ĐẶC SẮC TỪ “NHÀ”
1. Trong tiếng Việt, có một số từ rất độc đáo bởi tính phong phú đặc sắc của nó. Chẳng hạn, chỉ riêng nói về cái chết thôi, nhà nghiên cứu Bằng Giang đã thống kê và sưu tập được 1.001 các diễn đạt(1).
Từ “nhà” cũng là một trường hợp đặc biệt. Từ điển tiếng Việt đã giải thích từ “nhà” như sau: 1 dt. 1. Công trình xây dựng có mái, tường bao quanh, cửa ra vào để ở, sinh hoạt văn hoá, xã hội hoặc cất giữ vật chất (nhà ở, nhà kho, nhà hát, nhà văn hoá…). 2. Chỗ ở và sinh hoạt của một gia đình (nhà mới, mẹ vắng nhà…). 3. những người trong một gia đình (nhà có bốn người, cả nhà đi vắng…). 4. Dòng họ nắm quyền cai trị đất nước thời phong kiến (nhà Lê, nhà Hồ…). 5. Từ chồng xưng gọi vợ, hoặc vợ xưng gọi chồng trước người khác (nhà tôi = vợ/chồng tôi). 6. Từ xưng gọi người đối thoại với ý thân mật hay coi thường (nhà Hà cho ấm chè, ai bảo nhà chị thế?) 7. Từ tự xưng mình khi nói chuyện với ý nhún nhường (Anh cho nhà em thế nào thì nhà em cũng bằng lòng). 8. Những đối tượng gần gũi với mình (vườn nhà, xã nhà, huyện nhà, đội nhà…). 9. Thú vật đã được thuần dưỡng (trâu nhà, voi nhà…). 2 dt. Người có chuyên môn cao thuộc một lĩnh vực nào đó: nhà khoa học, nhà quân sự, nhà văn, nhà báo.
Gần đây, có thêm những từ mới có yếu tố “nhà” trong đó như nhà lành (người thuộc gia đình tử tế, làm ăn lương thiện, có giáo dục), nhà may (hiệu may, cửa hàng may), nhà mở (nơi đón nhận trẻ lang thang cơ nhỡ đến sinh sống), nhà ngoại cảm (người có khả năng ngoại cảm), nhà ống (nhà có chiều ngang hẹp, chiều dài lớn, thường không có cửa ở phía bên, trông giống như hình chiếc ống), nhà sách (cửa hàng sách, hiệu sách), nhà tạo mẫu (người chuyên thiết kế, sáng tạo ra mẫu mới – quần áo, nón, tóc…), nhà thầu (người hoặc tổ chức, đơn vị nhận thầu – thường là các công việc có quy mô tương đối lớn), nhà thuốc (hiệu thuốc), nhà tính nghĩa/nhà tình thương/nhà đại đoàn kết/nhà đồng đội… (nhà được xây cất để tặng đối tượng chính sách hoặc diện khó khăn được xã hội giúp đỡ), nhà vườn (nhà có vườn hoặc người chủ có vườn chuyên trồng các loại cây để bán giống, hoa quả), nhà vườn (nhà rộng cất trong một khu vườn, có không gian rộng)…(2)
2. Từ cách định nghĩa các dạng từ “nhà”, có thể “nhóm” lại như sau:
- Một dạng vật chất để ở, sinh hoạt: nhà ở, nhà vườn, nhà cầu, nhà xí, nhà ống, nhà chọc trời, nhà cửa, nhà tranh, nhà ngói, nhà tường, nhà dưới, nhà trên, nhà ngoài, nhà sàn, nhà lầu…
- Một dạng vật chất để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất: nhà chòi, nhà kính (để trồng trọt), nhà kho…
- Một dạng vật chất để làm việc hoặc là nơi cung cấp dịch vụ xã hội, công cộng, tín ngưỡng: nhà máy, nhà băng, nhà văn hóa, nhà hát, nhà đèn (cơ quan phân phối điện), nhà đoan (sở thuế), nhà dây thép (bưu điện), nhà thổ, nhà hàng, nhà xuất bản, nhà chùa, nhà thờ, nhà pha (nhà tù), nhà việc, nhà nước…
- Có nghĩa gần gũi, mang tính “của mình”: người nhà, đội nhà, xã nhà, nhà tôi (vợ/chồng tôi), nước nhà…
- Có nghĩa gia đình, dòng họ: nhà trai, nhà gái, nhà ngoại, nhà nội, nhà ấy (gia đình ấy), nhà Lê, nhà Nguyễn…
- Có nghĩa hạ thấp (tự nhận hoặc bị áp đặt): nhà em (hoàn cảnh/gia đình em), nhà ngươi, nhà quê…
- Có nghĩa là những người làm một việc nhất định nào đó hoặc chỉ tính thành thạo một công việc (nghề nghiệp) nào đó (có tính chuyên nghiệp): nhà cái, nhà gá (trong đánh bạc, cá cược), nhà nông, nhà vườn, nhà thầu, nhà buôn, nhà nghề, nhà nòi…
- Có nghĩa những người làm việc mang tính chuyên môn cao và có địa vị xã hội nhất định: nhà chính trị, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, nhà cách mạng, nhà lý luận, nhà vua, nhà tư tưởng…
3. Có một chữ “nhà” rất quan trọng đó là “nhà nước”, có thể hiểu là cơ quan chính quyền, cơ quan hành chính. Đó là cơ quan quyền lực để cai trị, điều hành, quản lý xã hội ở một địa phương, một đất nước. Điều độc đáo là cơ quan này tuy lo việc chung (việc nước) nhưng lại có yếu tố nhà trong đó, hoàn toàn có thể hiểu tính chất “của mình” trong đó. Nếu “nhà nước” chỉ được phiên thành “chính quyền” mà không có yếu tố “nhà”, tức yếu tố “của mình, của cộng đồng mình, của quê hương mình” thì sẽ trở nên lệch lạc biết bao.
Trong tiếng Anh, nói “nhà nước” hoặc “chính quyền” người ta có từ “government”, “state”, “authorities”, “administration”, “power” hoặc “office”… mà không hề có yếu tố “nhà-của-mình” đâu cả. Trong tiếng Việt, ông bà ta đã định sẵn thế, có lẽ có cái lý riêng của các cụ, chứ đâu đơn thuần là tính quy ước hay tính võ đoán!
(1) Bằng Giang, Tiếng Việt phong phú, NXB Văn hóa, 1997.
(2) Viện Ngôn ngữ học, Từ điển từ mới tiếng Việt, NXB TP.HCM 2002
1. Trong tiếng Việt, có một số từ rất độc đáo bởi tính phong phú đặc sắc của nó. Chẳng hạn, chỉ riêng nói về cái chết thôi, nhà nghiên cứu Bằng Giang đã thống kê và sưu tập được 1.001 các diễn đạt(1).
Từ “nhà” cũng là một trường hợp đặc biệt. Từ điển tiếng Việt đã giải thích từ “nhà” như sau: 1 dt. 1. Công trình xây dựng có mái, tường bao quanh, cửa ra vào để ở, sinh hoạt văn hoá, xã hội hoặc cất giữ vật chất (nhà ở, nhà kho, nhà hát, nhà văn hoá…). 2. Chỗ ở và sinh hoạt của một gia đình (nhà mới, mẹ vắng nhà…). 3. những người trong một gia đình (nhà có bốn người, cả nhà đi vắng…). 4. Dòng họ nắm quyền cai trị đất nước thời phong kiến (nhà Lê, nhà Hồ…). 5. Từ chồng xưng gọi vợ, hoặc vợ xưng gọi chồng trước người khác (nhà tôi = vợ/chồng tôi). 6. Từ xưng gọi người đối thoại với ý thân mật hay coi thường (nhà Hà cho ấm chè, ai bảo nhà chị thế?) 7. Từ tự xưng mình khi nói chuyện với ý nhún nhường (Anh cho nhà em thế nào thì nhà em cũng bằng lòng). 8. Những đối tượng gần gũi với mình (vườn nhà, xã nhà, huyện nhà, đội nhà…). 9. Thú vật đã được thuần dưỡng (trâu nhà, voi nhà…). 2 dt. Người có chuyên môn cao thuộc một lĩnh vực nào đó: nhà khoa học, nhà quân sự, nhà văn, nhà báo.
