Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Tạp bút

NHỮNG MÙA HÈ NGÀY THƠ

Mùa mưa ở miền Tây thường bắt đầu vào đầu mùa hạ. Những ngày đó, đám trẻ chúng tôi nôn nao chuẩn bị nghỉ hè. Tiếng ve ngân rộn rã trong bầu trời đã dịu bớt bởi những đám mưa đầu mùa điểm tô cho những chùm phượng vĩ đỏ rực hơn. Ít bữa nữa, thi học kỳ xong, chờ tổng kết năm học, chúng tôi sẽ được nghỉ ở nhà…
Mưa rồi, con đường đầy cát ngày nào giờ mát rượi dưới bàn chân trần chúng tôi. Những rặng tre, bụi duối, hàng gòn… che bóng làm không khí thật dễ chịu. Những chiếc xe đạp cót két ngày nào hay “mắc lầy” ở những vũng cát thì bây giờ có thể chạy bon bon. Trên đường đến trường, đám trẻ chúng tôi thỉnh thoảng tạt vào “thăm” những gốc khế, gốc xoài, gốc me để tìm những trái rụng. Chỉ rửa sơ qua nước giếng chỗ nào đó, bọn trẻ liền nhai rao ráo, cho thỏa mãn sự thèm thuồng ngày nào…
Những bữa đi học cuối cùng, đám trẻ rộn ràng hơn; chúng tôi ồn ào với các thứ hạng, thường “bàn” đứa nào sẽ “lật đổ” được đứa đã đứng nhất hồi học kỳ một, về phần thưởng là mấy quyển vở trắng… Chúng tôi cũng nói nhiều đến những việc làm trong hè. Trẻ con nông thôn chẳng có đứa nào biết đến việc đi chơi xa, đi thăm bà con hay làm việc gì đó cho đúng với ý nghĩa nghỉ hè. Chỉ có vài đứa học thêm. Còn lại vẫn hào hứng với những trò chơi dân dã mà ngày thường ít có điều kiện để chơi, như thả diều, bắn bi, mổ (đánh) đáo, đánh trỏng (hòn)…
Nghỉ hè, thực ra không nghỉ ngơi chút nào. Đám trẻ chúng tôi hầu hết đều “có việc làm”. Dĩ nhiên làm nhiều hơn ngày thường. Như tôi, hết giữ vịt thì đi bắt cá, câu cua; nhiều khi vừa canh bầy vịt đẻ để lượm cho hết những trứng vịt đẻ đồng còn vừa bắt cá, bắt chình. Đặc biệt, với cá chình, hồi mới hơn 10 tuổi, có những buổi gặp may tôi bắt được hơn 2 ký (dĩ nhiên hồi đó tôm cá nói chung còn nhiều); những con to để ăn, còn những con nhỏ thì làm mồi câu cua.
Tôi câu cua bằng một cần tre dài chừng 1,2m, nối một sợi dây dài gần 1,5m có cột một hòn đất nung bằng nắm tay trẻ con, móc vào một sợi kẽm để cột mồi. Tôi thường cắm chừng 30 cần dọc các bờ kinh gần nhà, cắm xong thì trở lại thăm, thấy dây cần nào căng tức là đã có cua ăn. Tôi nhẹ nhàng nhổ cần và từ từ kéo lên, chừng nào thấy con cua thì thò vợt vớt lên. Ấy vậy mà cũng lắm khi vợt hụt để con cua sẩy mất hoặc đã vợt được rồi khi đè trói bằng lạt dừa nước thì bị cua kẹp, trân mình chịu trận cho đến khi nó bỏ càng hoặc tự nhả ra thì thôi! Nước đầy, tôi dời dần các cần câu lên ruộng cho đến khi nước ròng mới về.
Tôi còn trông hai đứa em cũng vừa đi giữ vịt vừa bắt còng cho vịt ăn. Hai đứa nhỏ, một gái một trai, mới năm sáu tuổi đã theo anh ra đồng. Mỗi đứa đeo một cái bao tay bằng vải dày để chộp lấy những con còng bị chẹn hang phải trồi lên mặt ruộng. Đứa nào không thích bắt thì kéo cái thùng thiếc theo tôi. Khi ngồi bệt xuống bùn, đứa nào cũng thấp tè như cái thùng…
Đầu mùa mưa, ruộng nhiều nơi nứt hoác, nước kinh thì còn trong, mằn mặn. Cuối buổi thế nào cũng có màn chạy thi trên ruộng hoặc chơi cút bắt dưới kinh. Đám trẻ đứa nào cũng ốm nhom, đen nhẻm nhưng rắn chắc, khỏe mạnh chạy thoăn thoắt trên ruộng hoặc bơi như rái dưới kinh, thoắt trồi thoắt lặn, khiến nhiều người lớn mới đi qua đây lần đầu phát hoảng vì tưởng có đứa bị té xuống kinh!
Còn tôi, thích nhất là long mình dưới kinh đọc vang vang những bài tập đọc, những bài thơ đã học hoặc một đoạn nào đó trong sách mới đọc. Tiếng đọc bị hai bờ kinh vọng lại nghe thật lạ. Tôi rất thích đoạn văn này: "...Mưa rả rích đêm ngày. Mưa tối tăm mặt mũi. Mưa thối đất thối cát. Trận này chưa qua, trận khác đã tới, ráo riết, hung tợn hơn. Tưởng như biển có bao nhiêu nước, trời hút lên đổ hết xuống đất liền..." Đọc đi đọc lại mãi nên suốt mấy chục năm qua tôi vẫn còn nhớ, dù đã quên mất tên bài, của tác giả nào và ở lớp mấy! Suốt hè, anh em chúng tôi không đi học thêm. Năm nào may thì mua hoặc mượn được sách giáo khoa thì có sách để học, còn không thì hầu như bỏ cả việc học. Chúng tôi chỉ có những cuốn sách cũ mà ba tôi mua được, rồi đọc tới đọc lui…
Hết hè, đám trẻ chúng tôi càng đen hơn, tóc càng hoe hơn nhưng có lẽ đứa nào cũng lớn lên một chút, rắn rỏi thêm một chút, được việc thêm một chút. Bởi vì chúng tôi đã có những ngày hè làm việc đỡ đần cho gia đình mà được chơi những trò chơi vận động bổ ích.
Những ngày hè đó, tôi không thể nào quên.

Bài đã đăng Báo Phụ nữ ngày 9-5-2011

Tạp bút

NƯỚC ĐỒNG NAI…

Dân gian có câu: “Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai”. Các nhà nghiên cứu cho rằng, từ trước năm 1820 (năm ra đời Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức), người dân Gia Định (mà cũng là miền Nam) đã sử dụng câu này. Theo Trịnh Hoài Đức, nước sông Đồng Nai nổi danh mát, sạch, ngon, ngọt, nếu dùng nấu pha trà thì ở Nam bộ không nơi nào sánh bằng. Mà Đồng Nai cũng nên hiểu là vùng miền Đông nói chung. Còn về thức ăn, gạo ở huyện Cần Đước là ngon nhất. Ở Long An có hàng chục loại gạo bắt đầu bằng từ nàng: nàng chò, nàng co, nàng hương, nàng minh, nàng quất, nàng rẫy, nàng rừng, nàng sóc, nàng thơm, nàng tri… Trong các loại lúa trên thì nàng thơm ở chợ Đào là nổi tiếng nhất. Chợ Đào là một chợ nhỏ nằm bên con kênh đào ăn thông với kênh Xóm Bồ chảy qua xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước (tỉnh Long An)…
Hồi nhỏ, gia đình tôi sống ở Đồng Nai. Nơi đó khá xa sông Đồng Nai nên trong suy nghĩ của tôi, “nước Đồng Nai” có thể chỉ nước nói chung, chứ không nhất thiết là nước sông. Nhưng quả thật, nước giếng Đồng Nai rất trong, ngọt và mát. Các mạch nước ngầm nằm sâu dưới các tầng đá cổ, các lớp đất badan nên có sự tinh khiết…
Nhưng điều làm tôi nhớ nhất là sự khan hiếm nước vào mùa khô. Ở vùng cao nguyên, trừ những chỗ gần sông, gần suối, còn lại thì không thể tìm được nguồn nước sạch. Tôi vẫn nhớ như in những buổi theo người lớn đi thồ nước ở các bàu nước. Bàu là một cái đầm, một cái hồ nhỏ, vốn là một chỗ trũng sâu xuống, dưới đáy có thể có một số mạch nước ngầm. Dù sao thì bàu cũng là một dạng ao tù. Mùa nắng, những người quanh vùng cùng đến đây để gánh nước, thồ nước, tắm giặt. Nhiều người nhảy ùm xuống làn nước mát lạnh để vùng vẫy, trong khi nhiều người khác xách nước lên bờ để giặt đồ hoặc tắm. Nước đó cũng được mang về nhà làm nước nấu ăn… Hồi nhỏ, tôi thấy bình thường nhưng bây giờ nghĩ lại quả là mất vệ sinh!
Ở những nơi không có bàu, người ta phải đến các giếng đào để lấy nước. Một cái giếng thường có miệng rộng từ 1 – 1,5m, sâu từ 20 – 30m. Thành giếng được ốp các hòn đá; trên miệng có bắc những thanh gỗ để gắn một trục quay nước và làm chỗ đứng chân. Nhìn xuống đáy giếng sâu hoắm, tôi thường rùng mình… Đào được một cái giếng quả là kỳ công bởi phải vừa đào bới đất, vừa đưa những hòn đá lên trên; nhiều khi phải dùng thuốc nổ để đánh vỡ những tảng đá lớn… Hồi đó, chỉ những nhà khá giả mới có giếng…
Nhưng đi lấy nước cũng là việc kỳ công. Vào buổi sáng sớm hoặc cuối ngày, thường có đông người đến lấy nước nên phải xếp hàng chờ đợi để rồi phải vất vả quay từng thùng nước cho vào các thùng phuy (loại 120 lít) hoặc các can nhựa (loại 30 lít) rồi đẩy xe đạp hoặc xe thồ về nhà. Có người còn phải gánh. Để đỡ phải mang nước đi lại, nhiều người mang quần áo đến giặt tại chỗ.
Từ hồi nhỏ, tôi đã theo người lớn đi lấy nước. Lâu lâu tham gia quay nước vài cái thì đã vã mồ hôi, thế nào cũng xin nửa thùng nước để xối ào một cái và tận hưởng làn nước mát thấm vào da thịt. Chưa biết đẩy xe thồ thì đi “tăng bo”, đẩy phía sau khi lên dốc hoặc kéo lại khi xuống dốc. Lớn một chút thì “cầm tài”, chân trần phăm phăm trên những con đường đầy đá sỏi. Về đến nhà, từng ca nước đều quý báu thì bao nhiêu giọt nước là bấy nhiêu giọt mồ hôi… Ấy vậy mà có hôm thồ được nửa đường thì trời mưa to, tôi phải đành đổ cả xe nước để đẩy xe không về. Hôm khác, đi nửa đường thì càng xe bị gãy, xe thồ bị ngã, nước đổ lênh láng, về đến nhà, ba tôi cứ xuýt xoa, “may mà con bị không sao”…
Bây giờ quê tôi không còn những cái giếng đào kiểu đó nữa. Cũng không còn ai đi đẩy từng thùng nước. Ở những trục đường chính, nước máy đã đến tận nhà; trong rẫy thì hầu như nhà nào cũng có giếng khoan, bơm bằng máy nổ hoặc bằng điện. Tệ nhất cũng đã chở nước bằng xe máy, đổi từ các “cây nước” công cộng. Nước Đồng Nai bây giờ có lẽ vẫn mát rượi nhưng ngọt hơn, vì không còn pha thêm những giọt mồ hôi…

Tôi hay kể chuyện lấy nước hồi nhỏ để nhắc các con tôi phải luôn tiết kiệm nước!

Câu chuyện giáo dục

TỪ CHUYỆN “BẤT THƯỜNG KHỐI C”

Kỳ tuyển sinh năm học 2011 – 2012, số thí sinh đăng ký thi khối C giảm sút đáng ngạc nhiên, đến độ nhiều người coi là rất bất thường. Rõ ràng từ đây, có nhiều điều rất đáng suy nghĩ.
Quan niệm về ngành học mỗi thời có khác nhau nhưng không phải đến bây giờ khối C mới trở nên “mất giá”. Dù "nhất Anh, nhì tin, tam kinh, tứ luật" hay “nhất y nhì dược tạm được bách khoa bỏ qua sư phạm” thì khối C cũng ở hàng rất thấp. Nếu luật được đưa vào danh sách hàng đầu để chọn lựa thì cũng nằm cuối cùng của nhóm đó và bản thân ngành luật cũng có đến 2 khối để thi đầu vào, khối A và khối C.
Trong khi đó, vào năm 2009, Theo khảo sát của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, xu hướng chọn nghề tương lai của học sinh tập trung vào những ngành được ưa chuộng nhất là công nghệ thông tin, du lịch, khách sạn, kinh tế, tài chính. Các ngành ít được học sinh quan tâm, lựa chọn nhất là nông-lâm-ngư, mỏ, khai khoáng... Như vậy, bên cạnh khối C, còn có một số ngành của các khối khác cũng bị “chê” dù rằng những ngành đó cũng rất cần thiết trong xã hội.
Tôi có cảm giác khối C bị rẻ rúng từ lâu nay rồi. Hồi tôi thi đại học (cách đây gần 20 năm), những người học khối C như tôi thường “chỉ được coi” là làm siêng học bài chứ không phải là những người học giỏi; bởi nếu có giỏi thì có thể chọn khối D với các ngành tổng hợp Anh, ngoại thương… hay khối B với y, dược hoặc khối A với các ngành kỹ thuật… để học. Còn khối C có gì, sư phạm, tổng hợp văn… khó lòng được xếp “bằng vai phải lứa” với các ngành khác, huống hồ đến triết học hay thư viện. Thậm chí cả báo chí, ngành được coi là “đắt” nhất trong các ngành khối C thì thực tế cũng rất phũ phàng rằng có đến một nửa cử nhân báo chí không đi làm báo và không thể làm báo. Vì nghề báo có yêu cầu khá cao, nếu chỉ học xong 4 năm đại học mà không có sự đam mê cao, không có năng khiếu, không có kiến thức tổng hợp thì rất khó trụ được với nghề. Và, rất nhiều người làm báo thực tế cũng không nhất thiết là cử nhân báo chí, vì vậy đã chia sẻ cơ hội tìm việc làm của các cử nhân báo chí.
Hồi đó, một người bạn của tôi có sức học trung bình, nhắm không thi nổi khối A nên mới nhờ tôi ôn giúp khối C để thi vào trường luật. Nhưng rốt cuộc anh bỏ cuộc vì cho rằng “mình không học bài nổi”. Hóa ra, sự rẻ rúng khối C hình như không phải do ngành học, do vấn đề tìm việc làm mà chính từ quan niệm, mà có lẽ đến từ thực tế trong nhà trường (chứ chưa nói đến ngoài xã hội). Giáo viên dạy các môn xã hội thường có cuộc sống khá khó khăn hơn giáo viên dạy các môn tự nhiên – kỹ thuật – ngoại ngữ, bởi có rất ít người đi học thêm môn văn, càng hiếm người nhờ giáo viên kèm môn sử - địa mà chỉ có đi học thêm toán, lý, hóa, sinh, Anh văn. Không chỉ vậy, những giáo viên này nếu không dạy thêm thì vẫn có “vốn” để tự cải thiện cuộc sống như buôn bán đồ điện, hóa chất (ở nông thôn, bán phân bón, thuốc trừ sâu… là ngành kinh doanh hiệu quả cao), mở tiệm điện, tiệm hàn… Còn giáo viên các môn xã hội có thể làm gì thêm với chuyên môn của mình chứ?
Vì vậy, không phải bây giờ mới có sự bất thường ở khối C vì số học sinh đăng ký vào khối này giảm sút. Ngay từ nhiều năm trước, sự thu hút của khối C cũng kém hơn các khối khác, chỉ khác là sự kém hơn ấy chưa đến mức “báo động” như hiện nay. Nhưng xét cho cùng, sự mất cân đối này đang phản ánh thực tế xã hội, coi như là một sự vận động tất yếu – ngành nghề nào dễ tìm việc làm, có thu nhập cao thì thu hút được nhiều học sinh đăng ký thi vào. Đó là mong muốn đâu chỉ của riêng các học sinh mà còn của gia đình, thậm chí là của xã hội. Vậy có cần phải quá hoang mang về hiện tượng này hay không?
Giải quyết tình trạng này, ngành giáo dục nên bình tâm suy xét lại ngọn nguồn của hiện tượng, từ đó tìm ra những giải pháp đồng bộ, trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan. Trước hết là vấn đề dạy và học. Chừng nào các môn khoa học xã hội được dạy đủ chất và lượng trong nhà trường phổ thông với những thiết bị, phương tiện đảm bảo thì mới có thể thay đổi cách nhìn nhận của giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh về các môn học này. Đừng xem đó là các môn phụ mà hãy tạo ra nhận thức cho học sinh rằng các em đang học một cách sơ khởi những bộ môn khoa học cơ bản thuộc ngành xã hội – nhân văn.
Bên cạnh đó, phải nâng chất lượng thi đầu vào và chất lượng đào tạo các ngành khối C ở các trường đại học. Không nhất thiết phải thu hút đông đảo sinh viên nhưng những người vào ngành này đều là những người có năng lực thực sự, có yêu thích, đam mê với các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Tức là theo phương châm “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Khi đó, tự khắc họ sẽ tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao. Còn hơn là cứ lấy chỉ tiêu cho cao, không đủ sinh viên nên tuyển cả những người học kém vào, ì ạch cũng xong chương trình nhưng rốt cuộc không ra thầy cũng chẳng thành thợ, chỉ làm ngành thêm “mất giá”.
Ngoài ra, nếu cần thiết thì tăng học bổng và các hỗ trợ khác cho sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn, như cách mà nhiều trường sư phạm đã từng làm (miễn học phí) để có thể đào tạo nhiều giáo viên. Nhưng dù vậy, các yêu cầu về chất lượng phải được đặt lên hàng đầu.
Cuối cùng, nhà nước có thể có chính sách “cử tuyển” nhằm đáp ứng yêu cầu cụ thể của các địa phương. Chẳng hạn, tùy theo nhu cầu, địa phương có thể “gửi” các trường đào tạo một số sinh viên hành chính, luật, triết học, lịch sử, địa lý… để về phục vụ cho địa phương với những thỏa thuận, ràng buộc hợp lý. Việc làm này tiến hành tuần tự và liên tục. Đây cũng là cách tránh hiện tượng thiếu nhân lực ở các vùng nông thôn và cũng hạn chế được việc nhiều nơi có tâm lý “chờ sung rụng”. Dĩ nhiên, dù là “cử tuyển”, chất lượng vẫn phải được đảm bảo. Có như vậy, địa phương mới có người đảm bảo năng lực đủ để dùng, bản thân người học không bị lãng phí thời gian còn nhà trường thì cũng không bị “mang tiếng”.
Tóm lại, vấn đề cốt yếu trong đào tạo của một trường, một ngành, một khối vẫn là chất lượng, dù có nhiều hay ít người đăng ký thi đầu vào. Giải quyết được vấn đề này sẽ “tự nhiên hương”!

Câu chuyện văn hóa

COI CHỪNG MANG TIẾNG “HIẾU DANH”!

Hồi cuối tháng 7-2006, lãnh đạo các đơn vị, chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam (Agribank) nhận được văn bản của Văn phòng với nội dung phân phối 2.800 cuốn sách dày 440 trang Từ cậu bé chăn trâu đến ông Tổng Giám đốc Agribank, ca ngợi một vị nguyên là Tổng Giám đốc của Agribank. Tuy nhiên, sau khi báo chí có phản ứng, Hội đồng Quản trị Agribank đã ra nghị quyết thu hồi cuốn sách, trả lại cho tác giả. Một năm sau, Văn phòng Agribank có văn bản gửi một trong hai tác giả, trong đó thừa nhận: “Cuốn sách này đã gây dư luận rất xấu cả trong hệ thống Agribank và ngoài xã hội. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đã phải thanh tra”. Văn bản trên cũng cho hay, Ban lãnh đạo Agribank, trong đó có ông Tổng Giám đốc, đã quyết định thu hồi cuốn sách này, vì lý do “nhiều nội dung viết trong sách không chính xác, gây ảnh hưởng đến uy tín và lịch sử hoạt động của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam”.
Sự kiện này một thời cũng làm dư luận quan tâm bởi nhiều lý do. Nhiều người cũng quan tâm xem liệu “hành trình” tiến thân của “cậu bé chăn trâu” đó như thế nào. Những người khác lại nghi ngờ về tính trung thực của quyển sách, cho đó là một “chiêu” đánh bóng tên tuổi của một số nhân vật. Một số người khác nữa thì cho rằng đây là sản phẩm của thói hiếu danh của một vài người (không chỉ nhân vật mà còn các tác giả và những người liên quan).
Không chỉ vậy, có một vài người từng giữ chức vụ khá quan trọng khi đã về hưu đã cất công viết hồi ký ngoài mặt là để “cho con cháu biết một thời hào hùng của cha ông” nhưng kỳ thực, với những chi tiết, sự kiện sai lệch, những nhận định phiến diện, chủ quan, thật giả bỗng trở nên lẫn lộn. Người đọc ít hiểu biết không thể phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai. Đôi khi, với những chi tiết, những nhận định đó, người ta nhằm công kích một số cá nhân khác, thậm chí xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ chế độ. Đó cũng là những người hiếu danh, dù ở góc độ khá “sạch sẽ” và có phần khôn ngoan.
Thực ra, thói hiếu danh có ở không ít người trong xã hội hiện nay. Thậm chí, một số người còn dùng những cách không mấy “sạch sẽ” để đánh bóng tên tuổi, hình ảnh của mình, như bằng cách này hay cách khác đã để lộ những hình ảnh “mát mẻ”, “gợi cảm thái quá”, công khai công bố những cuốn sách, bộ phim mang đầy hình ảnh tính dục, công khai chụp ảnh khỏa thân với những “mỹ từ” rất “kêu”! Qua những scandal này, tự nhiên những nhân vật đó được báo chí nhắc đến nhiều lần, được xuất hiện liên tục trên mạng internet, được nhiều người bàn tán… Như vậy là tên tuổi, hình ảnh của nhân vật đó được “quảng bá” một cách rộng rãi, nhanh chóng mà lại hoàn toàn miễn phí.
Còn ngoài ra, hiếu danh thể hiện qua việc khoe khoang học hàm học vị, chức vụ, tìm cách xuất hiện thường xuyên ở các “ì ven” (sự kiện), các phương tiện truyền thông… cũng không còn hiếm.
Trong bối cảnh xã hội đó, cuốn Tài năng và đắc dụng không khỏi khiến người liên tưởng đến một hình thức hiếu danh khác của một số cá nhân nào đó. Dù ở góc độ khoa học, cách chọn lựa và thể hiện các nhân vật trong cuốn sách hoàn toàn chưa khoa học. Thật khó hiểu các tác giả đã dựa vào tiêu chí nào để chọn ra 10 nhân tài tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam và 4 nhân tài tiêu biểu trong lịch sử thế giới. Cứ cho là đặt các nhân vật như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Đào Duy Từ, Hồ Chí Minh là “ngang tài nhau” trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý thì liệu những nhân vật khác như Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… có nên được đặt thêm vào danh sách này không? Tương tự như vậy, đã chọn Lê Quý Đôn, Trần Văn Giàu là tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học và công nghệ thì liệu Lương Thế Vinh, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa… có đáng xếp cùng hay không? Và dĩ nhiên, nếu xếp Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bạch Thái Bưởi và Đặng Lê Nguyên Vũ ở lĩnh vực kinh tế, kinh doanh thì có nên có Lương Văn Can, Trần Chánh Chiếu, Trịnh Văn Bô, Trương Văn Bền... nữa hay không?
Đó chưa kể một số điểm “khó hiểu” khác. Trong 10 nhân vật kể trên thì 9 vị đã thành “người hiền”; cả 9 vị đều là những người đã để lại dấu ấn trong lịch sử nước nhà, liệu nhân vật cuối cùng có đáng và có nên liệt vào “ngôi đền” ấy? Theo cách nghĩ bình thường (và thông thường), có lẽ không ai xếp một “người đương thời” vào danh sách của những “người một thời” ấy. Và cũng không có ai can đảm “ngồi” vào “ngôi đền” linh thiêng ấy. Nhưng dĩ nhiên, trừ một số người.
Thực ra mọi người đều có nhu cầu có được “danh”. Khổng Tử khi đề cao việc phải “làm cho đúng với danh nghĩa, cư xử, hành động đúng với cương vị mỗi người trong xã hội” đã dùng từ “chính danh”. Còn Nguyễn Công Trứ thì viết: Lưu đắc đan tâm chiếu hãn thanh (cốt sao ghi được tấm lòng tốt lưu truyền trong sử sách). Tức là, cái danh (chính đáng) phải gắn liền với những việc làm tốt đẹp, có ích cho xã hội, vì xã hội.
Còn người hiếu danh thì có lẽ chỉ quan tâm đến bản thân mình nhiều hơn. Những người hiếu danh có lẽ không nhớ câu “hữu xạ tự nhiên hương”. Điều đó thật tiếc lắm thay!
Bài đã được đăng Báo SGGP, ngày 14-5-2011