TỪ CHUYỆN “BẤT THƯỜNG KHỐI C”
Kỳ tuyển sinh năm học 2011 – 2012, số thí sinh đăng ký thi khối C giảm sút đáng ngạc nhiên, đến độ nhiều người coi là rất bất thường. Rõ ràng từ đây, có nhiều điều rất đáng suy nghĩ.
Quan niệm về ngành học mỗi thời có khác nhau nhưng không phải đến bây giờ khối C mới trở nên “mất giá”. Dù "nhất Anh, nhì tin, tam kinh, tứ luật" hay “nhất y nhì dược tạm được bách khoa bỏ qua sư phạm” thì khối C cũng ở hàng rất thấp. Nếu luật được đưa vào danh sách hàng đầu để chọn lựa thì cũng nằm cuối cùng của nhóm đó và bản thân ngành luật cũng có đến 2 khối để thi đầu vào, khối A và khối C.
Trong khi đó, vào năm 2009, Theo khảo sát của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, xu hướng chọn nghề tương lai của học sinh tập trung vào những ngành được ưa chuộng nhất là công nghệ thông tin, du lịch, khách sạn, kinh tế, tài chính. Các ngành ít được học sinh quan tâm, lựa chọn nhất là nông-lâm-ngư, mỏ, khai khoáng... Như vậy, bên cạnh khối C, còn có một số ngành của các khối khác cũng bị “chê” dù rằng những ngành đó cũng rất cần thiết trong xã hội.
Tôi có cảm giác khối C bị rẻ rúng từ lâu nay rồi. Hồi tôi thi đại học (cách đây gần 20 năm), những người học khối C như tôi thường “chỉ được coi” là làm siêng học bài chứ không phải là những người học giỏi; bởi nếu có giỏi thì có thể chọn khối D với các ngành tổng hợp Anh, ngoại thương… hay khối B với y, dược hoặc khối A với các ngành kỹ thuật… để học. Còn khối C có gì, sư phạm, tổng hợp văn… khó lòng được xếp “bằng vai phải lứa” với các ngành khác, huống hồ đến triết học hay thư viện. Thậm chí cả báo chí, ngành được coi là “đắt” nhất trong các ngành khối C thì thực tế cũng rất phũ phàng rằng có đến một nửa cử nhân báo chí không đi làm báo và không thể làm báo. Vì nghề báo có yêu cầu khá cao, nếu chỉ học xong 4 năm đại học mà không có sự đam mê cao, không có năng khiếu, không có kiến thức tổng hợp thì rất khó trụ được với nghề. Và, rất nhiều người làm báo thực tế cũng không nhất thiết là cử nhân báo chí, vì vậy đã chia sẻ cơ hội tìm việc làm của các cử nhân báo chí.
Hồi đó, một người bạn của tôi có sức học trung bình, nhắm không thi nổi khối A nên mới nhờ tôi ôn giúp khối C để thi vào trường luật. Nhưng rốt cuộc anh bỏ cuộc vì cho rằng “mình không học bài nổi”. Hóa ra, sự rẻ rúng khối C hình như không phải do ngành học, do vấn đề tìm việc làm mà chính từ quan niệm, mà có lẽ đến từ thực tế trong nhà trường (chứ chưa nói đến ngoài xã hội). Giáo viên dạy các môn xã hội thường có cuộc sống khá khó khăn hơn giáo viên dạy các môn tự nhiên – kỹ thuật – ngoại ngữ, bởi có rất ít người đi học thêm môn văn, càng hiếm người nhờ giáo viên kèm môn sử - địa mà chỉ có đi học thêm toán, lý, hóa, sinh, Anh văn. Không chỉ vậy, những giáo viên này nếu không dạy thêm thì vẫn có “vốn” để tự cải thiện cuộc sống như buôn bán đồ điện, hóa chất (ở nông thôn, bán phân bón, thuốc trừ sâu… là ngành kinh doanh hiệu quả cao), mở tiệm điện, tiệm hàn… Còn giáo viên các môn xã hội có thể làm gì thêm với chuyên môn của mình chứ?
Vì vậy, không phải bây giờ mới có sự bất thường ở khối C vì số học sinh đăng ký vào khối này giảm sút. Ngay từ nhiều năm trước, sự thu hút của khối C cũng kém hơn các khối khác, chỉ khác là sự kém hơn ấy chưa đến mức “báo động” như hiện nay. Nhưng xét cho cùng, sự mất cân đối này đang phản ánh thực tế xã hội, coi như là một sự vận động tất yếu – ngành nghề nào dễ tìm việc làm, có thu nhập cao thì thu hút được nhiều học sinh đăng ký thi vào. Đó là mong muốn đâu chỉ của riêng các học sinh mà còn của gia đình, thậm chí là của xã hội. Vậy có cần phải quá hoang mang về hiện tượng này hay không?
Giải quyết tình trạng này, ngành giáo dục nên bình tâm suy xét lại ngọn nguồn của hiện tượng, từ đó tìm ra những giải pháp đồng bộ, trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan. Trước hết là vấn đề dạy và học. Chừng nào các môn khoa học xã hội được dạy đủ chất và lượng trong nhà trường phổ thông với những thiết bị, phương tiện đảm bảo thì mới có thể thay đổi cách nhìn nhận của giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh về các môn học này. Đừng xem đó là các môn phụ mà hãy tạo ra nhận thức cho học sinh rằng các em đang học một cách sơ khởi những bộ môn khoa học cơ bản thuộc ngành xã hội – nhân văn.
Bên cạnh đó, phải nâng chất lượng thi đầu vào và chất lượng đào tạo các ngành khối C ở các trường đại học. Không nhất thiết phải thu hút đông đảo sinh viên nhưng những người vào ngành này đều là những người có năng lực thực sự, có yêu thích, đam mê với các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Tức là theo phương châm “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Khi đó, tự khắc họ sẽ tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao. Còn hơn là cứ lấy chỉ tiêu cho cao, không đủ sinh viên nên tuyển cả những người học kém vào, ì ạch cũng xong chương trình nhưng rốt cuộc không ra thầy cũng chẳng thành thợ, chỉ làm ngành thêm “mất giá”.
Ngoài ra, nếu cần thiết thì tăng học bổng và các hỗ trợ khác cho sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn, như cách mà nhiều trường sư phạm đã từng làm (miễn học phí) để có thể đào tạo nhiều giáo viên. Nhưng dù vậy, các yêu cầu về chất lượng phải được đặt lên hàng đầu.
Cuối cùng, nhà nước có thể có chính sách “cử tuyển” nhằm đáp ứng yêu cầu cụ thể của các địa phương. Chẳng hạn, tùy theo nhu cầu, địa phương có thể “gửi” các trường đào tạo một số sinh viên hành chính, luật, triết học, lịch sử, địa lý… để về phục vụ cho địa phương với những thỏa thuận, ràng buộc hợp lý. Việc làm này tiến hành tuần tự và liên tục. Đây cũng là cách tránh hiện tượng thiếu nhân lực ở các vùng nông thôn và cũng hạn chế được việc nhiều nơi có tâm lý “chờ sung rụng”. Dĩ nhiên, dù là “cử tuyển”, chất lượng vẫn phải được đảm bảo. Có như vậy, địa phương mới có người đảm bảo năng lực đủ để dùng, bản thân người học không bị lãng phí thời gian còn nhà trường thì cũng không bị “mang tiếng”.
Tóm lại, vấn đề cốt yếu trong đào tạo của một trường, một ngành, một khối vẫn là chất lượng, dù có nhiều hay ít người đăng ký thi đầu vào. Giải quyết được vấn đề này sẽ “tự nhiên hương”!
Kỳ tuyển sinh năm học 2011 – 2012, số thí sinh đăng ký thi khối C giảm sút đáng ngạc nhiên, đến độ nhiều người coi là rất bất thường. Rõ ràng từ đây, có nhiều điều rất đáng suy nghĩ.
Quan niệm về ngành học mỗi thời có khác nhau nhưng không phải đến bây giờ khối C mới trở nên “mất giá”. Dù "nhất Anh, nhì tin, tam kinh, tứ luật" hay “nhất y nhì dược tạm được bách khoa bỏ qua sư phạm” thì khối C cũng ở hàng rất thấp. Nếu luật được đưa vào danh sách hàng đầu để chọn lựa thì cũng nằm cuối cùng của nhóm đó và bản thân ngành luật cũng có đến 2 khối để thi đầu vào, khối A và khối C.
Trong khi đó, vào năm 2009, Theo khảo sát của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, xu hướng chọn nghề tương lai của học sinh tập trung vào những ngành được ưa chuộng nhất là công nghệ thông tin, du lịch, khách sạn, kinh tế, tài chính. Các ngành ít được học sinh quan tâm, lựa chọn nhất là nông-lâm-ngư, mỏ, khai khoáng... Như vậy, bên cạnh khối C, còn có một số ngành của các khối khác cũng bị “chê” dù rằng những ngành đó cũng rất cần thiết trong xã hội.
Tôi có cảm giác khối C bị rẻ rúng từ lâu nay rồi. Hồi tôi thi đại học (cách đây gần 20 năm), những người học khối C như tôi thường “chỉ được coi” là làm siêng học bài chứ không phải là những người học giỏi; bởi nếu có giỏi thì có thể chọn khối D với các ngành tổng hợp Anh, ngoại thương… hay khối B với y, dược hoặc khối A với các ngành kỹ thuật… để học. Còn khối C có gì, sư phạm, tổng hợp văn… khó lòng được xếp “bằng vai phải lứa” với các ngành khác, huống hồ đến triết học hay thư viện. Thậm chí cả báo chí, ngành được coi là “đắt” nhất trong các ngành khối C thì thực tế cũng rất phũ phàng rằng có đến một nửa cử nhân báo chí không đi làm báo và không thể làm báo. Vì nghề báo có yêu cầu khá cao, nếu chỉ học xong 4 năm đại học mà không có sự đam mê cao, không có năng khiếu, không có kiến thức tổng hợp thì rất khó trụ được với nghề. Và, rất nhiều người làm báo thực tế cũng không nhất thiết là cử nhân báo chí, vì vậy đã chia sẻ cơ hội tìm việc làm của các cử nhân báo chí.
Hồi đó, một người bạn của tôi có sức học trung bình, nhắm không thi nổi khối A nên mới nhờ tôi ôn giúp khối C để thi vào trường luật. Nhưng rốt cuộc anh bỏ cuộc vì cho rằng “mình không học bài nổi”. Hóa ra, sự rẻ rúng khối C hình như không phải do ngành học, do vấn đề tìm việc làm mà chính từ quan niệm, mà có lẽ đến từ thực tế trong nhà trường (chứ chưa nói đến ngoài xã hội). Giáo viên dạy các môn xã hội thường có cuộc sống khá khó khăn hơn giáo viên dạy các môn tự nhiên – kỹ thuật – ngoại ngữ, bởi có rất ít người đi học thêm môn văn, càng hiếm người nhờ giáo viên kèm môn sử - địa mà chỉ có đi học thêm toán, lý, hóa, sinh, Anh văn. Không chỉ vậy, những giáo viên này nếu không dạy thêm thì vẫn có “vốn” để tự cải thiện cuộc sống như buôn bán đồ điện, hóa chất (ở nông thôn, bán phân bón, thuốc trừ sâu… là ngành kinh doanh hiệu quả cao), mở tiệm điện, tiệm hàn… Còn giáo viên các môn xã hội có thể làm gì thêm với chuyên môn của mình chứ?
Vì vậy, không phải bây giờ mới có sự bất thường ở khối C vì số học sinh đăng ký vào khối này giảm sút. Ngay từ nhiều năm trước, sự thu hút của khối C cũng kém hơn các khối khác, chỉ khác là sự kém hơn ấy chưa đến mức “báo động” như hiện nay. Nhưng xét cho cùng, sự mất cân đối này đang phản ánh thực tế xã hội, coi như là một sự vận động tất yếu – ngành nghề nào dễ tìm việc làm, có thu nhập cao thì thu hút được nhiều học sinh đăng ký thi vào. Đó là mong muốn đâu chỉ của riêng các học sinh mà còn của gia đình, thậm chí là của xã hội. Vậy có cần phải quá hoang mang về hiện tượng này hay không?
Giải quyết tình trạng này, ngành giáo dục nên bình tâm suy xét lại ngọn nguồn của hiện tượng, từ đó tìm ra những giải pháp đồng bộ, trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan. Trước hết là vấn đề dạy và học. Chừng nào các môn khoa học xã hội được dạy đủ chất và lượng trong nhà trường phổ thông với những thiết bị, phương tiện đảm bảo thì mới có thể thay đổi cách nhìn nhận của giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh về các môn học này. Đừng xem đó là các môn phụ mà hãy tạo ra nhận thức cho học sinh rằng các em đang học một cách sơ khởi những bộ môn khoa học cơ bản thuộc ngành xã hội – nhân văn.
Bên cạnh đó, phải nâng chất lượng thi đầu vào và chất lượng đào tạo các ngành khối C ở các trường đại học. Không nhất thiết phải thu hút đông đảo sinh viên nhưng những người vào ngành này đều là những người có năng lực thực sự, có yêu thích, đam mê với các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Tức là theo phương châm “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Khi đó, tự khắc họ sẽ tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao. Còn hơn là cứ lấy chỉ tiêu cho cao, không đủ sinh viên nên tuyển cả những người học kém vào, ì ạch cũng xong chương trình nhưng rốt cuộc không ra thầy cũng chẳng thành thợ, chỉ làm ngành thêm “mất giá”.
Ngoài ra, nếu cần thiết thì tăng học bổng và các hỗ trợ khác cho sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn, như cách mà nhiều trường sư phạm đã từng làm (miễn học phí) để có thể đào tạo nhiều giáo viên. Nhưng dù vậy, các yêu cầu về chất lượng phải được đặt lên hàng đầu.
Cuối cùng, nhà nước có thể có chính sách “cử tuyển” nhằm đáp ứng yêu cầu cụ thể của các địa phương. Chẳng hạn, tùy theo nhu cầu, địa phương có thể “gửi” các trường đào tạo một số sinh viên hành chính, luật, triết học, lịch sử, địa lý… để về phục vụ cho địa phương với những thỏa thuận, ràng buộc hợp lý. Việc làm này tiến hành tuần tự và liên tục. Đây cũng là cách tránh hiện tượng thiếu nhân lực ở các vùng nông thôn và cũng hạn chế được việc nhiều nơi có tâm lý “chờ sung rụng”. Dĩ nhiên, dù là “cử tuyển”, chất lượng vẫn phải được đảm bảo. Có như vậy, địa phương mới có người đảm bảo năng lực đủ để dùng, bản thân người học không bị lãng phí thời gian còn nhà trường thì cũng không bị “mang tiếng”.
Tóm lại, vấn đề cốt yếu trong đào tạo của một trường, một ngành, một khối vẫn là chất lượng, dù có nhiều hay ít người đăng ký thi đầu vào. Giải quyết được vấn đề này sẽ “tự nhiên hương”!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét