NÊN ĐỂ LAO ĐỘNG NỮ NGHỈ THAI SẢN 6 THÁNG
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, trong đó có chính sách thai sản. Có hai phương án: tăng thời gian nghỉ lên thành 6 tháng; giữ nguyên 4 tháng như hiện nay. Dĩ nhiên việc này sẽ có những ý kiến trái ngược nhau, nhất là khi đặt trong mối quan hệ lợi ích. Chẳng hạn, với các chủ doanh nghiệp sử dụng lao động, việc nghỉ thêm 2 tháng đối với lao động nữ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội của họ. Từ đó, có thể dẫn đến khuynh hướng ngại nhận lao động nữ vào làm việc hoặc có nhận nhưng kèm theo ràng buộc chưa sinh con trong một thời hạn nào đó…
Không khó nhận ra đại bộ phận ý kiến khác sẽ ủng hộ việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng. Đối với bản thân phụ nữ, chắc chắn thời gian này sẽ giúp việc chăm sóc trẻ tốt hơn, nhất là với các khuyến cáo nên nuôi trẻ bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau khi sinh. Từ đó, áp lực về việc phải gửi trẻ và nơi gửi trẻ khi còn quá nhỏ cũng giảm đi. Ngoài ra, việc có thêm 2 tháng nghỉ cũng giúp một số chị em có thể chọn lựa được thời gian nghỉ chủ động hơn, chẳng hạn có thể nghỉ trước khi sinh một tháng để đảm bảo sinh con an toàn…
Đối với xã hội, việc phụ nữ dành thêm 2 tháng để chăm sóc con sẽ làm giảm một số lượng nhân công và ngày công đáng kể. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp các đơn vị sử dụng lao động có tính toán phương án nhân sự hợp lý, khoa học hơn để không bị ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh. Qua đó, sẽ kích thích tăng năng suất lao động cũng như có những cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Đồng thời, điều này cũng giúp các ông chồng tăng cường trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo kinh tế gia đình khi vợ - hiện phần nhiều là người cùng gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình – phải chăm con thêm 2 tháng. Ngoài ra, ở một góc độ nào đó, giảm ngày công cũng giúp tăng khả năng giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động.
Việc phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng dĩ nhiên sẽ có điều kiện chăm sóc con tốt hơn, giúp người chồng yên tâm làm việc. Tuy nhiên, nhìn nhận ở góc độ bình đẳng giới, điều đó cũng ít nhiều làm tăng áp lực cho người chồng nói riêng và nam giới nói chung. Bởi họ phải làm việc nhiều hơn, buộc phải có trách nhiệm hơn. Ở mặt ngược lại, chế độ thai sản mới có thể khiến phụ nữ ít có cơ hội tìm được việc làm hơn hoặc bị phân biệt đối xử khi sắp xếp, phân công công việc (có thể được bố trí công việc ít quan trọng, để khi nghỉ thai sản thì không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp, của đơn vị…), trong việc trả lương… Điều này cũng cần quan tâm và có chính sách kèm theo phù hợp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới. Trong đó, cần quan tâm việc nam giới cũng có thể được nghỉ và hưởng bảo hiểm khi sinh con (con thứ nhất và thứ hai) như một số nước đã thực hiện, quy định xử lý nghiêm các hành vi phân biệt giới tính trong tuyển dụng và sử dụng lao động…
Trong điều kiện xã hội của Việt Nam hiện nay, cần thiết có quy định cho phép phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng và được hưởng bảo hiểm xã hội, kể cả trường hợp sinh con thứ ba, thứ tư… Vì đây là sự quan tâm, chăm lo không chỉ đối với bản thân người mẹ mà chính là có chế độ chăm sóc tốt hơn cho trẻ, ngay trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, vốn rất quan trọng đến thể chất và trí não của trẻ sau này. Trong khi dân số nước ta đang già nhanh chóng, nguy cơ thiếu lao động sẽ diễn ra trong vài thập kỷ tới, thì việc có được một nguồn nhân lực có tiền đề dinh dưỡng, thể chất tốt sẽ cung cấp nguồn lao động tốt cho nước nhà từ việc tăng thời gian nghỉ thai sản cho phụ nữ là điều đáng làm.
Được biết, từ trước năm 1983, bà mẹ chỉ được nghỉ đẻ 2 tháng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng trên 50%, tỷ lệ trẻ chết dưới 1 tuổi trên 8,1%. Vì vậy, từ năm 1985, Chính phủ đã có quyết định tăng thời gian nghỉ sau sinh lên 6 tháng. Nhưng chính sách này tồn tại không lâu, vì sức ép lao động, tiền lương và nhiều lý do khác nên đến đầu những năm 1990, Chính phủ lại giảm thời gian nghỉ sinh xuống còn 4 tháng. Điều đó cho thấy, nghỉ thai sản 6 tháng là một tiến bộ mà nước ta đã từng thực hiện. Bây giờ quy định lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đồng thời cũng nối tiếp một chủ trương tích cực đã từng có.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, trong đó có chính sách thai sản. Có hai phương án: tăng thời gian nghỉ lên thành 6 tháng; giữ nguyên 4 tháng như hiện nay. Dĩ nhiên việc này sẽ có những ý kiến trái ngược nhau, nhất là khi đặt trong mối quan hệ lợi ích. Chẳng hạn, với các chủ doanh nghiệp sử dụng lao động, việc nghỉ thêm 2 tháng đối với lao động nữ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội của họ. Từ đó, có thể dẫn đến khuynh hướng ngại nhận lao động nữ vào làm việc hoặc có nhận nhưng kèm theo ràng buộc chưa sinh con trong một thời hạn nào đó…
Không khó nhận ra đại bộ phận ý kiến khác sẽ ủng hộ việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng. Đối với bản thân phụ nữ, chắc chắn thời gian này sẽ giúp việc chăm sóc trẻ tốt hơn, nhất là với các khuyến cáo nên nuôi trẻ bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau khi sinh. Từ đó, áp lực về việc phải gửi trẻ và nơi gửi trẻ khi còn quá nhỏ cũng giảm đi. Ngoài ra, việc có thêm 2 tháng nghỉ cũng giúp một số chị em có thể chọn lựa được thời gian nghỉ chủ động hơn, chẳng hạn có thể nghỉ trước khi sinh một tháng để đảm bảo sinh con an toàn…
Đối với xã hội, việc phụ nữ dành thêm 2 tháng để chăm sóc con sẽ làm giảm một số lượng nhân công và ngày công đáng kể. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp các đơn vị sử dụng lao động có tính toán phương án nhân sự hợp lý, khoa học hơn để không bị ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh. Qua đó, sẽ kích thích tăng năng suất lao động cũng như có những cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Đồng thời, điều này cũng giúp các ông chồng tăng cường trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo kinh tế gia đình khi vợ - hiện phần nhiều là người cùng gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình – phải chăm con thêm 2 tháng. Ngoài ra, ở một góc độ nào đó, giảm ngày công cũng giúp tăng khả năng giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động.
Việc phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng dĩ nhiên sẽ có điều kiện chăm sóc con tốt hơn, giúp người chồng yên tâm làm việc. Tuy nhiên, nhìn nhận ở góc độ bình đẳng giới, điều đó cũng ít nhiều làm tăng áp lực cho người chồng nói riêng và nam giới nói chung. Bởi họ phải làm việc nhiều hơn, buộc phải có trách nhiệm hơn. Ở mặt ngược lại, chế độ thai sản mới có thể khiến phụ nữ ít có cơ hội tìm được việc làm hơn hoặc bị phân biệt đối xử khi sắp xếp, phân công công việc (có thể được bố trí công việc ít quan trọng, để khi nghỉ thai sản thì không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp, của đơn vị…), trong việc trả lương… Điều này cũng cần quan tâm và có chính sách kèm theo phù hợp để hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới. Trong đó, cần quan tâm việc nam giới cũng có thể được nghỉ và hưởng bảo hiểm khi sinh con (con thứ nhất và thứ hai) như một số nước đã thực hiện, quy định xử lý nghiêm các hành vi phân biệt giới tính trong tuyển dụng và sử dụng lao động…
Trong điều kiện xã hội của Việt Nam hiện nay, cần thiết có quy định cho phép phụ nữ được nghỉ thai sản thêm 2 tháng và được hưởng bảo hiểm xã hội, kể cả trường hợp sinh con thứ ba, thứ tư… Vì đây là sự quan tâm, chăm lo không chỉ đối với bản thân người mẹ mà chính là có chế độ chăm sóc tốt hơn cho trẻ, ngay trong những tháng đầu tiên của cuộc đời, vốn rất quan trọng đến thể chất và trí não của trẻ sau này. Trong khi dân số nước ta đang già nhanh chóng, nguy cơ thiếu lao động sẽ diễn ra trong vài thập kỷ tới, thì việc có được một nguồn nhân lực có tiền đề dinh dưỡng, thể chất tốt sẽ cung cấp nguồn lao động tốt cho nước nhà từ việc tăng thời gian nghỉ thai sản cho phụ nữ là điều đáng làm.
Được biết, từ trước năm 1983, bà mẹ chỉ được nghỉ đẻ 2 tháng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng trên 50%, tỷ lệ trẻ chết dưới 1 tuổi trên 8,1%. Vì vậy, từ năm 1985, Chính phủ đã có quyết định tăng thời gian nghỉ sau sinh lên 6 tháng. Nhưng chính sách này tồn tại không lâu, vì sức ép lao động, tiền lương và nhiều lý do khác nên đến đầu những năm 1990, Chính phủ lại giảm thời gian nghỉ sinh xuống còn 4 tháng. Điều đó cho thấy, nghỉ thai sản 6 tháng là một tiến bộ mà nước ta đã từng thực hiện. Bây giờ quy định lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế đồng thời cũng nối tiếp một chủ trương tích cực đã từng có.
Bài đã đăng báo Tuổi trẻ ngày 20-9-2011

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét