng 10-2010, nợ công của Việt Nam là gần 51 tỉ USD (chiếm 51,6% GDP, so sánh với một số nước trong khu vực như: Trung Quốc là 17,4%, Indonesia là 26,5%, Thái Lan (48,6%), Malaysia (52,1%), Philippines (55,8%)), bình quân mỗi người Việt Nam đang gánh 580,91 USD nợ công. Con số này là 713,6 USD đối với Trung Quốc, 743 USD đối với Indonesia, 4.184 USD đối với Malaysia, 1.071 USD đối với Philippines, 2.064 USD đối với Thái Lan…(1) Nợ công của Việt Nam đã tăng 5,5 lần trong gần 10 năm qua, dù hiện nay được cho là trong mức độ an toàn nhưng không có nghĩa là sẽ mãi an toàn nếu để nó tiếp tục tăng, trong khi chưa tạo ra được nội lực đủ mạnh cho nền kinh tế.
Hay như sự trồi sụt của thị trường chứng khoán trong 3 năm gần đây cũng cho thấy các nhà điều hành vẫn còn nhiều việc để làm. Hồi đầu năm 2008, khi các chỉ số đột ngột xuống thấp, một lãnh đạo Chính phủ tuyên bố: nếu tôi là nhà đầu tư, tôi sẽ mua cổ phiếu vào lúc này… Lập tức các sàn giao dịch “xanh” trở lại. Sau đó, Chính phủ cũng đã có một số tác động nhưng cuộc khủng hoảng tài chính ngay sau đó đã khiến sự can thiệp này không còn mấy ý nghĩa. Vì vậy, một thời gian ngắn sau đó, giá cổ phiếu tiếp tục tụt dốc. Điều đó cho thấy, thị trường có lòng tin nhất định đối với các tuyên bố của Chính phủ. Nhưng tuyên bố chỉ để trấn an các nhà đầu tư, để củng cố lòng tin. Trên thực thị trường vốn luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế, trong đó các biện pháp điều hành, can thiệp luôn có ý nghĩa nhất định, chứ không dựa vào một lời khẳng định hay tuyên bố nào đó.
Sự gia tăng của giá trị nhập siêu cũng là điều đáng lo ngại. Bảy tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 38,3 tỉ USD, nhập khẩu 45,7 tỉ USD. So với cùng kỳ năm 2009, xuất khẩu tăng 17,5%, nhập khẩu tăng tới 25,5%(2). Như vậy, nhập siêu đã liên tục tăng mạnh kể từ năm 2007 (giai đoạn 1995 – 2006, nhập siêu chỉ ở khoảng 5 tỉ USD). Điều đáng nói là trong giá trị nhập khẩu, ngày càng nhiều các sản phẩm tiêu dùng, từ những mặt hàng cao cấp như máy bay, xe hơi đắt tiền cho đến những hàng hóa Việt Nam sản xuất rất nhiều như muối, đường, trái cây… Nhập siêu không chỉ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, gây khó khăn trong việc dự trữ ngoại tệ mà còn gián tiếp gây ra tình hình lạm phát.
Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, hệ thống hành chính còn cồng kềnh… cũng là những nguyên nhân làm nền kinh tế nước phát triển chưa bền vững. Vì vậy, nhà nước cần có những chính sách điều hành ở tầm vĩ mô mang tính đột phá chứ không đi vào giải quyết những sự vụ, cục bộ. Chẳng hạn, để giảm nhập siêu, cần đẩy mạnh sản xuất để (một bộ phận) hàng hóa nội địa dần thay thế hàng hóa nước ngoài; để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường cần xây dựng hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh, có bộ máy đủ mạnh… Bên cạnh đó, cần minh bạch, trung thực đối với một số chỉ tiêu, thông số của nền kinh tế, như nợ công, nợ nước ngoài, tỉ lệ nhập siêu…
Ngoài ra, không nhất thiết chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng hàng năm mà có thể để lại hệ quả cho những năm sau, nhất là trong việc khai thác tài nguyên.
“Phát triển bền vững”, “tăng trưởng bền vững”… là những cụm từ mà là những yêu cầu được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây. Để đạt được sự bền vững, cần có những chính sách phù hợp!
(1) Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 12-10-2010. Link: http://vneconomy.vn/20101012051115247p0c6/no-cong-cua-viet-nam-nhin-tu-the-economist.htm
(2) Theo trang điện tử của Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công thương) ngày 9-8-2010. Link: http://www.tinthuongmai.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/6/ContentID/68186/Default.aspx

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét