Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Thời sự và suy nghĩ

TIẾT KIỆM LÀ QUỐC SÁCH!


Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, tiết kiệm là điều mà nhiều người nhắc đến, không chỉ các vị lãnh đạo mà tất cả mọi người dân. Tiết kiệm để mỗi người dân có thể vượt qua được lạm phát mà còn góp phần cùng cả nước và toàn xã hội khắc phục những khó khăn này.
Trên thực tế, tiết kiệm là một trong những đặc điểm của người Việt ta. Xưa nay, ông bà ta vẫn dạy: “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” (để dành gạo phòng khi gặp khó khăn, để dành quần áo phòng khi lạnh lẽo). Dân ta vốn phải thường xuyên đối phó với thiên tai, địch họa nên luôn có ý thức tiết kiệm cao và đồng thời nhiều cách tiết kiệm hiệu quả. Một trong những cách tiết kiệm tuyệt vời nhất đó là "hũ gạo cứu đói” hồi năm 1945 bằng cách hàng ngày bớt lại một nắm gạo để cứu những người đang gặp đói kém. Ngày xưa, để chống đói trong những tháng giáp hạt, người Việt ta thường chủ động ăn độn khoai sắn từ những tháng vừa gặt lúa, không phải chỉ để “thích nghi” mà còn để có đủ lương thực cho những ngày khó khăn sắp tới. Tinh thần đó đến giờ dù có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa bị mai một.
Mấy năm qua, toàn xã hội tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Một trong những điều mà mọi người có thể học tập và làm theo được là tiết kiệm. Với truyền thống tiết kiệm vốn có, hầu như ở khắp nơi, tiết kiệm là kết quả được thể hiện rõ nhất và cụ thể nhất. Ở các trường mầm non, các cô giáo dùng những thứ đã qua sử dụng như hộp giấy, chai nước, giấy báo, ống bút, ly nhựa… cùng với óc thẩm mỹ và bàn tay khéo léo đã tạo ra các đồ chơi, dụng cụ dạy học xinh xắn, đẹp mắt, sinh động mà rất rẻ tiền. Một số khách sạn có sáng kiến chèn một cái chai vào bồn nước của các lavabo, mỗi khi giật nước sẽ tiết kiệm được một lượng nước đúng bằng thể tích của cái chai vốn đã chiếm vị trí trong bồn nước. Nhiều công sở đã vận động nhân viên hạn chế đi thang máy, mở máy lạnh muộn và tắt sớm với nhiệt độ vừa phải, sử dụng giấy đã dùng một mặt cho các văn bản nháp…
Hai năm gần đây, với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thực chất cũng có ý nghĩa tiết kiệm. Bởi vì với một số sản phẩm trong nước có chất lượng tương tự như hàng nhập ngoại thì gần như luôn có giá rẻ hơn. Khi đó, dùng hàng Việt Nam không chỉ tiết kiệm được số tiền chênh lệch mà còn giúp cho đất nước tiết kiệm được ngoại tệ nhập khẩu.
Dĩ nhiên, hầu hết các gia đình tùy theo điều kiện cụ thể của mình đều thực hiện tiết kiệm triệt để. Khó có thể liệt kê hết các cách tiết kiệm, nhưng nhìn chung mọi người đều cố gắng cắt giảm những chi phí không thực sự cần thiết. Trên hết, tiết kiệm không chỉ là dè xẻn trong chi tiêu hay tiêu xài có hiệu quả nhất mà chính là tạo ra được một ý thức thường trực về tiết kiệm, không chỉ cho bản thân mà cho những người thân trong gia đình mình.
“Thắt lưng buộc bụng” hiện nay không phải chỉ là chính sách của nhà nước mà là của toàn dân, không phải chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước khác. Vì vậy, tiết kiệm bây giờ là quốc sách. Tiết kiệm không chỉ lợi cho bản thân, gia đình mà còn góp phần đem lại lợi ích cho toàn xã hội.
Trong quá trình thực hiện “quốc sách” này cũng phải chú ý đến hai thái cực đối lập: một là tiết kiệm đến độ cắt giảm chi tiêu tối đa, trở thành “ki bo” – nếu ai cũng không tiêu xài gì đáng kể thì hàng hóa sản xuất ra sẽ bị ứ đọng, dẫn đến khủng hoảng thêm trầm trọng. Hai là, những người vì tự cho rằng mình có nhiều tiền mà vẫn tiêu xài hoang phí thì không chỉ lạc lõng với toàn xã hội mà nghiêm trọng hơn trở thành một gánh nặng nếu việc tiêu xài đó làm tiêu tốn nhiều ngoại tệ cho đất nước…
Bài đã đăng Báo SGGP, ngày 23-3-2011

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Thời sự và suy nghĩ

Toàn cảnh trận động đất lịch sử tại Nhật
Tính từ cường độ và những hậu quả của siêu động đất kèm sóng thần hôm 11-3 cho thấy đây là sự kiện đen tối trong lịch sử nước Nhật, đẩy nước này vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ Thế chiến II.

Siêu động đất chưa từng có
Trận động đất lịch sử xảy ra lúc 14h46’ giờ địa phương ngày 11-3 kéo dài khoảng 2 phút, với tâm chấn nằm sâu 10 km dưới Thái Bình Dương và cách Tokyo 382 km về phía đông bắc. Với cường độ mạnh 9,0 độ Richter, đây là trận động đất dữ dội nhất từng được ghi lại trong lịch sử Nhật Bản (trận động đất lịch sử tại Tokyo năm 1923 mạnh 7,9 độ Richter).
Tuy nhiên, hậu quả khủng khiếp nhất không phải do động đất trực tiếp gây ra, mà do cơn sóng thần cao tới 10 mét quất thẳng vào vùng bờ biển phía đông bắc Nhật Bản, với hàng chục thành phố duyên hải hứng chịu trực tiếp. Hai thiên tai liên tiếp gây ra “thảm hoạ quốc gia chưa từng có” tại Nhật, theo lời mô tả của Thủ tướng Naoto Kan.
Nhật Bản nằm trên khu vực bất ổn của vỏ trái đất và luôn chuẩn bị cho những trận động đất mạnh, nhưng những gì xảy ra đã vượt quá sự tính toán cũng như sự chuẩn bị của con người. Thảm hoạ kép này chắc chắn sẽ đi vào tiềm thức dân tộc Nhật như một trong những thiên tai ám ảnh nhất trong vòng hơn 100 năm qua, bên cạnh trận động đất tại Tokyo năm 1923 và Kobe năm 1995.
Thiệt hại quá lớn
Số người chết trong thảm hoạ không ngừng tăng từ con số vài chục, vài trăm và hiện đã được tính bằng đơn vị nghìn. Ngoài hơn 3.000 người được xác định chắc chắn đã thiệt mạng còn có hàng chục nghìn người khác được coi là mất tích, do đó con số tổn thất cuối cùng về người sẽ còn tăng cao.
Truyền thông Nhật ước tính tổng số người thiệt mạng do thảm hoạ kép gây ra có thể sẽ vượt quá 10.000 người chỉ tính riêng tại quận Miyagi, khu vực bị tàn phá nặng nề nhất. Thành phố lớn nhất bị sóng thần tấn công là Sendai có dân số 1 triệu người, nơi một sân bay đã bị san phẳng.
Các quận duyên hải đông bắc Nhật chịu ảnh hưởng nặng nhất gồm Iwate, Miyagi, Fukushima, Ibaraki và Chiba. Ngoài thành phố lớn Sendai thì các đô thị nhỏ hơn là Rikuzentakada, Kesennuma, Ofunato, Ishinomaki và Minamisanriku thuộc quận Miyagi và Iwate cũng tan hoang vì thảm hoạ kép.
Động đất với cường độ mạnh làm sập nhiều nhà cửa, nhưng vẫn không thấm vào đâu so với những gì cơn sóng thần sau đó gây ra. Trận đại hồng với cơn sóng cao tới 10 mét này đã tàn phá sân bay, bến cảng, nhà cửa, đường xá, cầu cống và cuốn phăng hàng nghìn chiếc ôtô và cả những chiếc máy bay như món đồ chơi.
Ước tính các công ty bảo hiểm trên khắp thế giới có thể thiệt hại tới 50 tỷ USD sau thảm hoạ tại Nhật Bản. Nền kinh tế nước này chao đảo, trong đó thị trường chứng khoán Tokyo sụt giảm 5%. Các nhà máy điện hạt nhân ngừng hoạt động dẫn đến nhiều vùng bị cắt điện kéo dài trong khi các vùng khác thiếu hụt nghiêm trọng, khiến sản xuất bị đình trệ tại nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.
Kênh NHK cho biết khoảng 310.000 người được đưa đến nơi sơ tán và nhiều người trong số họ không được sử dụng điện. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản đang huy động tới 40% quân số gồm khoảng 100.000 binh sĩ cùng 250.000 cảnh sát và nhân viên cứu hộ tới vùng đông bắc để khắc phục hậu quả.
Trong khi đó, nhiều máy bay và tàu thuyền từ khắp thế giới đang đổ về Nhật Bản sau lời kêu gọi giúp đỡ của nước này, mang theo các đội cứu hộ tình nguyện và nhu yếu phẩm hỗ trợ cho người dân chịu ảnh hưởng. Đặc biệt Mỹ đã điều động nhiều loại tàu hải quân tới Nhật trợ giúp đồng minh, gồm tàu sân bay USS Ronald Reagan.
Bóng ma hạt nhân
Nỗi ám ảnh tai nạn tại các nhà máy điện hạt nhân trong vùng thường xuyên có động đất đã trở thành hiện thực tại Nhật Bản. Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I ở phía bắc Tokyo phát nổ một ngày sau động đất, khiến các bức tường xung quanh lò phản ứng số 1 sập xuống và phóng xạ bắt đầu phát tán ra ngoài. Sự kiện này đẩy Nhật đối mặt với thảm hoạ thứ ba sau động đất và sóng thần.
Tokyo trấn an rằng lõi hạt nhân của lò phản ứng không bị tan chảy sau vụ nổ, nhưng nhiều chuyên gia vẫn lo ngại về một viễn cảnh cực xấu là tái hiện thảm hoạ Chernobyl với các vụ nổ phá huỷ lò phản ứng tạo thành đám mây phóng xạ trên bầu khí quyển. Nhà máy Fukushima I và II cách nhau 11,5 km có tổng cộng 12 lò phản ứng hạt nhân là cụm nhà máy điện nguyên tử lớn bậc nhất trên thế giới.
Động đất khiến hệ thống làm mát tại một số lò phản ứng của nhà máy Fukushima I ngừng hoạt động là nguyên nhân dẫn đến các lo ngại về thảm hoạ hạt nhân hiện nay. Cơ quan hạt nhân Nhật xếp sự cố tại nhà máy này ở cấp độ 4 (cấp độ rò rỉ phóng xạ ở mức độ nhỏ với ít nhất một người chết), nhưng hiện chưa có ai được xác định thiệt mạng vì tai nạn tại đây.
Nồng độ chất phóng xạ xung quanh nhà máy tăng giảm thất thường sau khi xảy ra nổ và hơn 200.000 người sống trong bán kính 20 km quanh nhà máy Fukushima 1 và 10 km quanh Fukushima 2 đã được sơ tán. Trong khi đó, ngày 13-3 Nhật tiếp tục ban bố tình trạng khẩn cấp tại nhà máy điện nguyên tử thứ hai là Onagawa vì mức phóng xạ cao bất thường được ghi nhận tại đây.
Các chuyên gia đang hối hả bơm nước biển vào làm mát hai lò phản ứng số 1 và số 3 của nhà máy Fukushima 1 để ngăn chặn nguy cơ tan chảy hạt nhân. Chính quyền Nhật thừa nhận mức độ phóng xạ xung quanh nhà máy xảy ra sự cố này đã vượt quá mức an toàn cho phép và có ít nhất 22 người đang được điều trị vì phơi nhiễm phóng xạ.
Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ ba của thế giới, đang tập trung mọi nguồn lực để khắc phục hậu quả của động đất sóng thần chưa từng có trong lịch sử, trong khi con số thiệt hại của đợt thiên tai này hiện chưa thể thống kê đầy đủ.
Theo Đình Nguyễn, http://vnexpress.net/gl/the-gioi/tu-lieu/2011/03/toan-canh-tran-dong-dat-lich-su-tai-nhat/

Thời sự và suy nghĩ

Thảm họa ở Nhật và chuyện làm "người tử tế"
Tác giả: Theo Vũ Duy (CAND)
Trong muôn vàn việc khó, làm người tử tế là khó nhất. Để làm người tử tế cần lương tâm, quan niệm nhân văn, điều kiện xã hội và rất nhiều phẩm chất quí giá khác.
Mấy chục năm nay, kinh tế lên, đời sống người dân đỡ khổ đi nhiều nên có thêm điều kiện để thành người tử tế và cũng đã có nhiều sự tử tế, nhiều cách tử tế của hôm nay mà ngày trước chưa có. Nhưng nhìn xung quanh vẫn thấy buồn về sự tử tế cứ ít dần, ngày càng trở thành hiếm hoi. Để làm rõ vì sao có chuyện này, có lẽ cần nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo. Không té nước theo mưa đâu, đây chỉ là nhân chuyện tình người ở Nhật Bản đang được ca ngợi, giải thích mà bàn một đôi lời, may vỡ ra điều gì đó cho ta.
Sự kiện động đất và sóng thần ở Nhật Bản đang khiến cả thế giới rùng mình về sức tàn phá của thiên nhiên. Chỉ trong phút chốc, hàng chục nghìn người chết. Cùng với thiệt hại lớn về người, hàng nghìn ngôi nhà đổ sập, ôtô, đồ đạc trong nhà, các loại dầm gỗ trôi lềnh bềnh như đồ chơi của con trẻ. Điện mất, thông tin gián đoạn, đường nứt, ống nước ống ga vỡ, cây đổ, thành phố làng mạc tan hoang.
Thiệt hại từ trận động đất và sóng thần đó ước tính khoảng gần 200 tỷ USD, tương đương với toàn bộ tài sản mà nước ta hiện có. Nhưng đó mới là những gì đã qua. Vào thời điểm bài báo này chuẩn bị lên khuôn, người Nhật còn đang phải đối mặt với hàng trăm dư chấn, có dư chấn mạnh tới 6,8 độ richter, tương đương với trận động đất mới xảy ra tại New Zealand, nhất là thảm họa hạt nhân đang treo lơ lửng sau sự cố hỏng hệ thống làm mát ở nhà máy Fukushima-1, các lò phản ứng nóng lên gây nổ, phóng xạ rò rỉ ra ngoài.
Nhưng chính trong thảm họa, những phẩm chất quí báu của người dân Nhật, có thể gọi là bản tính của dân tộc Nhật đã bộc lộ khiến cả thế giới khâm phục. Mấy hôm nay, báo chí thế giới trong đó có báo chí Việt Nam đồng loạt lên tiếng về "hiện tượng Nhật Bản" và cùng nhau lý giải về hiện tượng mà họ đều thống nhất là rất đáng kính nể. Đó là tình đoàn kết của người Nhật trong hoạn nạn, là sự bình tĩnh và tự tin trong tai họa, là sự đùm bọc tương thân tương ái trong đau thương.
Trong thảm họa, những phẩm chất quí báu của người dân Nhật đã khiến cả thế giới khâm phục.
Trên thế giới, chỉ trong mấy năm qua đã xảy ra hàng loạt tai ương thiên nhiên mà trận động đất và sóng thần vừa qua chỉ là một trong những thiên tai lớn. Trận động đất ở Đường Sơn (TQ) năm 1976 chết 665.000 người. Trận động đất và sóng thần tại Indonesia năm 2004 chết 227.898 người của nước này và các quốc gia ven biển Thái Bình Dương. Trận động đất ở Haiiti giết chết hơn 222.570 người. Cơn bão Catrina tràn vào nước Mỹ giết chết hàng nghìn người, thiệt hại hàng trăm tỷ USD. Cơn bão và lụt lớn ở Pakistan và Bangladesh giết chết hàng vạn người, dìm cả một phần những nước này dưới nước lũ trong nhiều ngày... Những thiên tai đó khiến cho các quốc gia trên phải đặt đất nước trong tình trạng khẩn cấp, cả thế giới phải ra tay giúp đỡ, không khác Nhật Bản hiện nay.
Nhưng điều khác giữa Nhật Bản và các nước này là ở Nhật không có hoảng loạn, giẫm đạp lên nhau mà chết; không cướp bóc, hôi của, hãm hiếp, tranh cướp đồ cứu trợ và cả biển thủ đồ cứu trợ các nạn nhân. Thay vào sự hỗn loạn, người Nhật vẫn duy trì được pháp luật, tổ chức có hiệu quả việc cứu trợ, phân phối lương thực, đi lại, tìm kiếm cấp cứu nạn nhân. Giữa hàng trăm dư chấn liên tục và thảm họa hạt nhân đang đe dọa, người dân Nhật vẫn nhường xe bus cho những người già, phụ nữ, trẻ em sơ tán trước. Hàng trăm người vẫn xếp hàng dài, có trật tự trước các quầy lương thực, thực phẩm, các cây xăng dù biết chắc chắn rằng khó đến lượt mình mua vì hàng đã hết. Người ta vẫn kiên nhẫn tìm suốt ngày đêm với hi vọng dưới những ngôi nhà sập hay đống bùn nhão, vẫn còn có người sống sót, dù người đó là ai.
Và không có hiện tượng vô cảm, bất nhẫn, cạn kiệt tình người như trường hợp những vụ đám đông xúm đông xúm đỏ quanh một vụ tai nạn giao thông trên đường phố, một vụ cháy nhà, một vụ đắm đò... chỉ vì hiếu kỳ, vì tò mò chứ tuyệt nhiên không vì đồng cảm, sẵn sàng giúp đỡ kẻ hoạn nạn. Thậm chí, không ít người đuối nước bị bỏ mặc dưới sông, ôtô, xích lô, xe ôm từ chối không chở người bị thương đi bệnh viện, nghe kêu cứu nhưng không ai đến cứu đã xảy ra.
Cách đây hai chục năm gì đó, nhà thơ Quang Huy đi Nhật về kể lại, để tìm về được khách sạn của mình giữa thủ đô Nhật rộng mênh mông, ông phải nhờ một thanh niên Nhật chỉ đường. Dù không chung ngôn ngữ nhưng cứ theo danh thiếp của khách sạn, người thanh niên này đã đưa nhà thơ qua nhiều loại phương tiện giao thông trong hơn một giờ đồng hồ để về đến nơi ông cần tìm. Trước khi chia tay, kính cẩn và lịch sự, anh ta nhờ nhà thơ làm ơn ký tên vào quyển sổ anh chìa ra. Có chữ ký của nhà thơ, anh sẽ không bị chủ đuổi việc vì đi làm muộn hơn một giờ. Kể xong câu chuyện, nhà thơ Quang Huy chép miệng: "Giá như ta được sống với toàn những người như thế". Tôi đã nhớ suốt gần một phần tư thế kỷ câu chuyện ấy.
Mới đây, đọc báo có một câu chuyện. Thấy một cậu bé 9 tuổi, học lớp 3, bố mẹ đã chết trong sóng thần, đứng xếp hàng nhận đồ ăn cứu trợ đang rét run, người cảnh sát (có học vị tiến sĩ) đến gần cởi áo khoác của mình mặc cho cậu. Trong lúc cởi áo, thấy phong lương khô, khẩu phần ăn buổi trưa của mình, người cảnh sát tặng luôn cậu bé vì anh và mọi người đều biết thực phẩm cứu trợ đã gần cạn, khi cậu xếp hàng đến nơi, chắc chắn sẽ không còn. Cậu bé cảm ơn anh. Nhưng không ngờ ngay sau đó, cậu mang phong lương khô lên đưa cho nhân viên cứu trợ để phân phát cho những người đói hơn đứng trước cậu. Người cảnh sát đã khóc.
Từ đây nghĩ gì? Nghĩ rằng giá như công tác giáo dục, tuyên truyền, thông tin (kể cả thông tin báo chí) dạy người ta sống được như người Nhật những ngày này.

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2011

Thời sự và suy nghĩ

DÙNG HÀNG VIỆT NAM LÀ HỢP THỜI!

Giá cả nhiều mặt hàng hiện đang tăng cao, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận người dân. Việc điều chỉnh tỉ giá VNĐ so với USD càng tác động đến việc tăng giá của nhiều mặt hàng nhập khẩu. Trong lúc này, tiết kiệm là ưu tiên của nhiều gia đình và cũng là của toàn xã hội. Trong các chỉ đạo, các lời phát biểu, nhiều vị lãnh đạo của Chính phủ và các địa phương đều kêu gọi các cơ quan, đơn vị tiết kiệm trong mua sắm công, động viên người dân tiết kiệm trong tiêu dùng…
Trong khi đó, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” qua gần 2 năm phát động đã có sự lan tỏa nhất định trong đời sống xã hội. Cuộc vận động không chỉ đã nâng cao nhận thức người dân về tầm quan trọng của việc ưu tiên, tăng cường tiêu dùng hàng hóa trong nước mà trên thực tế đã có sự chuyển động thực sự trong thói quen và hành vi mua sắm. Do đó, kết hợp tình hình kinh tế và sự tác động từ Cuộc vận động này, hiện nay, dùng hàng Việt Nam là thiết thực và hợp thời.
Việc tiết kiệm có hai mặt của nó. Mặt tích cực, nó hạn chế lưu thông tiền mặt, giúp kiềm chế lạm phát; giúp mỗi cá nhân và gia đình có thêm tích lũy trong điều kiện đồng tiền bị trượt giá; ở tầm vĩ mô, hạn chế nhập khẩu giúp tiết kiệm ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại tệ và không bị phụ thuộc vào một số đồng tiền nước ngoài... Nhưng ở mặt tiêu cực, giảm mua sắm cũng làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của xã hội, khiến nền kinh tế trở nên trì trệ, hạn chế tăng trưởng. Vì vậy, sau mỗi đợt kinh tế phát triển chững lại, nhà nước thường có các chính sách kích cầu, tức là thúc đẩy tiêu dùng để tăng sức sản xuất, thông qua việc miễn giảm thuế cả nguyên liệu đầu vào lẫn hàng hóa thành phẩm, miễn hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân, giảm lãi suất cho vay...
Từ thực tế đó, kết hợp việc tiết kiệm vào lúc này và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” để một mặt không mua sắm quá nhiều mà vẫn góp phần thúc đẩy sản xuất.
Thứ nhất, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về Cuộc vận động trong toàn xã hội, nhất là về những ý nghĩa thiết thực, cụ thể trong bối cảnh hiện nay. Việc tuyên truyền cần được thực hiện đa dạng hơn với nhiều hình thức, như văn hóa – văn nghệ, trực quan sinh động, các hoạt động triển lãm, hội chợ… Đặc biệt, các phương tiện truyền thông đại chúng cần chú trọng hơn việc ưu tiên tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ trong nước bằng biểu giá hợp lý và các ưu đãi khác.
Thứ hai, các doanh nghiệp trong nước cần tăng cường đưa hàng hóa về vùng nông thôn, khu vực có đông công nhân…, một mặt vừa tăng sức mua đồng thời cũng phục vụ người dân nhiều hơn, góp phần hạn chế việc tăng giá ở đây.
Thứ ba, nhà nước cần điều chỉnh các biểu thuế cho phù hợp với thực tế, như là một cách “khoan thư sức dân”. Chẳng hạn, cần sửa ngay Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó cần tăng mức khởi điểm tính thuế cả với thu nhập thường xuyên và không thường xuyên, tăng mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc…; giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng, nhất là các hàng hóa có nguồn gốc nông – thủy sản; miễn giảm thuế giá trị gia tăng với một số hàng hóa để giữ giá không tăng cao…
Thứ tư, các siêu thị, các trung tâm thương mại, các chợ, các điểm kinh doanh… cần ưu tiên bán hàng Việt Nam thay vì lợi dụng tâm lý sính ngoại của người tiêu dùng để bán hàng nhập khẩu. Việc ưu tiên này nên được đưa vào tiêu chí đánh giá của “chợ văn minh”, “người kinh doanh kiểu mẫu”, “gia đình văn hóa”…

