Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Bài sưu tầm

Hủ nho lại đòi nho nhe ngóc đầu
Theo Nguyễn Hoàng Đức, đăng trên Chungta ngày 26-4-2011


1- Hình ảnh mẫu của hủ nho trong lịch sử là gì? Đó là “học nhi ưu tắc sĩ”, tức học giỏi để làm quan. Thèm làm quan đến độ, lê la vào cung điện, đứng cách vua chúa cả vài chục mét, xúm đông xúm đỏ xem hai con dế bé tẹo như hai đốt ngón tay, chọi nhau, rồi hò la tán thưởng nịnh bợ vua chúa. Thật là không có chút nào liêm sỉ!
2- Cụ thể trường hợp của Từ Hi Thái Hậu là mẫu hậu quốc gia, vậy mà thấy hai con nô tì chải đầu giống mình, liền lệnh lôi ra chém. Than ôi, mẫu hậu quốc gia mà còn so đọ ghen tức với cả đứa nô tì vì mái tóc. Con người hủ nho thấp hèn đến thế là cùng!
3- Tổng thống dân quốc Viên Thế Khải sau khi để cho các cận thần vào triều được đứng thẳng người không phải quì như chó nữa, rồi còn đưa tay bắt mọi người tưởng sẽ được hưởng ánh sáng canh tân của nền dân chủ , cộng hòa, nào ngờ, về già y đóng cửa, cùng vợ đem long bào ra mặc, để thỏa mặc cảm khát vọng muốn làm vua. Trời ơi đấy có phải cái căn gốc của hạng nho giáo không gượng làm người tiến bộ được?
4- Thấy quan quân đi qua, một vài kẻ từ trong núi chui ra nói vài lời có cánh. Quan quân đi tìm muốn thỉnh thị hẳn hoi, nhưng mấy người này liển lủi mất dạng. Người ta chỉ còn cách than: đó là mầy người ở ẩn! Than ôi, ăn nói bâng quơ thì còn được vài câu rơi vãi hay ho, mời nói hẳn hoi thì không nói được câu ra hồn! Vì sao? Vì sợ trách nhiệm! Chơi cờ với vua còn không dám thắng, nói gì đến việc đòi đưa ra ý kiến kinh bang tế thế?! Đã ẩn lên núi nhưng cái bả công danh vẫn cám dỗ quá nên đòi lân la nói mấy câu nửa dơi nửa chuột. Than ôi cái ham hố của đám hủ nho!
5- Nhà triết học Pháp Francois Julien, chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc phát hiện, học vấn Nho giáo thiên về “cái nhạt”, tức là nhạt nhẽo, làm sao nói mà không nói, nói ẩn để không bị lộ mình, mong cầu toàn cho bản thân. Than ôi, lúc nào cũng lo thủ thế giữ mình, thì làm gì có được cái gì hay ho?!
6- Học giả lớn Lâm Ngữ Đường, người Trung Quốc có nói, Trung Quốc không hề có triết học và khoa học, vì người Trung Quốc không biết tôn trọng cái phổ quát thì làm sao có khoa học và triết học được.
7- Triết gia Hegel nói : "Dân tộc Trung Quốc dù lớn, nhưng không có sử thi, nên không phải là dân tộc có tâm hồn lớn”. Vì câu nói này, trong nhiều năm gần đây, giới văn hóa của Trung quốc lọ mọ đi tìm khắp nơi, nhưng vẫn chưa tìm được sử thi nào để cứu vãn độ lớn cho dân tộc cả.
8- Mới đây, khi người ta bàn đến sự nổi lên của Trung Quốc, một số chuyên gia đã thẳng thắn nhận định: Trung Quốc không bao giờ lãnh đạo được thế giới, vì họ không hề có hệ thống tư tưởng (than ôi lúc nào cũng đòi sống nhạt lấy đâu ra tư tưởng?!)
9- Trong vấn đề giải quyết biển Đông mới đây, khi các nước đòi giải quyết đa phương, nhưng Trung Quốc chỉ muốn giải quyết song phương. Than ôi một nước lớn gấp hai chục lần các nước xung quanh như vậy, mà giải quyết đòi song phương, thì ra họ chưa bao giờ biết đến tinh thần phổ quát sẽ là tiền thân của công lý?! (Thật đúng như nhận xét của Lâm Ngữ Đường về dân tộc mình).
10- Người Nhật Bản khinh bỉ nho giáo đến mức họ còn đề ra chủ thuyết “Thoát Á luận”, nghĩa là muốn xã hội phát triển thì phải ly khai những thứ dây cà dây muống của đám hủ nho.
11- Cái đầu tầu nho học đã vậy, mấy chú học lỏm ti toe ở Việt Nam sẽ thế nào? Chúng ta thử đọc : “Trì trệ và bất lực"(Lương Đức Thiệp, Việt Nam tiến hóa sử, năm 1944)
Bị ý thức hệ nho giáo bảo thủ lung lạc, bị nguỵ thuyết của bọn Tống nho đưa lạc nẻo, bị chế độ thi cử chi phối, đẳng cấp nho sĩ Việt Nam không còn một chút hoạt lực(1) nào, không còn được một tính cách cấp tiến nào nữa. Bởi vậy họ đã chống tiến hoá chống cải cách. Phụ hoạ với triều định, họ đã lấy cái học bã giả(2) của Tống nho dựng một bức trường thành ngăn các trào lưu triết học khác không cho tràn tới địa hạt tri thức do họ giữ đặc quyền.…"Thiếu độc lập về tư tưởng, hoàn toàn phục tùng cổ nhân Trung Hoa về cả mặt tình cảm, quá câu nệ về hình thức thơ Tàu, đẳng cấp Nho sĩ Vệt Nam chỉ sản xuất ra được những lối thơ nghèo nàn. Nhiều tập thơ mài giũa công phu nhưng không chút sinh khí.
Qua ngay hình thức của thơ, ta cũng thấy rõ tinh thần bảo thủ của đẳng cấp Nho sĩ và sự bất lực của đẳng cấp này trong mọi công cuộc sáng tạo xã hội có tính chất cấp tiến.

Than ôi, Nho giáo bị coi là thứ bã chả, quả là thứ nước đờm nước dãi và nước thải! Thế mà vẫn cứ ti toe khoe chữ!
12- Nhà phê bình Hoài Thanh nói: Nho học chỉ là cái máy để đúc ra hàng vạn bài thơ dở. (tất nhiên là không thể nào viết được tiểu luận, chỉ bình vớ vẩn nhăng cuội).
13- Thời thơ Mới, có nhiều nhà thơ giỏi cả chữ Tầu cả chữ Tây, liền lớn tiếng thách thức bọn hủ nho rằng có giỏi thì dời núi xuống đây đọ làm thơ, nhưng bọn này im phăng phắc, chắc lại đang mỉm cười trên núi rằng “người quân tử không cần đấu?”
14- Câu của Khổng Tử là “Hương nguyên đức chi tặc giã”. Học trò hỏi, ông không trả lời, vì cách đây gần 2500 năm, ở Trung Quốc có 99% là nông dân, chẳng lẽ lại nói toẹt vào mặt họ : nhà quê là hại đức. Giờ nếu dịch là “ngụy quân tử là hại đức”, chẳng lẽ Khổng Tử lại dốt như vậy? vì sao:
- Ngụy quân tử hiển nhiên là kẻ lộ mặt xấu, việc gì phải nói ngụy quân tử là hại đức nữa. Nói thế có khác gì bảo “đồ giả là xấu!” hoặc đơn giản hơn, ai lại nói, phân là thối bao giờ. Than ôi, người Việt nói “chữ thầy trả thầy”. Có nghĩa học thế là phí cơm toi. Học thì phải biết suy luận, tại sao cứ chờ thầy bảo rồi mới dám nghĩ nhất nhất như vậy?!
Cái sở trường bé nhỏ của phương pháp hủ nho luôn luôn là tầm chương trích cú, không bao giờ hiểu cái lõi, chỉ đi tra cứu cái mẽ ngoài. Lúc nào cũng sợ hãi nói nước đôi, thì làm sao có thể nhận ra nội dung của sự việc?!
Tôi cũng là một người theo “Thoát Á luận”, trong mắt tôi, tôi không coi bọn hủ nho ra gì cả. Thời thơ Mới, đã có người thách thức đám hủ nho, giờ tôi cũng muốn thách thức đám này. Về toàn thể mặt trận vĩ mô đại cục, đám hủ nho đã phơi bụng trắng xóa rồi nay đòi cơ hội lê la vào lịch sử để kiếm chút hư danh ư?! Ở Việt nam, theo các thống kê, thì chỉ có hơn mười người viết được tiểu luận về văn học và xã hội học, trong số này hình như đám hủ nho không đủ tài. Làm một cái máy bay khó muôn vạn lần, nhưng để phá hoại nó chỉ cần ném vào một nắm cát. Giờ mời những đại biểu cao nhất của hủ nho, thôi thì cả túc nho cũng được, muốn tranh luận với tôi tử tế, thì xin viết một tiểu luận khoảng 1.500 đến 2.000 chữ cho. Lúc đó tôi cũng sẽ tranh luận bằng tiểu luận. Còn day dứt với commnet ấy à, nó chưa phải loại hình nào cả! Trước hết xin bàn về hai từ “vô lại” thôi. Và hãy phê bình thẳng vào bài hai trăm chữ “về sự sợ hãi” của Ngô Bảo Châu, xem có đủ trí thức và can đảm không?! Hãy cấu tự và bàn hẳn hoi đi, xem sở tài được bao nhiêu?!
Nhưng tôi cũng thú nhận, để chiến thắng hủ nho thật thiên khó vạn nan, vì Ngô Bảo Châu đoạt giải toán học hàng đầu thế giới, được cả Tổng thống Pháp đọc lời chúc mừng, mà có khối kẻ còn coi như không có, thì tôi chẳng là cái gì để được chấp nhận cả. Ông Bá Dương trong cuốn Người Trung Quốc xấu xí có nói: người Trung Quốc rất khó khăn, dường như chẳng bao giờ biết xin lỗi. Cái văn hóa hủ nho là thứ cấu kết lạc hậu nhất trong lịch sử, thật là khó mà nghe được lời chấp nhận thua cuộc hay xin lỗi của họ.
Dù vậy, tôi đã ném găng cho đám hủ nho và xin sẵn sàng vào cuộc!

(1) Sức sống.

(2) Thường nói bã chả, với nghĩa cái phần dư thừa sau khi lấy hết tính chất và nát ngấu nhão nhoẹt. (Nguồn: Thể thao văn hóa”)

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2011

Bài sưu tầm


80 năm trước thực dân xét xử ra sao?
Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông năm 1931
Bùi Quang Minh (tổng hợp)

Theo Chungta.com, ngày 3-4-2011

Câu chuyện lịch sử năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông, định dẫn độ cho nhà cầm quyền Pháp để lấy tiền, nhưng sau đó đã bị thất bại thảm hại trước sự giúp đỡ vô tư đầy lòng nhân ái của bạn bè quốc tế. Xin đăng tải một số thông tin về việc bắt giữ, việc xét xử và bào chữa cho Nguyễn Ái Quốc để thấy được công lao của gia đình vị ân nhân - luật sư Loseby, cộng sự của ông đối với một người nước ngoài không quen biết, không tiền để trả thù lao và việc xét xử tại tòa của thực dân Anh 80 năm trước...
Mùa xuân năm 1930, sau khi triệu tập và chủ trì thành công Hội nghị thống nhất các tổ chức Đảng tại Cửu Long, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đi Xiêm, Malaysia, Singapore rồi quay lại Thượng Hải hoạt động cách mạng. Ông ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Lung, Cửu Long - Hương Cảng, và nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí khác.
Ngày 30-4-1931, mật thám Pháp tại Sài Gòn bắt được một số người "tình nghi cộng sản" trong đó có Nguyễn Thái, sau này được biết là "Thư ký Công hội Nam kỳ", Xứ ủy viên. Khám trong người Thái, chúng bắt được thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 24-4-1931. Tiếp đó, mật thám Anh tại Singapore đã bắt được Serge Lefranc, phái viên Quốc tế Cộng sản đi công tác Đông Nam Á. Trong giấy tờ của Serge Lefranc có địa chỉ "186 Tam Lung - Hongkong". Mật thám Pháp ở Đông Dương và mật thám Anh ở Hồng Kông đã mặc cả những điều kiện có lợi cho cả hai bên để vây ráp, bắt lén Nguyễn Ái Quốc - Tống Văn Sơ ở địa chỉ trên ngày 6/6/1931. Lúc đó, chúng chưa nắm chắc đó là ai và chỉ biết theo logic đó phải là người quan trọng chống lại nước Pháp. Nếu bắt được Nguyễn Ái Quốc thì Pháp sẽ cử tàu Angiê sang áp giải ông Nguyễn về Đông Dương, nơi một án tử hình vắng mặt ông của toà Đại hình Vinh theo phán quyết số 115 (10-10-1929).
Thường lệ, ở HongKong nếu có việc bắt bớ thì báo chí sẽ "săn" tin và đưa ngay lên báo. Nhưng chính quyền HongKong trong lần bắt này đã cấm phương tiện thông tin báo chí đưa tin. Cảnh sát Anh sau khi đưa ảnh đối chiếu, đã điện cho Toàn quyền Đông Dương biết "Một người mang tên Tống Văn Sơ - chắc là Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt sáng ngày 6-6".
Tống Văn Sơ được giam tại nhà tù ở Victoria, thủ phủ của Hồng Kông. Nhà giam có ba tầng, mỗi tầng hai dãy xà lim... bề cao ba thước tây, bề ngang chỉ hơn một thước, bề dọc không đầy hai thước... chỉ vừa một người nằm xiên xiên. Cao chót vót trên đầu tường chỉ có một cửa sổ nhỏ hình nửa mặt trăng, xung quanh bịt song sắt và lưới sắt bưng bít. Cửa xà lim bằng ván gồ dày độ một gang tay và bọc sắt. Trong ngày bị bắt đưa vào Sở cảnh sát, Tống Văn Sơ đã gặp Hồ Tùng Mậu vừa từ tù bước ra, được thả và trục xuất và đã kịp đưa mắt ra hiệu. Nhờ ngày đó, Hồ Tùng Mậu, qua Liên đoàn Quốc tế Cứu tế đỏ của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản đã đến gặp luật sư Loseby (Francis Henry Loseby) - một luật sư tiến bộ người Anh ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ. Việc bắt lén người trái pháp luật đã bị bại lộ, Sở cảnh sát HongKong buộc phải đồng ý để luật sư vào gặp Tống Văn Sơ (24-6-1931). Luật sư đã tìm cách bào chữa và ngăn cản âm mưu của chính quyền Hồng Kông giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.
Ông Loseby chưa quen biết Tống Văn Sơ nhưng với lương tâm nghề nghiệp, ông tự coi mình có nghĩa vụ bảo vệ người Cách mạng Đông Dương này. Do kiên trì đề nghị nhiều lần, luật sư mới gặp được và hỏi chuyện Tống Văn Sơ ở nhà lao. Sau khi tiếp xúc và trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án mà luật sư nêu ra, người tù Tống Văn Sơ cảm ơn sự quan tâm của luật sư đối với mình, và tỏ ý băn khoăn vì không có tiền để trả công cho ông. Trước một người thanh niên Việt Nam gầy, xanh, song vẻ cương nghị, sự thông minh trong từng câu nói bằng tiếng Anh và đôi mắt sáng đã làm luật sư xúc động. Luật sư chân tình nói: "Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền". Luật sư nói: "Tôi sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy nói, cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…và rằng ông biết mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…"
Khi hỏi những điều cần thiết tối thiểu để lập hồ sơ đưa vụ này ra Tòa án, Loseby cùng Tống Văn Sơ hình dung được mưu đồ và tính toán của mật thám Anh – Pháp. Sở dĩ, chúng bắt khẩn cấp Tống Văn Sơ không có lệnh vì theo như chúng dự tính thì không cần giấy phép bởi nếu để lại bằng chứng trên giấy tờ sẽ không có lợi cho chúng sau này. Nếu đưa được Tống Văn Sơ xuống tàu dẫn về Đông Dương thì mọi chuyện sẽ giữ được bí mật, dù cho luật sư hay ai tìm cách cứu cũng đã muộn, không thể xoay chuyển được nữa.
Trở về, Loseby bàn bạc kỹ với người phó của mình - luật sư J.C. Jenkin, người cộng sự thay mặt ông bào chữa trước toà cho Tống Văn Sơ và kể chuyện về người bị giam giữ cho vợ của mình nghe. Bà vợ luật sư mua quà, thuốc men trực tiếp vào trong ngục thăm Tống Văn Sơ. Những lần sau đó, qua sự giới thiệu của bà vợ luật sư, có nhiều người khác nữa cũng đã đến thăm Tống Văn Sơ, trong số họ có cả bà Stella Benson vợ phó Thống đốc Hồng Kông. Và thật lạ lùng, sau mỗi lần gặp Tống Văn Sơ, sự quý mến, khâm phục của mỗi người dành cho người thanh niên Việt Nam lại tăng lên rất nhiều.
Âm mưu bị bại lộ, uy tín của chính quyền Anh ở Hương Cảng sẽ bị tổn thương. Chính bởi thế, chính quyền Hương Cảng một mặt cố ngăn chặn không cho luật sư Loseby tiếp cận sớm với Tống Văn Sơ, mặt khác, họ gấp rút hợp pháp hóa việc bắt ông Tống bằng cách ký lệnh bắt Tống Văn Sơ vào ngày 11-6 (năm ngày sau khi bị tống vào tù) và ngày 12/6 coi như bắt chính thức Tống Văn Sơ.
Thời gian Tống Văn Sơ bị giam giữ cũng đồng thời là khoảng thời gian nước rút của cuộc đua giữa một bên là gia đình luật sư và những người bảo vệ Tống Văn Sơ, một bên khác là sự cấu kết, có điều kiện của mật thám Anh và mật thám Pháp muốn hãm hại Tống Văn Sơ nhưng đã bị đẩy vào thế bị động. Theo luật nước Anh, sau khi bắt người trong 14 ngày phải đem xử án, nếu không, phải trả tự do cho họ. Nhưng chính quyền HongKong đã giam ông quá hạn rồi nhiều lần ký lệnh giam thêm. Dưới sức ép của dư luận, của những phương tiện thông tin báo chí, luật sư Loseby đã đưa vụ án Tống Văn Sơ ra xử công khai trước Pháp viện tối cao. Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Toà án tối cao phải xét xử một bản án chính trị. Tính chất đặc biệt của vụ án, sự giúp đỡ cùng tài trí của luật sư và người cộng sự, sự thông minh và nhất quán trong từng câu trả lời của Tống Văn Sơ đã buộc toà án phải xét xử một cách công khai.
Tống Văn Sơ phải trải qua ba cuộc thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ Hồng Kông và 9 phiên toà xét xử tại Hồng Kông (ngày 31-7-1931 là phiên thứ nhất, diễn ra trong không khí căng thẳng, quyết liệt và phiên cuối cùng kết thúc vào ngày 19-9-1931). Trong các phiên tòa, ngoài các chánh án, phó chánh án, công tố viên, luật sư bào chữa còn có đại diện báo chí, dân chúng ít được đến dự. Họ cho đây là một vụ án "quan trọng nhất từ xưa đến nay chưa từng có ở Hồng Kông". Các báo chí Anh ở Hồng Kông không bị kiểm duyệt nên nhiều tờ như tờ "Bưu điện Hoa Nam buổi sáng", "Buổi sáng HongKong", "Bưu điện HongKong"... đã đăng bài tường thuật các phiên tòa xét xử rất chi tiết, đòi bảo vệ công lý, đòi thi hành đúng pháp luật.
Tham gia tranh tụng tại phiên tòa có luật sư J.C Jenkin và luật sư Loseby. Vì trước Tòa, chỉ có một luật sư được phát biểu ý kiến nên luật sư Loseby đã chuẩn bị sẵn bài cãi rồi ủy nhiệm cho luật sư Jenkin phát biểu.
Luật sư Jenkin là một trí thức rất thông minh và hùng biện, đồng thời đã hết lòng bào chữa cho Tống Văn Sơ.
Trong phiên tòa thứ nhất mở ngày 31-7-1931, chính quyền Hương Cảng đã không đưa ông Tống ra Tòa. Sau vài thủ tục đơn giản, chánh án đã luận tội: "Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô, phái viên của Đệ tam Quốc tế, đến HongKong định phá hoại chính quyền ở đây. Vì lẽ đó, sẽ bị trục xuất khỏi HongKong vào ngày 18 tháng 8 do chiếc tàu thủy Alger của Pháp chở về Đông Dương".
Luật sư Loseby chỉ thị cho luật sư Jenkin phản đối và đòi hỏi Tòa phải đưa Tống Văn Sơ ra trước Tòa.
Đến buổi thứ hai, chính quyền buộc phải đưa ông Tống ra hiện diện tại Tòa nhưng hai tay lại bị xích.
Thấy bị cáo vào phòng xử án trong tư thế như vậy, luật sư Loseby rất tức giận nhưng vì không được quyền nói nên ông liếc nhìn sang luật sư Jekin ra hiệu.
Vốn thông minh, nhanh nhạy, luật sư Jenkin liền đứng ngay dậy chỉ vào đôi tay của ông Tống đang bị xích rồi hướng về phía quan tòa, giọng rất gắt gao rằng: "Khi bị cáo ra tòa là đứng trước công lý, thân thể phải hoàn toàn tự do. Nay chưa biết bị cáo can vào tội gì, tại sao chính quyền lại đã dùng đến nhục hình xích tay trong phòng xử án!"
Ông nói rất mạnh mẽ, đanh thép, trong khi đó, Tống Văn Sơ đứng trước vành móng ngựa giơ cao hai tay trước mặt quan tòa, lắc mạnh. Tiếng xích kêu loảng xoảng hòa cùng lời lẽ hùng biện của luật sư tạo nên một bầu không khí náo động trong phòng xử án. Mọi người ồn lên "sai, sai, cởi trói, cởi trói ngay..." Quan tòa đuối lý, sượng sùng, xin lỗi và ra lệnh đưa bị cáo ra ngoài để tháo xích ra.
Sau đó, luật sư Jekin tiếp tục hùng biện cho đến khi ông Tống trở lại vành móng ngựa, hai tay tự do, lúc đó luật sư mới ngồi xuống.
Jenkin mạnh mẽ tố cáo chính quyền Hongkong đã vi phạm luật pháp trong việc bắt trái phép Tống Văn Sơ ngày 6-6-1931. Tòa nhận làm như thế là sai và bào chữa là sau đó đã có lệnh bắt rồi.
Jenkin lại nói: Lệnh bắt giam lần thứ 2 cũng sai sót. Vì lệnh bắt là thi hành đối với người đang tự do. Nhưng lệnh bắt Tống Văn Sơ lại thi hành khi Tống Văn Sơ đang ngồi nhà tù. Không ai lại bắt một người đang ở trong trạng thái mất tự do!
Quan tòa đành chấp nhận, cử tọa vỗ tay hoan hô luật sư!
"Điều sai thứ ba là chính quyền đã giam trái phép Tống Văn Sơ. Luật chỉ cho phép giam giữ 14 ngày nếu không luận được tội, phải thả người bị bắt. Như vậy, theo luật, Tống Văn Sơ phải được trả tự do từ ngày 2-7, mà hôm nay đã là 1-8, vẫn còn trong nhà tù..."
Tiếng hoan hô lại vang lên!
Ông Jekin yêu cầu:- Thưa ngài Alabaster, đại diện chính quyền HongKong, ngày có công nhận như vậy không?
Alabaster, trả lời:- Tôi không thể công nhận điều gì khi chưa có chỉ thị. Xin ngài đừng truy ép tôi...
Chánh án Joseph Kemp lên tiếng:- Không ai phủ nhận điều đó. Tống Văn Sơ đã thề rằng mình bị bắt ngày 6-6, chúng ta kết luận là Tống bị bắt ngày 6. Còn ngày 12, theo Tống không có việc bị bắt lại.
Phó chánh án Lindsell nói tiếp:- Tôi thấy cần nói rõ là đã có một hành động gọi là bắt vào ngày 12 trong khi Tống đang bị giam.
Luật sư Jenkin kết luận:- Tôi quả quyết rằng, đương sự Tống Văn Sơ, khách hàng của chúng tôi, từ ngày 6-6 đến ngày 12-6 đã bị bắt giam giữ một cách trái phép, bất hợp pháp. Việc đó đã quá rõ. Hơn nữa đương sự lại không được tiếp xúc với thẩm phán. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc giam giữ Tống Văn Sơ là sai trái, là sai pháp luật của nước Anh. Chính quyền địa phương còn phạm luật trong việc khám xét nhà của Tống Văn Sơ vì vu cho Tống là tàng trữ "sách phản loạn".Mà, không phải sách báo phản loạn sao lại có thể bắt giam chủ nhân của nó là Tống Văn Sơ vào tù?
Bị dồn ép, Tòa án rung chuông tuyên bố nghỉ. Hôm sau, cả HongKong và thế giới được thông tin về vụ xử án "ly kỳ" này qua các báo chí. Báo bán rất chạy.
Phiên tòa thứ hai, dường như cảm thấy quá đuối lý, quan tòa liền xoay chuyển tình hình bằng cách cho rằng việc bắt, giam Tống Văn Sơ chỉ là sai sót về thủ tục pháp lý, còn bản thân Tống Văn Sơ trong lời cung khai đã tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, tức là lãnh tụ cộng sản An Nam.
Bằng chứng là bản cung khai do một người Anh lão luyện, đầy kinh nghiệm tố tụng là William Thomson, Phó Bí thư Hoa vụ hỏi cung Tống Văn Sơ ngày 14-7-1931. Ở dưới bản cung có ký tên tuyên thệ của W.Thomson. Chánh án đã trưng ra trước tòa bản cung khai này, nguyên văn:
“ – Hỏi: (bằng tiếng Anh) Tên là gì?
- Đáp: Tống Văn Sơ (tên khác là Lý Thụy, tên khác nữa là Nguyễn Ái Quốc).
- Hỏi: Bao nhiêu tuổi?
- Đáp: Ba mươi sáu tuổi.
- Hỏi: Sinh quán ở đâu?
- Đáp: ở thị trấn Đông Hưng - Liêm Châu - Quảng Đông - Trung Quốc.
- Hỏi: Người ta bảo rằng anh là một người cộng sản đang tuyên truyền cộng sản, có thành tích bất hảo. Sự có mặt của anh ở Hồng Kông là một nguy hiểm cho an ninh trật tự. Anh có muốn nói gì để khỏi bị trục xuất không?
- Đáp: Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi theo chủ nghĩa dân tộc, để xóa bỏ chế độ áp bức của Pháp. Chúng tôi có ba phái: Phái thân Nhật, phái thân Đức, phái muốn trông cậy vào nước Anh.... Tôi không hiểu vì sao tôi bị bắt. Tôi có ở Pháp vào những năm 1920-1923, có lẽ cả năm 1924. Tôi không nhận cái biệt danh Nguyễn Ái Quốc (Đông Dương). Tôi có thuê nhà 186 Tam Lung của một người tên là Vương, ông này đã rời Hồng Kông vào tháng 4. Tôi đến ở và trả tiền thuê nhà. Ông Vương là nhà buôn, không phải là nhà cách mạng... Tôi có ở Thượng Hải, cách đây nhiều năm rồi.
- Hỏi: Anh ở Hongkong từ bao lâu ?
- Đáp: Độ bảy tháng
- Hỏi: Có quen ai ở đây không?
- Đáp: Không.
- Hỏi: Anh có gì làm chứng?
- Đáp: Không.
Rõ ràng, theo bản cung trên thì Tống Văn Sơ đã tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc – mục đích cuối cùng của thực dân Pháp – Anh.
Ngay lập tức, Jenkin lên tiếng đọc tờ khiếu nai của Tống Văn Sơ rồi vạch trần chi tiết những sai phạm trong việc hỏi cung và nghiêm trọng hơn, chính quyền đã làm giả bản hỏi cung. Cụ thể, trước tiên, đối chiếu với luật pháp Anh quốc lúc đó, nhà chức trách sau khi bắt một người nào đó phải tiến hành hỏi cung ngay sau 24 giờ, nếu sau ngày bắt là ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ, thì việc hỏi cung phải được bắt đầu ngay sau ngày Chủ nhật hay ngày lễ đó.
Nhân viên hỏi cung chỉ được quyền hỏi 7 câu hỏi in sẵn trên một tờ giấy, tuyệt đối không được hỏi ra ngoài phạm vi 7 câu hỏi gồm: Tên, tuổi, sinh quán, nghề nghiệp, thời gian cư trú, quan hệ xã hội, người và vật làm chứng. Nếu lời khai chưa rõ, người hỏi cung có thể đặt thêm một số câu hỏi nhưng tuyệt nhiên phải nằm trong nội dung 7 câu hỏi trên.
Ông Jenkin nói:- Việc hỏi thêm ngoài 7 câu hỏi có sẵn thực chất là cuộc thẩm vấn thứ 2. Điều đó chứng tỏ rằng việc lấy cung, làm thủ tục cung đều trái luật...
Như vậy, trong trường hợp hỏi cung Tống Văn Sơ, nhà chức trách đã vi phạm về thời gian, nội dung và cuối cùng là thay bằng một bản cung giả. Cụ thể, cho mãi tới ngày 14-7, tức là 1 tháng 8 ngày, chính quyền mới tiến hành hỏi cung Tống Văn Sơ và lại đặt quá nhiều câu hỏi không nằm trong phạm vi 7 câu hỏi như luật pháp Anh quốc quy định.
Song điều quan trọng nhất là chính quyền đã đưa ra một bản cung giả trong đó gán ghép cho Tống Văn Sơ tự nhận mình là Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc. Bằng chứng là lá đơn tố cáo của Tống Văn Sơ nêu rõ rằng, bản cung mà ông Tống khai là do ông viết trực tiếp khi trả lời, còn bản cung giả thì lại được đánh máy lại và ghi thêm là ông Tống đã nhận rồi.
Tòa án đành nhận lỗi và lại rung chuông nghỉ.
Hôm sau, người ta đọc được trên báo những tin mới về vụ xử án. Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (South China Morning Post) cho biết: "Tống Văn Sơ không công nhận lời ghi có tuyên thệ của Trợ lý thư ký Trung Hoa vụ Thomson. Lời ghi đó buộc được hiểu là một cuộc thẩm vấn và Tống Văn Sơ đã bị thẩm vấn ba lần. Tống Văn Sơ khiếu nại rằng viên chức thẩm vấn đã vượt quá quyền hạn của mình để hỏi những câu pháp luật không yêu cầu".
Những phiên tòa tiếp sau, Jenkin lại đưa ra những hành vi trái phép của nhà chức trách Hồng Kông và nói rõ không thể kết án Tống Văn Sơ vào bất cứ tội gì. "Thứ nhất: tuyệt đối không có gì chứng tỏ rằng Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô. Thứ hai: Không có chứng cớ Tống Văn Sơ muốn phá hoại Hồng Kông. Thứ ba: cộng sản hay quốc gia, điều đó không phải là một tội lỗi trước luật pháp Anh".
Bất chấp tất cả, chính quyền Hongkong vẫn chưa cam chịu thất bại.
Mở phiên tòa thứ 3 vào ngày 15-8-1931, Chưởng lý tòa tuyên bố:
- Nếu Tòa án chưa giải quyết được vấn đề đã nêu, thì có thể không cho tàu Alger đón Tống Văn Sơ mà giao cho tàu "Tướng Métdanhgiê" để rời Hồng Kông vào ngày 1-9.
Luật sư Jenkin yêu cầu ghi vào biên bản:- Nếu việc xét xử không hoàn thành, thì dù kết quả thế nào chăng nữa, Tống Văn Sơ cũng không bị không bị trục xuất trước khi tàu "Tướng Métdanhgiê" nhổ neo vào ngày 1 tháng 9 hay vào một ngày sau đó.
Tòa bị bất ngờ, người thì đồng ý, kẻ thì không. Chưa xét xử được gì mà giờ đã hết. Phải họp tiếp vào buổi chiều.
Vào phiên buổi chiều, Chưởng lý cho biết lệnh trục xuất Tống Văn Sơ đã được ký và ông ta đề nghị không họp nữa.
Luật sư Jenkin cũng tán thành. Nhưng chánh án lại muốn xử cho xong. Ông Jenkin vặn hỏi về lệnh trục xuất. Chánh án nói:- Tôi đã đồng ý với ngài rằng Tống Văn Sơ sẽ không bị trục xuất trước khi tàu "Tướng Métdanhgiê" rời bến...
Luật sư đã đấu tranh một cách rất mạnh mẽ, tiếp đó, tùy diễn biến tình hình, lúc thì cương quyết, lúc uyển chuyển sao cho có thể vô hiệu hóa được lệnh trục xuất kia. Ông đề nghị phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào ngày thứ năm 20-8.
Phiên tòa ngày 20-8 diễn ra rất căng thẳng. Vào phiên tòa, Chưởng lý tuyên bố là Thống đốc Hồng Kông đã ban hành lệnh trục xuất Tống Văn Sơ lần thứ hai vào ngày 15-8. Luật sư Jenkin rất ngạc nhiên hỏi lại Tòa và được biết tin đó là đúng. Luật sư hiểu ngay rằng trong phiên họp trước, biết rằng Tòa án không xử xong được vụ án Tống Văn Cơ, nên lệnh trục xuất đầu tiên ký vào ngày 12-8 đã không còn giá trị nữa, nên Thống đốc Hồng Kông buộc phải ký lệnh trục xuất lần thứ hai.
Ông Jenkin tuyên bố:- Việc ban hành lệnh trục xuất thứ hai là phi pháp. Lệnh thứ nhất ký ngày 12 tháng 8 chưa được thi hành vì Tòa còn đang xét xử - phiên gần nhất là 17-8, thì đã có lệnh trục xuất thứ hai ký vào ngày 15, ban hành vào ngày 17, đúng ngày Tòa còn đang họp. Không thể có hai lệnh trong cùng một thời gian với cùng một con người, về cùng một sự việc. Chỉ có một cách là Tòa án phải hủy lệnh đó, nhận đã làm sai. Không ai có thể ra lệnh thứ hai khi lệnh thứ nhất chưa thực sự bị bãi bỏ. Và dù khi có lệnh thứ hai, thì trước đó Tòa phải ra lệnh hủy lệnh thứ nhất. Việc này Tòa đã không làm. Và cho dù Tòa án làm được ngay hôm nay thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể ra lệnh thứ hai vì theo luật pháp hiện hành thì khi một người đang được miễn tố vì bị giam trái phép thì không thể bị bắt lại vì cùng một nguyên nhân, đây còn là việc lừa dối. Vì ngày 15-7 là ngày thứ Bảy. Tôi cam đoan rằng Hội đồng hành chính Hồng Kông không họp vào ngày này, và nếu có định họp vào giờ khuya sau khi nghỉ ngơi cũng không đủ đa số...
Chưởng lý bác bỏ ý kiến của luật sư Jenkin và khẳng định là Hội đồng có họp.
Ông Jenkin thẳng thừng nói:- Nếu Hội đồng có họp, tôi yêu cầu Tòa án cho mời Thống đốc Hồng Kông và các thành viên trong Hội đồng hành chính ra trước Tòa đối chất với luật sư, đồng thời đem biên bản buổi họp đó ghi ý kiến của mỗi thành viên về việc trục xuất Tống Văn Sơ.
Đây là một yêu cầu chính đáng và là quyền của luật sư. Theo luật pháp Anh, khi luật sư thấy cần phải gọi ai, mời ai ra Tòa để đối chất, Tòa phải đáp ứng yêu cầu ấy. Khi luật sư đòi hỏi bằng chứng, Tòa phải xuất trình bằng chứng.
Tòa bị lâm vào tình trạng "tiến thoái lưỡng nan"... Vì thực ra, Hội đồng hành chính Hongkong không họp ngày thứ Bảy, đã không họp thì lấy đâu ra biên bản. Nay lại phải gọi từ Thống đốc đến các "ngài ủy viên Hội đồng" ra hầu tòa thì bẽ mặt quá...
Chánh án bèn tuyên bố tòa tạm nghỉ. Tòa mời luật sư đến để thương lượng. Khi Tòa họp lại, ông Jenkin tuyên bố không yêu cầu Thống đốc và các Ủy viên ra tòa nữa. Phiên tòa lại tiếp tục. Tòa vịn vào hai cớ để trục xuất Tống Văn Sơ: Một là, Tống Văn Sơ tức Lý Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc là cộng sản, là phái viên của Đệ tam quốc tế, đang hoạt động tuyên truyền nguy hại cho Hồng Kông. Hai là, Nguyễn Ái Quốc quê ở Đông Dương đã bị kết án tử hình năm 1929, nên chính quyền Đông Dương đã nhờ chính quyền Hồng Kông bắt giữ và trao trả.
Luật sư Jenkin nhắc lại những lập luận của ông để bác bỏ lý do thứ nhất.- Phải khẳng định rằng không có một tài liệu, cơ sở vững chắc nào để kết luận Tống Văn Sơ là Nguyễn Ái Quốc, một người cộng sản. Cũng không có bằng chứng nào chứng minh Tống Văn Sơ là tay sai của Liên Xô cũng như phái viên của quốc tế cộng sản.Thời gian cư ngụ tại Hương Cảng, Tống Văn Sơ không hề vi phạm bất kỳ điều gì đối với quy định của pháp luật Anh quốc. Ngay khi khám xét, lục soát tại số nhà 186 đường Tam Lung nơi Tống Văn Sơ bị bắt giữ, cảnh sát cũng không hề thu được bất kỳ một tài liệu có liên quan đến cộng sản hay phản loạn gây nguy hại cho anh ninh Hương Cảng.
Về lý do thứ hai, luật sư đã kể ra một câu chuyện như sau:
- Năm 1858, vua nước Pháp sang thăm nước Anh thì bị mưu sát. Hồi ấy chính phủ Pháp đã yêu cầu chính phủ Anh trao trả cho Pháp một trong những người can tội này. Nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Anh bất giờ là Clarandon đã từ chối, với lý lẽ rằng "hoàn toàn không có một lý do gì buộc Nghị viện Anh phải thông qua quyết định trao trả phạm nhân cho nước ngoài về một vụ án chính trị". Năm 1914, nước Anh có thi hành luật trao trả, trục xuất ngoại kiều vì can án chính trị nếu thấy cần thiết và chỉ thực hiện trong thời gian chiến tranh. Năm 1918, khi đại chiến thế giới kết thúc, luật ấy không còn được thi hành và trở lại với điều luật năm 1905. Hơn nữa, luật trục xuất năm 1914 chỉ thi hành ở chính quốc, chứ không thi hành ở các thuộc địa, nhượng địa như Hongkong. Về mặt bảo đảm an ninh, năm 1912, có luật cho phép trục xuất những ngoại kiều có "thành tích bất hảo". Nhưng khách hàng của tôi, ông Tống Văn Sơ không hề vi phạm một điều gì về trật tự an ninh ở Hồng Kông. Vậy thì chính quyền Hồng Kông không thể trục xuất ông Tống được.
Luật sư kết luận:- Không thể trục xuất một ngoại kiều không vi phạm trật tự an ninh, dù người ấy có trốn khỏi chính quốc của họ về một vụ án có tính chất chính trị...
Chưa trả lời được, Tòa án đành... bế mạc!
Những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp - Anh bước đầu đã bị các luật sư vạch trần, song chính quyền Pháp và Hương Cảng vẫn giữ chặt hai lý do để trục xuất Tống Văn Sơ.
Trong phiên tòa tiếp theo ngày 25-8, luật sư Jenkin đã phát biểu dài về vấn đề "chính trị phạm" có nghĩa là phạm nhân đã từng hoạt động trong một phong trào chung, vì mục đích chung phải lánh nạn sang một nước khác. Đó là trường hợp của Tống Văn Sơ. Tống Văn Sơ đã tham gia phong trào cách mạng vì cả dân tộc, do đó không "nằm trong diện bị trục xuất đã nêu ra trong các điều luật. Nếu trục xuất chính trị phạm như luật pháp của một nước nào đó - không phải là nước Anh - đó là một hành động "xấu xa và bẩn thỉu".
Luật pháp rõ ràng. Bị cáo cũng đã tố cáo việc những người nhân danh luật pháp làm sai pháp luật. Luật sư cũng đã nêu rõ việc làm sai luật của chưởng lý, ủy viên công tố, của quan tòa, của Thống đốc, Hội đồng Thống đốc. Báo chí đã đứng về phía công lý, pháp luật tố cáo hành vi sai trái của Tòa án địa phương Hồng Kông, bảo vệ người bị xử trí oan.
Nhưng tất cả những điều trên không làm cho tòa án Hồng Kông thay đổi thái độ.
Trong phiên tòa thứ 8, ngày 12-9, Chánh án đã buộc phải thừa nhận 4 điểm:
1. Việc bắt Tống Văn Sơ là trái phép. 2. Việc giam Tống Văn Sơ là trái phép. 3. Việc hỏi cung Tống Văn Sơ không đúng thủ tục. 4. Chính quyền Hồng Kông đã làm giả mạo tờ cung.
Song điều quan trọng nhất là việc trục xuất thì vị chánh tòa tuyên bố: Việc chính quyền Hương Cảng trục xuất Tống Văn Sơ là hợp pháp! Đây rõ ràng là kiểu “cả vú lấp miệng em”!
Luật sư Jenkin đã phản đối kịch liệt quyết định vô lý, sai trái của chính quyền Hồng Kông, là nhẫn tâm và độc ác. Ông tuyên bố chính thức chống án lên Cơ mật viện Hoàng gia Anh tại London do nhà vua Anh chủ tọa, quyết định. Tiền án phí và những thủ tục bắt buộc đã được luật sư lo liệu đầy đủ và hai người bạn của luật sư là luật sư Denis Noel Pritt và Stafford Cripps đã nhận lời giúp đỡ Tống Văn Sơ.
Theo luật sư Stafford Cripps, vụ án này là một biểu hiện rất xấu cho chính quyền HongKong và Bộ Thuộc địa, nên đã tìm cách thoả thuận giữa luật sư đại diện Bộ Thuộc địa Anh và luật sư của Tống Văn Sơ. Kết quả của cuộc thoả thuận được trình và Toà án Viện Cơ mật Hoàng Gia Anh đã đồng ý trả tự do cho Tống Văn Sơ, bằng cách cho Người được tự do lựa chọn nơi mình đến. Ngày 28-12-1932, Tống Văn Sơ được tự do, song khi đi đến Singapore, Tống Văn Sơ lại bị buộc quay trở lại Hồng Kông và ngày 19-1-1933, Người lại bị bắt giam.
Ngay khi ấy, Người đã kịp thời viết thư báo tin cho luật sư Loseby và nhờ ông giúp đỡ. Luật sư đã đề nghị Thống đốc HongKong can thiệp, và Thống đốc đã buộc phải ra lệnh thả Tống Văn Sơ và hạn trong ba ngày Tống Văn Sơ phải rời khỏi Hongkong.
Một lần nữa gia đình luật sư Loseby lại bênh vực và cứu Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù. Kế hoạch di chuyển và bí mật tổ chức cho Tống Văn Sơ trốn đã được vạch ra. Khi ở tạm thời trong Ký túc xá Hội Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa (YMCA), khi thì ở ngay trong nhà của luật sư Loseby, liên tục di chuyển chỗ ở 3 - 4 lần, cuối cùng ngày 22-1-1933, Nguyễn Ái Quốc - Tống Văn Sơ đã cải trang thành một thương gia Trung Quốc giàu có, và với một viên thư ký tháp tùng (thư ký của luật sư, tên Lung Ting Chang), Người đi xuồng ra khơi bằng chính chiếc cano công vụ của Thống đốc Pin do ông bà Loseby bí mật bố trí. Trước khi xuống ca-nô, vị khách dừng lại chào từ biệt ông bà Loseby và không quên nhờ ông bà chuyển lời cảm ơn tới Pin - quan thống đốc Hương Cảng. Tống Văn Sơ lên tàu Anhui đi Hạ Môn (Amoy). Đội trưởng cận vệ truyền lệnh của thống đốc, viên thuyền trưởng tàu Anhui đứng nghiêm chào và mời “vị khách quý” cùng viên thư ký lên tàu.
Bí mật rời Hồng Kông, tàu cập bến Hạ Môn vào ngày 25-1-1933, vừa đúng 30 Tết âm lịch. Sau gần 20 tháng bị giam giữ, lùng sục gắt gao, trải qua bao gian nan hiểm nguy, Tống Văn Sơ đã thoát khỏi âm mưu nham hiểm của kẻ thù bằng một cuộc vượt biển thần kỳ. Ở Hạ Môn một thời gian, Người lên Thượng Hải, và sau khi nhờ bà Tống Khánh Linh giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc được với Quốc tế Cộng sản và trở về Liên Xô an toàn sau đó.
Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương Cảng, luật sư Loseby vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền nghĩ ra một “diệu kế” là tung tin Tống Văn Sơ tức lãnh tụ An Nam Nguyễn Ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương Cảng.
Báo chí bắt được tin đó đã nhanh chóng cho đăng tải ngay. Chỉ mấy hôm sau tờ báo của Đảng Cộng sản Liên Xô Pravda cũng đã đăng tin buồn và Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại trường Đại học Stalin.
Trong buổi lễ này, có một số chiến sĩ cách mạng của ta đang có mặt tại Mạc Tư Khoa cũng tới dự và khóc thương.
Mấy hôm sau nữa, tờ L'Humanité (Nhân đạo), cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp cũng đăng tin đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã mất tại Hương Cảng và Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cũng làm lễ truy điệu trọng thể người đồng chí đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Trong tập hồ sơ của sở mật thám Đông Dương lập về Nguyễn Ái Quốc, ở trang cuối cùng họ đã ghi: “Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù tại Hương Cảng”.
(Từ tư liệu của Lê Tư Lành, Nguyễn Văn Khoan)

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011

Tạp bút

HOA ANH ĐÀO VẪN NỞ Ở PHÍA MẶT TRỜI

1. Cá nhân tôi có tình cảm đặc biệt với nước Nhật. Hồi sinh viên, nhiều năm liền, tôi được Hiệp hội Học bổng Nhật – Việt trao tặng học bổng (với giá trị mười mấy năm trước mỗi năm tương đương 5 chỉ vàng). Tôi lại được một gia đình người Nhật đỡ đầu, mà một cô con gái của gia đình này đã có lần viết thư hỏi thăm, động viên tôi… Có cảm tình với người Nhật, với nước Nhật, tôi đã tập tành làm thơ haiku, thể thơ đặc sắc của xứ Phù Tang. Có điều, tôi vẫn lấy làm tiếc là qua nhiều lần chuyển nhà trọ, thư từ bị thất lạc nên đến giờ tôi không còn nhớ địa chỉ của ân nhân…
Có một dạo, tôi thường xuyên theo dõi chương trình đọc truyện thiếu nhi trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam để nghe bằng được truyện Quan tòa Oka, một loại truyện cổ vừa mang tính dân gian vừa có tính lịch sử. Tôi rất khâm phục trí thông minh và lòng thương dân của vị quan tòa đã đi vào huyền thoại của người dân Nhật Bản. Tôi có cảm giác như đang nghe những câu chuyện của Việt Nam, về một ông quan thanh liêm, chính trực, sáng suốt… Dĩ nhiên, sau này đọc Basho hay Wantanabe cũng có thể tìm thấy nét gì đó gần gũi với người Việt, dù rằng ngôn ngữ thể hiện có sự khác biệt với văn chương nước ta.
Người Nhật nổi tiếng thế giới về tinh thần gan dạ và kỷ luật. Các chiến binh samurai xưa khi thất trận thường tự xử bằng hình thức seppuku hoặc harakiri (tự mổ bụng tuẫn tiết) để tránh bị bắt, bị sỉ nhục. Thái độ này giống với tinh thần “thà chế vinh còn hơn sống nhục” của người Việt ta, mà một trong những người nổi tiếng nhất chính là danh tướng Trần Bình Trọng, người “thà làm quỷ đất Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Trong Thế chiến II, người ta còn biết đến kamikaze (thần phong), một loại tấn công cảm tử mà các phi công chiến đấu của Nhật mang đầy thuốc nổ lao vào tàu chiến hoặc máy bay của đối phương…
Cộng thêm những hiểu biết khác về xứ sở Phù Tang, trong suy nghĩ của tôi, dân tộc Yamato (một tên gọi khác của người Nhật) là một trong những dân tộc mà tôi cho rằng đáng kính nể nhất. (Trong số các dân tộc khác là người Do Thái và người… Việt Nam. Người Do Thái phải phiêu bạt gần 2.000 năm mà vẫn luôn hướng về đất tổ của mình và ở đâu họ cũng là những người vượt khó tuyệt vời. Còn người Việt Nam dù trải qua hơn 1.000 năm mất nước vẫn không bị đồng hóa và giành lại được độc lập). Người Nhật sống chơ vơ giữa biển, đất hẹp, người đông, tài nguyên khan hiếm lại thường xuyên gặp thiên tai, vậy mà họ vẫn xây dựng đất nước phát triển như vũ bão, lại để lại cho nhân loại một nền văn hóa vô cùng đặc sắc, không chỉ về văn học, kịch nghệ mà còn cả ẩm thực.
2. Tìm hiểu về Nhật Bản, tôi được biết với đất nước này, hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất là động đấtsóng thần. Các thống kê cho thấy, mỗi năm Nhật Bản phải chịu 7.500 trận động đất, dù hầu hết các trận động đất này quá nhẹ, khó nhận ra, nhưng cũng có những trận động đất rất mạnh. Chẳng hạn, trận động đất 8 độ richter ở Mino – Owari ngày 27-10-1891 đã làm chết gần 7.300 người; trận ở Tango ngày 7-3-1927 mạnh 7,6 độ richter làm chết 3.020 người; trận ở Sanriku mạnh 8,4 độ richter ngày 2-3-1933 làm chết gần 3.000 người. Gần đây nhất là trận động đất Kobe (còn được biết đến với tên gọi “trận đại động đất Hanshin – Awaji”) diễn ra vào ngày 17-1-1995 mạnh 7,3 độ richter, làm 6.434 người thiệt mạng, 300.000 người mất nhà cửa, thiệt hại khoảng 10.000 tỉ yen (chiếm 2,5% GDP của Nhật Bản lúc đó)… Và dĩ nhiên, không thể nào quên “đại thảm họa động đất” mạnh 7,9 độ richter trưa ngày 1-9-1923 ở Kanto làm chết gần 143.000 người. Hồi tôi học môn Quan hệ quốc tế ở đại học, thầy giáo khi giảng về nước Nhật, có nhắc đến sự kiện này và giọng ông chùng lại, cả lớp lặng đi. Trước mắt tôi không phải là cảnh tượng nhà cửa tang hoang, xe cộ ngổn ngang trên đường… như những vụ động đất gần đây mà là những cảnh nhà cháy, những xác chết sạm đen, những khu nhà biến thành bình địa… Những hình ảnh đó theo mãi trong tôi, mỗi khi nghĩ đến động đất ở đâu đó.
Kể từ đó, Nhật Bản đã phải trải qua ít nhất 16 vụ động đất và sóng thần. Nhiều vụ gây thương vong lớn nhưng nhìn chung, người Nhật ứng phó với các tai nạn này với thái độ bình tĩnh, chịu đựng. Như người Việt ta “sống chung với lũ” thì người Nhật họ “sống chung với động đất, sóng thần”. Nhà cửa, các công trình đều được xây dựng có thể chịu được động đất với cường độ cao (một so sánh: nếu các công trình xây dựng ở nước ta có lẽ tan tành nếu có động đất ở mức độ vừa phải!). Người Nhật ngay từ nhỏ đã được dạy đối phó với loại thiên tai này, từ hành động đơn giản nhất là chui xuống gầm bàn cho đến việc tự giải cứu khi tai nạn xảy ra. Có lẽ ngoài những lời khen về sự nỗ lực phi thường của người Nhật trong nhiều lĩnh vực thì chúng ta cũng nên ngã mũ trước tinh thần “sống chung” với thiên tai của họ. Điều này, có lẽ dân miền Trung nước ta có nhiều điểm tương đồng!
3. Cuộc động đất 9,0 độ richter ngày 11-3-2011 tại Đông Bắc nước Nhật đã làm bàng hoàng cả thế giới. Khi xem những hình ảnh trên truyền hình, tôi đã gần như bật khóc. Những ngày sau, tôi liên tục theo dõi các bản tin và hi vọng con số thiệt hại đừng tăng lên… Nhưng có lẽ hậu quả của thảm họa này còn diễn ra thời gian dài sau vụ động đất. Đó là chưa kể những hậu quả chưa lường được của việc rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân.
Dù vậy, tôi tin rằng, vết thương về một trong những tai nạn khủng khiếp nhất trong lịch sử Nhật Bản rồi sẽ chóng qua trong lòng người Nhật, cũng như sẽ sớm được khắc phục, bởi họ đã truyền được tinh thần vượt khó từ đời này qua đời khác. Những hình ảnh lực lượng cứu hộ Nhật kiên trì tìm kiếm người sống nay những nụ cười tìm gặp lại người thân và nhất là những dòng hàng người dài xếp hàng mua xăng dầu, thực phẩm… khiến tất cả chúng ta đều xúc động và khâm phục thái độ tuyệt vời của người Nhật.
Với cách ứng phó, cùng tinh thần “sống chung” lâu nay của người Nhật, tôi tin rằng hoa anh đào vẫn nở tươi thắm ở xứ sở mặt trời, núi Phú Sĩ vẫn tươi nguyên ở phía xa. Nước Nhật, người Nhật sẽ sớm vượt qua đại họa này, đồng thời sẽ ghi thêm vào lịch sử một bài học về tinh thần ngoan cường chống chọi với thảm họa tự nhiên.
Tất cả những điều đó đều khiến chúng ta nghiêng mình kính cẩn và cần phải chân thành học tập!

Bài thơ

NGÀY MỚI
Tặng M.

Tôi bắt đầu một ngày mới
Khi nghe chuông đồng hồ báo thức
Hối hả dậy
Đánh răng rửa mặt
Cất tiếng gọi “con ơi”
Xốc cô công chúa còn ưa ngủ nướng
Nghe bản tin đầu ngày
Trong lúc thay quần áo cho con
Không kịp hiểu điều gì bên ngoài
Hối hả dắt xe
Đi làm
Không sợ trễ giờ, chỉ sợ kẹt xe!

Nàng bắt đầu một ngày mới
Mở Yahoo! Messenger
Coi có thư ai trong lúc offline
Gửi lời chào vài người bạn
Trong lúc đánh răng rửa mặt
Trong lúc chải đầu, make-up
Tranh thủ lướt web
Đọc vài dòng thời sự
Ghé lại mấy món thời trang
Đi ăn sáng
Không sợ trễ giờ
Chỉ lo có người phải đợi.

Ngày nào tôi cũng vậy
Nàng ngày nào cũng thế
Lúc tôi online thì nàng vừa thức dậy
Gửi nhau câu chào.

Không có gì hấp dẫn
Không có gì sôi động
Thế giới bên ngoài vẫn ồn ào
Người ta vẫn không ngừng mơ mộng.

Tôi ước chi đường xe không ùn tắc
Đi muộn thêm vài phút
Xem kịp bản tin thể thao
Con gái xem kịp đoạn hoạt hình
Vợ tôi kịp nấu gói mì ăn sáng
(nhưng không thể dậy sớm
Đêm qua ngủ muộn lắm rồi
Bài vở viết chưa xong
Thêm những tập phim hấp dẫn)
- Ước chi chẳng còn cảnh kẹt xe…

Tôi ước chi có thời giờ mơ mộng
Đi đường thảnh thơi nhìn ngắm
Những tà áo hồng xanh
Không phải chạy xe bạt mạng
Không phải lo va quẹt dọc đường
Không phải nhịn đói đến cơ quan
Còn kịp gửi thư cho nàng lúc offline
Vẫn một câu: “Chàng buổi sáo!
(*)

Ôi, mơ mộng, tôi vẫn mơ mộng
Dù đôi lúc tôi không biết mình đang mơ mộng!
(*) Chào buổi sáng (nói lái)
Sài Gòn, 2007

Bài sưu tầm

Có hai con gái hạnh phúc nhất


Có hai con gái là chìa khóa để có được một gia đình hạnh phúc và hòa thuận, một khảo sát vừa khẳng định.
Các nhà nghiên cứu đưa đến kết luận trên sau khi xem xét cuộc sống của các gia đình có hình thái khác nhau: Có cả trai lẫn gái, chỉ có con gái hoặc chỉ có con trai.
Phát hiện cho thấy hai cô con gái khiến cho cuộc sống "dễ thở" hơn bởi chúng ít khi đánh nhau, hiếm khi làm phiền lòng cha mẹ và ít gây ồn ào.
Tuy nhiên, theo Telegraph, nếu có đến 4 cô, bạn có thể phải cậy nhờ đến nút bịt tai để bớt nhức đầu.
"Càng có nhiều con gái, chúng càng trở nên khó chịu", Faye Mingo, phát ngôn viên của trang web bounty.com (trang web đã tiến hành khảo sát này) nhận định. "Thực tế từ 2 đến 4 cô con gái dường như đẩy cha mẹ họ từ thái cực này sang thái cực khác - trong khi số con trai nếu có gấp đôi lên thì hầu như không ảnh hưởng gì".
Cuộc khảo sát thực hiện trên 2.116 ông bố bà mẹ và những đứa con từ 16 tuổi trở xuống. Phát hiện của họ là nhà có hai cô con gái thì có ưu điểm trong mọi lĩnh vực, từ giúp đỡ việc nhà đến yêu mến lẫn nhau.
Mô hình gia đình thuận lợi kế tiếp là nhà có một trai và một gái, với 86% các bậc cha mẹ khẳng định chúng hiếm khi tranh cãi nhau về đồ chơi và có thể thỏa thuận dễ dàng. Nhược điểm duy nhất là hai đứa con này lớn lên sẽ thiếu những quan tâm chung.
Mô hình đứng thứ ba là gia đình có hai con trai. Cha mẹ của các cặp con trai cho biết chúng thường chơi với nhau và trở thành những người bạn tốt suốt thời thơ ấu. Đây cũng là điều thoải mái cho cha mẹ. Tuy nhiên, cha mẹ có thể thấy các cậu con trai này hiếm khi giãi bày tâm sự với họ khi trưởng thành.
Những cấu trúc gia đình gặp khó khăn khác là có 2 trai 2 gái, ba gái một trai hoặc ba trai một gái.
"Các bậc cha mẹ thường kỳ vọng có cả nếp lẫn tẻ sẽ khiến gia đình trở nên hoàn hảo. Nhưng tự nhiên không chiều theo ý của tất cả chúng ta. Hãy đảm bảo bạn dành thời gian cho các con và nhắc nhở chúng về sự may mắn có anh chị em có thể giúp mọi người trong gia đình hạnh phúc cùng nhau", Faye nói.


Theo http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/04/co-hai-con-gai-hanh-phuc-nhat/

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Bài sưu tầm

Ứng viên Quốc hội khóa XIII, nhìn từ những con số

100% ủy viên Bộ Chính trị, 16/27 thành viên Chính phủ tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (nhiệm kỳ 2011 – 2016).

Đây là một vài con số từ danh sách chính thức những người ứng cử vào Quốc hội khóa tới, vừa được thống nhất tại hội nghị hiệp thương lần thứ ba của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cấp Trung ương và cấp tỉnh. Theo luật định, hạn chót để tổ chức hội nghị này là ngày 17-4, vì vậy các con số tổng hợp cuối cùng về danh sách ứng cử viên có thể một vài ngày nữa mới được công bố. Song, cũng đã có khá nhiều thông tin đáng chú ý từ các hội nghị đã được tổ chức.

Theo Nghị quyết số 1045 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tổng số đại biểu Quốc hội khóa XIII không quá 500 người. Cả nước được chia thành 183 đơn vị bầu cử với tổng số đại biểu Quốc hội được bầu là 494 người. Trong đó Hà Nội và Tp.HCM có số lượng được bầu nhiều nhất với 30 đại biểu. Tuy đa số thống nhất là không giới thiệu số dư, song khi chốt danh sách ứng cử viên do các cơ quan Trung ương giới thiệu, Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn quyết định đưa 1 ứng cử viên ra khỏi danh sách. Trong số 182 ứng viên vào vòng cuối, có 11 người thuộc các cơ quan của Đảng (chiếm 6,04%); cơ quan Chủ tịch nước có 3 người (chiếm 1,64%); 20 người thuộc Chính phủ (chiếm 10,98%); lực lượng vũ trang có 16 người (chiếm 8,79%), khối tư pháp có 2 người (chiếm 1,09%); 30 người thuộc mặt trận và các tổ chức thành viên (16,48%). Chiếm 54,9% với 100 ứng cử viên là khối đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan Quốc hội. Nằm trong danh sách 182 ứng cử viên ở Trung ương có 12 vị Ủy viên Bộ Chính trị. Hai vị còn lại là Bí thư Thành ủy Tp.HCM và Hà Nội cũng đều được các địa phương này giới thiệu. Như vậy, 100% các vị Ủy viên Bộ chính trị đã ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa mới.Bên cạnh 14 vị ủy viên Bộ Chính trị, còn có gần 50 vị là ủy viên Trung ương Đảng trong danh sách được Trung ương giới thiệu. Và ở rất nhiều tỉnh, thành phố, các vị bí thư tỉnh ủy (là ủy viên Trung ương Đảng) cũng được giới thiệu ứng cử.

Về phía cơ quan hành pháp, với sự có mặt của Thủ tướng, ba phó thủ tướng cùng 12 vị mang hàm bộ trưởng, 16/27 thành viên Chính phủ đương nhiệm đã tham gia ứng cử làm đại biểu của dân. 9 vị thứ trưởng của các bộ Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Nội vụ cũng tham gia ứng cử.

Một trong những điều kiện quan trọng của các ứng cử viên là phải được sự tín nhiệm của cử tri nơi công tác và nơi cư trú.Với ứng cử viên Trung ương, kết quả lấy ý kiến cử tri nơi cư trú của 183 người (sau hiệp thương lần 2) cho thấy có 179 người được tín nhiệm 100%; 4 người đạt tín nhiệm từ 84% đến dưới 100%.

Hội đồng bầu cử cũng chỉ nhận được 1 đơn duy nhất kiến nghị về 1 ứng cử viên đang là đại biểu Quốc hội chuyên trách và đã giải quyết.

Với các ứng cử viên địa phương, trong tổng số 903 người có 824 người được cử tri nơi cư trú tín nhiệm 100%; 36 người được tín nhiệm từ 50% đến dưới 100%. 37 ứng viên không đạt 50% phiếu thuận tại hội nghị cử tri. Trong số này có 3 ứng viên chỉ đạt chỉ số tín nhiệm chưa đến 10%. Đặc biệt, có 1 vị tại Thừa Thiên - Huế chỉ đạt 1,24%.

Trong quá trình chuẩn bị bầu cử, thông tin về những người tự ứng cử luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri. Khi Quốc hội khóa XII chỉ duy nhất 1 người tự ứng cử trúng cử.

Có một sự trùng hợp là trong danh sách chính thức của cả Hà Nội và Tp.HCM đều có 4 người tự ứng cử.

Tổng hợp kết quả lấy phiếu tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với các ứng viên tại địa phương cho thấy có trên 20/63 tỉnh, thành có người tự ứng cử. Hà Nội dẫn đầu với 30 người, Tp.HCM 22 người, Nghệ An 5 người, còn lại mỗi nơi chỉ có từ 1 đến 2 người tự ứng cử. Tuy nhiên, một số người đã tự rút đơn nên không lấy phiếu tín nhiệm. Riêng Hà Tĩnh đã có 2 người tự ứng cử lọt vào danh sách chính thức (theo TTXVN).

Bên cạnh các con số, diễn biến tại các hội nghị hiệp thương lần ba cũng cung cấp một số thông tin đáng chú ý khác. Như hình thức biểu quyết, trong khi Tp.HCM biểu quyết bằng phiếu kín thì hội nghị của Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiều tỉnh, thành khác chọn hình thức giơ tay.

Thông tin trên trang web về “Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016” của Hội đồng Bầu cử Trung ương cũng cho biết, tại Hòa Bình dù được 100% cử tri nơi cư trú tín nhiệm vẫn có hai người xin rút không tham gia ứng cử, với lý do không đủ năng lực và điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người đại biểu dân cử. Hà Nội cũng có đến 7 ứng cử viên xin rút, và 11 vị 11 ứng cử viên không chấp hành chính sách pháp luật và các quy định bầu cử được đưa ra khỏi danh sách để bầu.

Về cơ cấu, thành phần, Trưởng ban Công tác đại biểu, Tổng thư ký Hội đồng Bầu cử Trung ương Phạm Minh Tuyên cho biết, qua kết quả sơ bộ về hiệp thương lần 3 về cơ bản là đảm bảo yêu cầu. Đó là tỷ lệ người ngoài Đảng khoảng 15 đến 20%, phụ nữ khoảng 30%, người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) khoảng 30%, tái cử khoảng 40%...

Tại hội nghị hiệp thương lần 3, trước khi giơ tay biểu quyết, một số vị trong Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn tỏ ra băn khoăn về thông tin của các ứng viên quá sơ lược. Ông Tuyên giải thích, việc xem xét tư cách người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII chưa phải là đã kết thúc sau hội nghị này. Nếu sau này còn phát hiện sai sót đối với người ứng cử thì Hội đồng bầu cử Trung ương tiếp tục xem xét để đưa ra phương án xử lý đúng luật định. "Thậm chí, nếu người ứng cử đã trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII mà sau đó phát hiện có vi phạm vào một trong 5 tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội thì kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII sẽ tiếp tục xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật," ông Tuyên khẳng định.

Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam, ngày 18-4-2011

Bài sưu tầm

Đẳng cấp trí thức của mấy người ăn theo GS. Ngô Bảo Châu

(Theo chungta ngày 16-4-2011)


Giáo sư Ngô Bảo Châu đã chính thức nhận giải Fields quốc tế, giải cao nhất giành cho toán học, đây cũng là giải cao nhất mà chưa người Việt nào đã từng nhận được, một giải thưởng cho đến nay với người Việt là độc nhất vô nhị. Như vậy GS Châu là một người trí thức có công trình siêu việt và đã thành công và được quốc tế công nhận. Giáo sư đã học được và làm được, chứ không phải trí thức như triết gia Kant nói “có trí thức mà không có khả năng phán đoán thì chỉ là vô dụng”. Sự thành công của giáo sư ở đẳng cấp quốc tế cao nhất thừa nhận, như vậy rõ ràng ông đã trở thành một quí ông rất đáng được kính trọng ít nhất là về mặt tri thức.
Có một định nghĩa về trí thức của thời đại mới là: Học nhiều mà không có tâm cảm tiến bộ thì không thể là trí thức. Tại sao? Bởi vì đó chỉ là bọn hủ nho lọ mọ xếp ngăn kéo chữ, vô ích, vô tích sự với người đời. Với giáo sư Ngô Bảo Châu, khi thấy dân tộc có một vụ án lớn nhất thời hiện đại, mặc dù ông là một nhà toán học thuần khiết, vậy mà ông đã lên tiếng, chứng tỏ ông rất có trách nhiệm với quê hương giống nòi. Ông là người trí thức lớn cả trong lý thuyết và cuộc đời công dân.
Với thành công được quốc tế công nhận, GS. Châu hoàn toàn xứng đáng là một bậc thầy của dân tộc. Vì vậy khi muốn tham vấn ông, hơn thế là một chút muốn đối thoại, thấp hơn là chia sẻ hay trao đổi, chúng ta nên tự biết mình là đang kiến diện một bậc thầy. Và buộc phải tôn trọng ông như một bậc thầy. Ông là một đẳng cấp cao, không thể như cành lá bên đường ta cứ muốn hái là với. Có một phương ngôn rằng “Văn hóa cao nhất là biết chấp nhận người khác”. Đúng vậy, chấp nhận người khác là biết vượt qua đố kỵ, đặc biệt là đố kỵ hiền tài. Vì thế khi ta biết đặt người khác và chính bản thân mình vào đúng chỗ đó là một khả năng văn hóa.
Vừa qua sau bài rất ngắn của GS Châu có nhan đề “Về sự sợ hãi”, đã ào ào nổi lên những bài viết những comment “ăn theo” phiền nhiễu đến độ, giáo sư đi đến đóng blog. Thật là không chính đáng! Nó làm cho chúng ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Du “đầu trâu mặt ngựa ào ào như xôi”. Giờ tôi xin trao đổi thẳng thắn vào mấy điểm:
1- Có ý kiến bảo GS N B Châu là sặc mùi cơ hội.
Nghe thật buồn cười, giáo sư là người theo đuổi khoa học trong sáng và thuần khiết thì mới có thể đạt giải Fields. Vả lại, người ta cơ hội thì phải có mục đích của mình, các đỉnh cao giáo sư đã giành được ở quốc tế rồi, Việt Nam chẳng lẽ còn đỉnh cao nào mà giáo sư phải cơ hội để giành giật ư?!
2- Có người lại bảo nếu sợ hãi thì ai là người “sợ hãi”, hay chính GS Châu đang sợ hãi?Than ôi trong câu “Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ”, chủ ngữ và vị ngữ rất mạch lạc và rõ ràng rồi, tại sao lại có thể hỏi chệch đi là “ai sợ hãi?” Muốn bước vào học viện trí tuệ mà còn ú ớ đến vậy làm sao khua môi múa mép được?
3- Có người bảo GS Châu nói Cù Huy Hà Vũ nói có điểm chưa thuyết phục, sao không chứng minh đi!Nói vậy là không được, trong một thông điệp “message” có hơn hai trăm từ, không thể đòi người ta chứng minh tất cả những gì không thuyết phục. Vả lại, chứng minh điều đó không phải là mục đích của thông điệp này.
4- Có người nói, GS Châu nói vụ án là cẩu thả, nhưng vụ án đã được người ta lập kế hoạch tỉ mỉ đến từng chi tiết.Nói thế là đánh lận con đen chẳng hiểu gì cả. Sự “cẩu thả” mà GS nói ở đây là cẩu thả về mặt pháp lý, cẩu thả những thủ tục tố tụng của tòa, chứ không phải sự cẩu thả bếp núc của những người đánh án bỏ túi.Về bài của GS Ngô Bảo Châu, tôi thấy thật hoàn hảo, tuy ngắn mà đầy đủ, đề cập đến tất cả những điểm hệ trọng nhất của pháp lý cũng như tình cảm dân tộc. Nó đã đưa được ra hai thông điệp chính:
a- “Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.” Có rất ít người có thể hiểu được hai chữ “cẩu thả” ở đây. Cẩu thả có nghĩa là tùy tiện, cũng có nghĩa là cảm tính, nó đi ngược với đạo lý, công lý, hay nguyên lý thiện hảo, cái cội nguồn làm nên pháp lý. Vậy, chữ mà GS Châu dùng ở đây, rõ ràng ông rất tỏ tường thấu đáo vấn đề.
b- “Đối diện với ông Vũ là những người bắt ông bằng hai bao cao su đã qua sử dụng, là phiên tòa nửa công khai, nửa bí mật xảy ra ngày hôm qua và là ông quan tòa từ chối thực hiện thủ tục tố tụng để tránh tranh luận về nội dung những bài viết, chứng cớ về những việc được cho là vi phạm pháp luật của ông Vũ. Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”. Thật rõ ràng, quốc gia nghĩa là pháp luật, trong khi người làm luật nếu không tôn trọng pháp luật thì hẳn sẽ mất thể diện.
Trong một bài ngắn, GS. Châu đã đưa ra mấy thông điệp hết sức rõ ràng, rõ ràng cả về thái độ chân thực, rõ ràng về tính pháp lý, rõ ràng về phẩm chất trí tuệ. Một bài viết hàm súc mà chứa đựng nhiều thông điệp lớn rõ ràng như vậy có thể chưa từng thấy trong lịch sử chữ viết Việt Nam (mời quí vị đề cử để chúng ta cùng xem xét). Quả là cây nào sinh trái ấy! Xứng đáng thay một trí tuệ hiền minh khoa học chứ không phải thứ trí tuệ hủ nho u u minh minh.
Ở Âu Mỹ, người ta vẫn tổ chức cho những người tầm thường đấu quyền anh với các võ sĩ hạng nặng để xem anh chịu đựng được mấy giây, mấy trái đấm, nhưng không có nghĩa là người đấu vô danh đó ngang bằng đẳng cấp với võ sĩ. Trí thức Việt Nam ngày nay, vẫn được các chính khách và nhân dân đánh giá nói chung là không có óc tư duy độc lập, hay a dua đua đòi, là thứ không đáng phải bận tâm vì chẳng có bản lĩnh làm được cái gì lớn cả… Qua cuộc đeo bám bài viết của GS. Châu mới đây, có nhiều cây bút và comments (cái tên thật không dám trưng vậy mà cứ đòi lớn tiếng bàn về lòng dũng cảm, chẳng khác gì chuột bàn đeo chuông vào cổ mèo), thêm một lần chứng tỏ, trí thức Việt vẫn quen kiểu ăn theo nói leo, còn “dại lâu dốt bền” quá. Những hạt bụi có thể bám lên cánh của con đại bàng, nhưng sau đó không thể tuyên ngôn ta đã cùng bay lên và hạ xuống cùng cánh đại bàng, bởi vì khi nước mưa rơi xuống, bụi cũng rơi xuống theo, còn cánh đại bàng vẫn còn nguyên đó.
Nguyễn Hoàng Đức
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luan-Ly/Dang_cap_tri_thuc_may_nguoi_an_theo_Ngo_Bao_Chau

Bài sưu tầm

Nhảy vào hôi của vì thiếu lòng tin?