Câu chuyện thể thao

TÔI DÈ DẶT VỚI STOICHKOV…

Việc tuyển chọn HLV trưởng cho đội tuyển bóng đá nam quốc gia có lẽ đã “nóng” lên nhiều sau khi xuất hiện thông tin trong danh sách ứng viên có Stoichkov. Với những người trong độ tuổi 30 trở lên, cựu danh thủ người Bulgaria này có lẽ đã khá quen thuộc, không chỉ từng thi đấu xuất sắc trong màu áo đội tuyển quốc giá xứ sở hoa hồng mà còn là một quân bài quan trọng của Barcelona thời Johan Cruyff dẫn dắt. Stoichkov cũng được biết đến với lối chơi quyết liệt và cá tính cá nóng nảy…
Rõ ràng, nếu Stoichkov là HLV trưởng đội tuyển nước ta thì không chỉ đội tuyển mà nền bóng đá Việt Nam cũng có được những sự tác động rất tích cực. Chẳng hạn, chắc chắn sự quan tâm của người hâm mộ sẽ tăng cao, sự chú ý của truyền thông và các đội bóng nước ngoài cũng tăng lên đáng kể, khi đó hình ảnh bóng đá nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ có cơ hội được quảng bá rộng rãi trên thế giới. Khi đó, việc thu hút khán giả đến sân hoặc việc quảng cáo, tài trợ, bản quyền truyền hình sẽ thuận lợi hơn, tức là nguồn lợi cho đội tuyển và các CLB cũng được tăng lên. Không chỉ vậy, làm việc với một ngôi sao lớn, các tuyển thủ Việt Nam sẽ học được tác phong làm việc chuyên nghiệp và những kinh nghiệm quý báu…
Tuy nhiên, từng là một ngôi sao lớn nhưng nếu dẫn dắt đội tuyển Việt Nam, tôi vẫn thấy dè dặt ở Stoichkov nhiều điểm:
Thứ nhất, có lẽ ông không phải là người am hiểu bóng đá châu Á cho lắm, dù từng có thời gian thi đấu ở Nhật, trong khi đây là yêu cầu quan trọng của VFF.
Thứ hai, với danh tiếng như Stoichkov, chắc chắn lương bổng không phải là vấn đề có thể dễ dàng thỏa thuận được; và nếu phải trả lương quá cao (kể cả được tài trợ) thì liệu có “hiệu quả” hay không?
Thứ ba, Stoichkov chưa để lại dấu ấn đáng kể trong sự nghiệp HLV, liệu nếu giao đội tuyển cho ông ta thì có phải là có phần “mạo hiểm” không?
Thứ tư, nếu chọn Stoichkov thì phải chọn các trợ lý cho ông ta như thế nào, do một số HLV người Việt đảm trách hay phải chọn theo yêu cầu của ông?
Thứ năm, cũng với danh tiếng quá lớn, việc phối hợp làm việc giữa VFF với đội tuyển (ban huấn luyện và các tuyển thủ…), giữa Stoichkov với các CLB và các cầu thủ… có thể gặp những khó khăn nhất định mà tiền lệ bóng đá Việt Nam có thể chưa có.
Vì những lẽ đó, tôi thấy rằng VFF cần cân nhắc thật kỹ trước khi chọn Stoichkov hay bất cứ HLV nước ngoài nào, để tránh những thiệt hại (cho bản thân VFF và nền bóng đá Việt Nam) hoặc rắc rối đáng tiếc mà chúng ta đã từng gặp phải. Có lẽ nên lấy câu cửa miệng của người Việt để áp dụng: liệu cơm gắp mắm, tức là liệu sức của nền bóng đá và cả túi tiền để chọn HLV cho phù hợp.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Thời sự và suy nghĩ

THÊM MỘT GÓC NHÌN VỀ Y ĐỨC

Ngày 6-11-1996, Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương đã ban hành Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế, thường được gọi là 12 điều y đức. Trong 12 điều này có những điều rất cụ thể, thiết thực và gần gũi, như “Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh” (Điều 3); “Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết” (Điều 4); “Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh” (Điều 6); “Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe” (Điều 8)...
Y đức không phải là luật pháp (nên không có các quy định về chế tài, trách nhiệm pháp lý), mà là những quy ước và nguyên tắc được các thành viên trong ngành chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các quy ước này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về các hành xử cho các tình huống khác nhau. Y đức, do đó, là một luật luân lý về hành vi của người thầy thuốc liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai.
Đặt ra vấn đề y đức là một yêu cầu khách quan và cần thiết vì có những điều pháp luật không thể (hoặc chưa) điều chỉnh, ràng buộc, mà chỉ phụ thuộc vào lương tâm, trách nhiệm của người thầy thuốc. Chẳng hạn, trước một người bệnh, việc người thầy thuốc có nhiệt tình cứu chữa hay không thì gần như luật pháp không thể can thiệp (phân biệt với có cứu chữa hay không). Vấn đề đạo đức cũng được đề cập ở một số ngành nghề khác như nghề báo, luật sư…
Đến nay, 12 điều y đức vẫn được treo trang trọng ở các bệnh viện, trung tâm y tế. Nói chung, 12 điều y đức này cũng không khác nhiều với 8 lời thề Hippocrate, vốn được tất cả các sinh viên y khoa tuyên thệ trước khi ra trường.
Dù vậy, trên thực tế, dường như không phải cán bộ ngành y tế nào cũng thuộc và thực hành đầy đủ 12 điều y đức. Có không ít ý kiến cho rằng vấn đề y đức hiện nay chưa được người thầy thuốc thể hiện rõ nét. Biểu hiện thường thấy là bác sĩ, nhân viên y tế thường ít tỏ ra nhiệt tình, chu đáo, lịch sự với người bệnh. Đi khám bệnh, bác sĩ chỉ hỏi qua loa vài câu, ít khi tìm hiểu thấu đáo, vì vậy người bệnh ít khi “dám” hỏi thêm về bệnh trạng của mình. Bác sĩ cũng ít dặn dò kỹ lưỡng những điều nên làm, cần làm, nên tránh và bị cấm để bệnh mau khỏi. Nhân viên y tế thường ít có nụ cười, hay trả lời “nhát gừng” và đôi khi còn làm khó bệnh nhân và người nhà để được “bồi dưỡng”. Tệ nhận tiền, quà cáp của người bệnh dù bị nghiêm cấm nhưng vẫn diễn ra. Cá biệt, có người còn “nuôi bệnh” để người bệnh phải đi điều trị lâu dài, nhằm “móc túi” họ; hoặc tìm cách đưa bệnh nhân từ bệnh viện công đến phòng mạch tư để thu tiền… Thậm chí, có thầy thuốc còn lợi dụng sự thiếu hiểu biết, sự lệ thuộc của người bệnh để trục lợi bất chính.
Bên cạnh 12 điều y đức, còn được cho là chung chung, Luật Khám bệnh, chữa bệnh cũng đã ra đời (có hiệu lực từ ngày 1-1-2011), nhưng theo nhiều chuyên gia y tế, là chưa đề cập rõ quy tắc ứng xử, giới hạn quan hệ, hành vi của thầy thuốc với bệnh nhân. Vì vậy, đã có ý kiến đề nghị nên ban hành quy tắc về y đức với lời lý giải rằng, vì mối liên hệ giữa người thầy thuốc và bệnh nhân, nên nguyên tắc đạo đức có một giá trị đặc biệt quan trọng trong việc hành nghề chữa bệnh, mà những quy tắc hiện nay chưa đáp ứng được. Chẳng hạn, một thiếu nữ đi khám bệnh mà người khám là nam giới, vậy liệu có cần người thứ ba (một nữ y tá hoặc thân nhân của người bệnh) hay không?... Như vậy, các điều y đức cần tiếp tục được điều chỉnh, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tế.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, cán bộ y tế cần ghi khắc và thường xuyên thực hành lời dạy của Bác Hồ: “Lương y phải như từ mẫu”. Không chỉ trong khám chữa bệnh mà còn trong từng hành vi, cử chỉ, lời nói với bệnh nhân, cán bộ y tế phải thể hiện cho được trách nhiệm, tình cảm như với người thân của mình. Tức là, việc thực hành y đức không chỉ qua lời nói, không chỉ nhất thời mà phải qua hành động cụ thể và thường xuyên, liên tục.
Bài đã đăng Báo SGGP, ngày 26-2-2011

Thời sự và suy nghĩ

CHÚ Ý TĂNG MẢNG XANH Ở ĐÔ THỊ


Trong hàng loạt số liệu báo cáo của các địa phương trong thực hiện các nhiệm vụ năm 2010 thì chi tiết phát triển cây xanh, mảng xanh trên địa bàn có lẽ ít được đề cập. Ở quận 4, báo cáo tổng kết của UBND có nên trong năm đã tăng thêm 2.600 m2 mảng xanh, dù còn khá khiêm tốn nhưng quận xem mỗi m2 mảng xanh đều có giá trị đặc biệt.
Ai cũng hiểu mảng xanh (nên hiểu bao gồm cả hoa, cỏ và các loại cây) có tác dụng rất tích cực đến môi trường, không chỉ góp phần làm trong lành không khí (thải ra hơi nước làm giảm nhiệt độ, hút bớt khí CO2…), tạo ra cảnh quan đô thị đẹp mắt mà còn có tác dụng giúp con người bớt căng thẳng, nặng nề. Vì vậy, ở mỗi con đường, mỗi góc phố có thêm một gốc cây xanh, thêm những bồn hoa, thêm những trảng cỏ, nhất là thêm được một góc công viên, sẽ có ý nghĩa biết bao nhiêu. Những điểm xanh với lá với hoa hiện ra làm mềm hẳn những khối bê tông, những mảng nhựa đường cứng nhắc, nóng chảy. Ở các công sở, các chung cư, nếu không có một “công viên” nho nhỏ thì cũng có những chậu kiểng, bonsai đậm nhạt khác nhau, điểm tô thêm cho mỹ quan khu vực.
Phát triển mảng xanh rõ ràng là vì môi trường, vì cộng đồng, vì người dân. Nên đừng để người dân đứng bên ngoài việc làm tích cực này. Cần mạnh mẽ tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của việc phát triển mảng xanh trên các địa bàn dân cư để người dân cùng chung tay góp sức. Trong điều kiện của mình, mỗi người dân nên tham gia tạo và gìn giữ mảng xanh ở xung quanh mình. Chẳng hạn, mỗi hộ gia đình đăng ký chăm sóc một cây xanh trước nhà mình, tận dụng ban công, khoảng đất trống để trồng thêm hoa kiểng, thậm chí chỉ là một số loại rau nhỏ (như ớt, hành, cà chua…) vừa có niềm vui, vừa để ăn vừa thêm mảng xanh; một nhóm gia đình cùng chăm sóc một mảng xanh, đồng thời thay phiên nhau quét dọn, giữ gìn vệ sinh nơi mình sống…
Bên cạnh đó, trong quy ước xây dựng đời sống văn minh, cần có các quy ước về giữ gìn, phát triển mảng xanh trong cộng đồng. Cần gắn trách nhiệm của từng cá nhân, từng hộ gia đình trong việc này, thay vì chỉ xem là trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Tức là, mỗi người dân nên thấy rằng, có thêm mảng xanh (và mảng xanh đẹp) là chính bản thân mình được hưởng lợi, cái lợi ích tinh thần thật khó định lượng được.
Vì vậy, xin đừng “đánh trống bỏ dùi” hoặc làm theo phong trào. Xây dựng mảng xanh cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và có kế thừa các năm trước. Cần có chủ trương thống nhất từ thành phố đến quận huyện, các phường xã, các ban ngành và mỗi người dân cần chủ động, sáng tạo để các địa phương ngày càng có thêm nhiều mảng xanh. Khi đó lá, hoa, thảm cỏ sẽ là điểm xuyết cho những chung cư cao tầng, hiện đại, những công trình khối đồ sộ sẽ lần lượt được mọc lên.
Đặc biệt, với truyền thống “mùa xuân là tết trồng cây”, các địa phương cần phát động rộng rãi ngày tết đặc biệt này tại cộng đồng dân cư, các cơ quan, công sở, trường học…, tùy theo điều kiện cụ thể của mình. Có thể một cây trồng mới, một bồn hoa, một chậu kiểng, một chút mảng xanh không có nhiều ý nghĩa thiết thực đối với môi trường nhưng chắc chắn có tác động đến tâm lý, nhận thức, tình cảm của người dân đối với cây xanh nói riêng và môi trường sống nói chung, từ đó thúc đẩy mọi người ra sức gìn giữ, tôn tạo mảng xanh của thành phố tích cực hơn. Những điều đó, sẽ có tác dụng tích cực đến mục tiêu xây dựng thành phố xanh, sạch, đẹp, thân thiện mới môi trường.
Bài đã đăng Báo SGGP ngày 24-2-2011

Bài thơ

PHÍA TRƯỚC CÓ BẦU TRỜI

Mỗi buổi sáng anh hay nghe bản A morning sunrise
(Tiếng guitar của Francis Goya thật ngọt)
Và nghĩ đến những điều tốt đẹp
Vẫn còn thấy mặt trời trong buổi bình minh.

Có biết bao điều bất trắc xung quanh
Đâu thể lường, ta vẫn điềm nhiên đi tới
Chẳng lẽ khi khó khăn cản lối
Ta đành dừng và đợi đến tàn hơi?

Anh vững tin phía trước có bầu trời
(Ta thấy mặt trời lên tức mắt còn cảm nhận
Ta có niềm tin bởi óc còn minh mẫn)
Dẫu hoàng hôn rồi cũng có lúc bình minh.

Anh vẫn ước một ngày ngắm tia nắng lung linh
Khi tay trong tay xẻ đôi thế giới
Mặc một bên ồn ào, nghĩ ngợi
Ta bên này lặng lẽ đếm thời gian.

Đã qua rồi thời ước vọng huy hoàng
(Có thực tế mới quý giá từng khoảnh khắc)
Cho anh vài phút đủ nghe bản nhạc
Để thấy lòng thư thái trước gian nguy.

Anh vẫn mơ, cùng mỗi bước em đi
Lá vẫn xanh và hoa vẫn nở
Mặc anh một đời nặng nợ
Chỉ động viên em những lúc khó khăn…

Đời vẫn vui khi ánh sáng ngập tràn
Đây đó tiếng chim ca, tiếng trẻ cười khúc khích
Dẫu trước buổi giông, trời tĩnh mịch
Ta vẫn còn nghe tiếng nói của tâm hồn…

Bản A morning sunrise không có tiếng sóng dồn
Chỉ khoan nhặt bổng trầm cung êm dịu
Đời vẫn tươi nếu chỉ hoa hàm tiếu
(Dù có gai, hồng vẫn đẹp đó thôi!)

Gỡ hết gai cho hoa thắm em ơi!
Đạp bằng khó khăn cho đời thêm ý nghĩa…

Bài thơ

NGÀY THƠ TRẺ

Ngày thơ trẻ
Trí bán vầng trăng
Hồn thả với Mộng Cầm
Viết nên những vần thơ trác tuyệt.

Ngày thơ trẻ
Mai Đình mua thơ
Lòng đầy mộng mơ
Một ngày sánh đôi cùng Hàn Mặc Tử.

Những ngày thơ trẻ
Chín những mùa xuân đây thôn Vĩ Dạ
Sông trắng, sông trăng có bóng nguyệt trần truồng
Và những cuộc chơi dang dở kẻ theo chồng...

Những ngày không còn thơ trẻ
Trăng tàn khuyết, chẳng có người mua
Đất Quy Nhơn gió thổi lạnh bốn mùa
Mộng Cầm đâu, khói sương đã mờ nhân ảnh.

Những ngày chẳng ai còn thơ trẻ
Mai Đình đến thăm Hàn trong lặng lẽ
Trí của ngày xưa đang đợi Chúa gọi về
Trong cơn mê tưởng dáng Mộng Cầm bên thôn Vĩ...

Những ngày xa xưa ấy
Có những cuộc tình dở dang tuyệt đẹp
Đã in thành thơ, thành nhạc
Ngày sau vẫn còn người viết tiếp...

Ngày thơ trẻ
Anh tưởng sẽ giết người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp long đong
Ngờ đâu suốt kiếp nát lòng...