(Bài trên Sài Gòn Tiếp thị, 19-40-2011)



Hình ảnh lợi dụng tình cảnh ngặt nghèo của người khác để chiếm đoạt tài sản (cướp bia, dưa hấu...) được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, gây bất bình trong dư luận. Hành động này xảy ra, đơn giản vì thiếu lòng tin. Nếu không ai tin ai, thì chuẩn mực sẽ bị xếp xó.
Một chiếc xe tải chở dưa hấu bị tai nạn lật ngang, khiến dưa bị rơi vãi tung toé trên đường. Người đi đường xúm lại, nhưng không phải để giúp đỡ người lái xe gặp nạn, mà để tranh thủ nhặt dưa mang về nhà làm của riêng.
Hình ảnh lợi dụng tình cảnh ngặt nghèo của người khác để chiếm đoạt tài sản được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, gây bất bình trong dư luận. Đáng nói nữa, đây không phải là lần đầu sự việc loại này xảy ra: cách nay không lâu và cách nơi đó cũng không xa, một chiếc xe tải chở bia gặp nạn làm nhiều thùng bia văng tứ tung, đã tạo cơ hội cho nhiều người có bia uống thoải mái mà không phải trả tiền.
Hiện tượng số đông đi “hôi của” được lặp đi lặp lại tất yếu sẽ làm hình thành định kiến xấu của dư luận về một nhóm người, một cộng đồng. Nhiều ý kiến bày tỏ nỗi hổ thẹn trước sự bộc lộ tính cách thấp kém của những người được gọi là đồng bào, đặc biệt trong bối cảnh những tấm gương về tinh thần tương trợ, tình đoàn kết và ý thức sẻ chia trong hoạn nạn của người Nhật được phổ biến rộng rãi.
Thấy người gặp nạn không ứng cứu thì thôi, lại còn khai thác điều kiện khó khăn của người ta để trục lợi cho bản thân, thì đúng là không thể chấp nhận. Hành vi đó rất sai, đáng lên án, tẩy chay.
Song, thử bỏ qua một bên các khía cạnh phân tích xã hội, pháp lý hoặc đạo đức đối với hành vi, thì còn lại một góc nhìn cho phép nhận ra một điều quá đơn giản: người ta nhặt dưa, bia về để ăn, uống hoặc để bán lấy tiền, nói chung là để đáp ứng các nhu cầu cho cuộc sống của mình.
Suy cho cùng, mỗi hành vi có ý thức của con người, kể cả việc làm bậy, đều được thực hiện dưới sự thôi thúc của lợi ích. Con người ta, theo đúng bản năng, muốn lấy bất kỳ thứ gì mình thích và muốn thụ hưởng mọi thứ theo ý mình.
Trong xã hội nguyên sơ, để thoả mãn mong muốn cá nhân trong điều kiện có những cá thể cùng quan tâm chiếm giữ một thứ gì đó, thì tất nhiên phải có sự tranh giành và ai mạnh hơn thì thắng. Chính trong quá trình vươn lên từ sự mông muội, con người mới dần dần nhận ra sự cần thiết của việc tổ chức phân phối lợi ích cho phép mỗi người thoả mãn hợp lý các nhu cầu mà không cần phải loại trừ nhau bằng vũ lực.
Hệ thống quy ước xã hội ra đời như là kết quả của các nỗ lực dung hoà giữa các lợi ích đối lập nhằm đạt được mục tiêu đó. Tuỳ theo nguồn gốc hình thành, tính chất, mức độ ràng buộc. Các quy ước mang những tên gọi khác nhau, như thói quen của cộng đồng, phong tục, tập quán hay luật pháp. Độ chặt chẽ, tinh vi và hữu hiệu của các quy ước xã hội là căn cứ chủ yếu để đánh giá trình độ tổ chức, trình độ văn minh của xã hội đó.
Thực ra, quy ước xã hội tự nó không phải là chất liệu kết dính con người trong các mối quan hệ xã hội đa dạng. Để việc theo đuổi lợi ích trong không gian chung được thực hiện bằng hành vi ứng xử đúng mực và trên căn bản tự nguyện, trước hết con người phải chấp nhận nhau, cho phép cùng nhau tồn tại và thừa nhận năng lực, giá trị của nhau cũng như sự cần thiết đối với nhau. Sự chấp nhận, cho phép, thừa nhận đó là biểu hiện của cái được gọi là lòng tin.
Nhờ có lòng tin mà trong trường hợp có nhiều người cùng quan tâm tìm kiếm một lợi ích, người ta có đủ kiên nhẫn chờ đợi đến lượt mình. Nó lý giải việc những nạn nhân động đất và sóng thần tự nguyện xếp hàng nhận lương thực trong vòng trật tự. Nó cũng giúp người ta hiểu tại sao có em bé (người Nhật) đã từ chối nhận phần bánh mì trước những người lớn tuổi: đơn giản, em tin chắc rằng mình sẽ không bị bỏ đói, bỏ rơi.
Cả việc thực thi pháp luật, muốn đạt được kết quả tốt nhất, ổn định nhất, cũng phải dựa chủ yếu vào lòng tin, chứ không phải vào sự cưỡng chế của bộ máy nhà nước. Niềm tin đối với sức mạnh của luật thể hiện thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật và ý thức phê phán đối với hành vi vi phạm pháp luật.
Nếu không ai tin ai, thì chuẩn mực sẽ bị xếp xó. Khi dó, theo đúng quy luật tự nhiên hoang sơ “ mạnh được, yếu thua”, mọi người sẽ xông lên phía trước để giành thế thượng phong trong quá trình tìm kiếm lợi ích. Người ta sẽ giẫm đạp nhau ở nơi công cộng để mua vé, mua bánh mì, sẽ giành đường bằng mọi cách, kể cả lấn làn, vượt đèn đỏ, leo lên lề, cũng như sẽ tìm cách thu gom của cải nhiều nhất về cho mình để phòng hậu hoạn. Với kiểu sống đó, thì ai chậm chân đến sau sẽ chẳng còn gì mà hưởng.
Tóm lại, lòng tin hỗ tương, chứ không phải là thứ gì khác, là cái thúc đẩy con người ta tìm đến nhau, dựa vào nhau để sống và mưu cầu hạnh phúc trong không gian chung trên cơ sở tuân thủ một hệ thống chuẩn mực chung.
Là người chịu trách nhiệm tổ chức cuộc sống xã hội, nhà chức trách, nhà quản lý phải là người đi đầu trong việc xây dựng và củng cố lòng tin đó, trước hết bằng cách tỏ ra mẫu mực trong việc tôn trọng các chuẩn mực được xã hội đề ra, cũng như trong việc xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm pháp luật.
Tấm gương của người nắm quyền lực sẽ tạo sức mạnh cổ vũ để toàn xã hội làm theo.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện


Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Tạp bút

TỜ RƠI Ở NGÃ TƯ


Có lẽ không ai biết chính xác từ khi nào thành phố ta có những người đứng tại các ngã tư để phát tờ rơi quảng cáo. Đó là một công việc nghiêm túc, đứng đắn của không ít bạn trẻ tranh thủ giờ nghỉ để kiếm thêm thu nhập trang trải việc học. Đó cũng có thể là một hình thức quảng cáo đơn giản, rẻ tiền và chính đáng của một số doanh nghiệp chưa có điều kiện tiếp cận các hình thức quảng cáo khác trên báo, trên truyền hình, trên internet… Thế nhưng không phải tất cả mọi người đều ủng hộ tờ rơi. Người phát tờ rơi thường gây ra sự ái ngại, lo lắng, thậm chí là tội nghiệp, khi phải len mình giữa dòng xe cộ đông nghịt tại ngã tư vào giờ cao điểm. Bởi vậy họ có thể là một trong những nguyên nhân gây tình trạng kẹt xe hoặc các vụ va quẹt. Nhưng đáng nói nhất là tình trạng xả rác vô tội vạ tại các giao lộ có người đứng phát tờ rơi. Rác và tờ rơi. Có một mối liên hệ giữa hai thực thể này. Tờ rơi là rác. Tờ rơi từ tay người phát qua tay người nhận và chỉ trong tích tắc nó đã trở thành rác. Thế là nhiều người đổ tội cho những người phát tờ rơi là nguyên nhân gây ra tình trạng xả rác bừa bãi. Bởi vậy, có khi, ai đó (lực lượng trật tự đô thị chẳng hạn) đã ngăn cản các bạn trẻ đứng phát tờ quảng cáo. Vì lý do ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và cả vệ sinh đô thị. Lý do nào cũng có vẻ chính đáng, bởi không có cái người đứng đường này thì chắc không đến đỗi có kẹt xe, có rác… Hình như có sự thiếu trách nhiệm khi quy kết mọi nguyên nhân cho người phát tờ rơi. Nếu người đi đường đừng nhận tờ quảng cáo và nếu đã nhận thì đừng vứt xuống đường thì chắc không đến đỗi có rác nhiều như vậy. Nếu người đi đường chú ý giữ trật tự hơn, biết nhường nhịn nhau và đừng có chen lấn thì chắc không đến đỗi có ùn tắc giao thông. Vân vân… Không chỉ vậy, ở nhiều chỗ khác, không có người phát tờ rơi cũng vẫn có rác, cũng vẫn có kẹt xe. Hóa ra, cái ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường và nghiêm chỉnh chấp hành luật đi đường của một bộ phận người dân còn hạn chế nhưng cái khả năng “đổ thừa” cho người khác của một số người lại không kém chút nào! Thật oan cho tờ rơi! Một chiều mưa nào đó hoặc một buổi trưa bất kỳ nắng đổ chang chang, có một người trân mình kiên nhẫn phát những tờ rơi. Hãy nhận cho bạn ấy một tờ để giúp chồng tờ rơi vơi nhanh. Xin đừng đọc vội vì bạn đang đi đường mà, chỉ nên tập trung lái xe thôi. Và vì vậy, cũng không nên vứt ngay, biết đâu nó lại có ích cho bạn. Hãy để dành về nhà đọc; nếu không có ích hãy cho vào thùng rác, chứ đừng tiện tay vứt đâu đó… Ứng xử với tờ rơi thực ra cũng là một biểu hiện ứng xử với môi trường, với nếp sống văn minh, trên hết là ứng xử giữa người với người. Vì vậy hãy ứng xử sao cho có văn hóa.