Ngày thơ trẻ
Anh đã tìm em trong tuyệt vọng
Ngày gặp lại tóc đã điểm sương
Cách biệt đôi đường.

Ngày thơ trẻ
Anh oán thù ngày thơ trẻ...

Bài thơ

ĐÊM QUÊ

Đêm quê xào xạc tàu dừa
Tiếng tre kẽo kẹt gió đưa la đà.
Trăng len kẽ vách nở hoa
Ngoài sân bàng bạc ngỡ là hơi sương.
Chim lạc giọng gọi bạn đường
Nỉ non tiếng vạc dặm trường ăn đêm.
Tành tành máy nổ ao tôm
Bóng ai ẩn khuất sớm hôm nhọc nhằn.
Gà đâu eo óc vang vang
Giật mình chó sủa mơ màng tiếng gâu.
Chợ khuya vẳng tiếng gọi nhau
Tiếng xe cọc cạch lao xao bên đường.
Trẻ học bài – chiếc đèn con
Tiếng em rất khẽ khuya còn vọng xa.
Đầu hồi rõ tiếng ngân nga
Giọng khoan nhặt giọng ê a ời ời.
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”
(1)

Đêm quê xúc động trào dâng
Đi xa, quê cũ thêm nồng thêm thương.
Mai này đi khắp nẻo đường
Chẳng đâu nhớ bằng quê hương của mình.

18-2-2011
(1) Thơ Nguyễn Đình Thi.

Thời sự và suy nghĩ

MỘT BÀI HỌC LỚN TỪ VỤ VIỆC Ở LIBYA
Đến ngày 6-3-2011, toàn bộ 10.334 lao động Việt Nam tại Libya đã được đưa rời khỏi nước này, hoặc đang tập kết tại các nước lân cận hoặc đã về đến Việt Nam. Có thể nói đây là vụ “giải cứu” người lao động Việt Nam ở nước ngoài với quy mô lớn nhất và cũng thành công nhất của nước ta từ trước đến nay. Vận chuyển chủ yếu bằng đường hàng không, Chính phủ đã chỉ đạo Vietnam Airlines lập cầu hàng không và huy động nhiều máy bay loại lớn liên tục đến Libya và các nước lân cận để đón người lao động Việt Nam về nước. Không chỉ bản thân người lao động và gia đình hay dư luận trong nước mà chính các tổ chức quốc tế cũng đánh giá rất cao hành động “giải cứu” này. Hãng tin BBC đánh giá, “hành động của Việt Nam và Trung Quốc được cho là khá nhanh gọn, trong khi một số quốc gia khác ở Nam Á cũng có lao động tại Libya bị chỉ trích là lúng túng trong điều hành việc hồi hương công nhân”.
Vụ việc này ở Libya có thể rút ra nhiều bài học quý báu cho công tác xuất khẩu lao động cũng như việc xử lý trong những trường hợp rủi ro khẩn cấp.
Thứ nhất, việc xác định thị trường (điểm đến) để đưa người lao động Việt Nam đến phải được cân nhắc, chọn lựa cẩn thận. Không phải nơi nào có việc làm và có thu nhập cao là đều có thể đưa lao động đến, mà cần phải xem công việc đó có phù hợp với điều kiện chuyên môn, trình độ, sức khỏe, tập quán của người Việt. Đặc biệt, cần chọn những nơi đảm bảo an toàn về sức khỏe, tính mạng cho người lao động. Tức là, không thể xuất khẩu lao động bằng mọi giá! Đồng thời, không nên khuyến khích đưa người lao động ra nước ngoài “bằng mọi giá”, nhất là với những người xem đây là con đường duy nhất để mưu sinh. Trong từng giai đoạn, cần có chiến lược xuất khẩu lao động phù hợp.
Thứ hai, cần có sự thông tin hai chiều thường xuyên, liên tục giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động ở nước ngoài. Định kỳ, các doanh nghiệp phải báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động. Điều này đặt ra trách nhiệm và cả đạo đức của các doanh nghiệp, để tránh trường hợp doanh nghiệp đưa được người lao động ra nước ngoài có việc làm, còn họ làm việc, sinh hoạt ra sao thì bỏ mặc. Từ đó có thể tránh tiếp tục đưa người lao động Việt Nam đến những nơi làm việc thiếu an toàn hoặc có điều kiện làm việc không tốt…
Thứ ba, cần có biện pháp quản lý chặt chẽ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động để đảm bảo rằng các doanh nghiệp luôn thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về đưa người lao động ra nước ngoài và đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho họ, cả khi có những sự cố xảy ra. Bên cạnh việc tiếp tục hoàn chỉnh hành lang pháp lý về xuất khẩu lao động thì trong công tác quản lý, cần có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên để đảm bảo không xảy ra sai phạm và kịp thời xử lý, khắc phục những sai phạm (nếu có).
Thứ tư, khi có sự cố xảy ra, ưu tiên giải quyết vấn đề an toàn cho người lao động. Do đó, đối với mỗi nơi có người Việt Nam đang lao động cần có phương án đảm bảo an toàn (như tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa người lao động với đại sứ quán Việt Nam tại nước đó, có hiệp định, hiệp ước về bảo đảm an toàn cho người lao động Việt Nam…). Khi xảy ra sự cố, phải tìm cách đảm bảo an toàn và nhanh chóng sơ tán người lao động ra khỏi khu vực đó.
Thứ năm, cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và hỗ trợ người lao động bị mất việc vì những lý do bất khả kháng. Bị mất việc ở nước ngoài thường kèm theo những khó khăn về nợ nần, đời sống kinh tế…, do đó người lao động cần được quan tâm, động viên, hỗ trợ kịp thời và thiết thực.
Thứ sáu, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, các cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cần có các diễn đàn để người lao động có thể chia sẻ những rủi ro có thể gặp phải ở nước ngoài và những kinh nghiệm vượt qua rủi ro đó để những người sẽ ra nước ngoài làm việc chủ động đối phó với những tình huống có thể xảy ra.