Gần đây, có thêm những từ mới có yếu tố “nhà” trong đó như nhà lành (người thuộc gia đình tử tế, làm ăn lương thiện, có giáo dục), nhà may (hiệu may, cửa hàng may), nhà mở (nơi đón nhận trẻ lang thang cơ nhỡ đến sinh sống), nhà ngoại cảm (người có khả năng ngoại cảm), nhà ống (nhà có chiều ngang hẹp, chiều dài lớn, thường không có cửa ở phía bên, trông giống như hình chiếc ống), nhà sách (cửa hàng sách, hiệu sách), nhà tạo mẫu (người chuyên thiết kế, sáng tạo ra mẫu mới – quần áo, nón, tóc…), nhà thầu (người hoặc tổ chức, đơn vị nhận thầu – thường là các công việc có quy mô tương đối lớn), nhà thuốc (hiệu thuốc), nhà tính nghĩa/nhà tình thương/nhà đại đoàn kết/nhà đồng đội… (nhà được xây cất để tặng đối tượng chính sách hoặc diện khó khăn được xã hội giúp đỡ), nhà vườn (nhà có vườn hoặc người chủ có vườn chuyên trồng các loại cây để bán giống, hoa quả), nhà vườn (nhà rộng cất trong một khu vườn, có không gian rộng)…(2)
2. Từ cách định nghĩa các dạng từ “nhà”, có thể “nhóm” lại như sau:
- Một dạng vật chất để ở, sinh hoạt: nhà ở, nhà vườn, nhà cầu, nhà xí, nhà ống, nhà chọc trời, nhà cửa, nhà tranh, nhà ngói, nhà tường, nhà dưới, nhà trên, nhà ngoài, nhà sàn, nhà lầu…
- Một dạng vật chất để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất: nhà chòi, nhà kính (để trồng trọt), nhà kho…
- Một dạng vật chất để làm việc hoặc là nơi cung cấp dịch vụ xã hội, công cộng, tín ngưỡng: nhà máy, nhà băng, nhà văn hóa, nhà hát, nhà đèn (cơ quan phân phối điện), nhà đoan (sở thuế), nhà dây thép (bưu điện), nhà thổ, nhà hàng, nhà xuất bản, nhà chùa, nhà thờ, nhà pha (nhà tù), nhà việc, nhà nước…
- Có nghĩa gần gũi, mang tính “của mình”: người nhà, đội nhà, xã nhà, nhà tôi (vợ/chồng tôi), nước nhà…
- Có nghĩa gia đình, dòng họ: nhà trai, nhà gái, nhà ngoại, nhà nội, nhà ấy (gia đình ấy), nhà Lê, nhà Nguyễn…
- Có nghĩa hạ thấp (tự nhận hoặc bị áp đặt): nhà em (hoàn cảnh/gia đình em), nhà ngươi, nhà quê…
- Có nghĩa là những người làm một việc nhất định nào đó hoặc chỉ tính thành thạo một công việc (nghề nghiệp) nào đó (có tính chuyên nghiệp): nhà cái, nhà gá (trong đánh bạc, cá cược), nhà nông, nhà vườn, nhà thầu, nhà buôn, nhà nghề, nhà nòi…
- Có nghĩa những người làm việc mang tính chuyên môn cao và có địa vị xã hội nhất định: nhà chính trị, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, nhà cách mạng, nhà lý luận, nhà vua, nhà tư tưởng…
3. Có một chữ “nhà” rất quan trọng đó là “nhà nước”, có thể hiểu là cơ quan chính quyền, cơ quan hành chính. Đó là cơ quan quyền lực để cai trị, điều hành, quản lý xã hội ở một địa phương, một đất nước. Điều độc đáo là cơ quan này tuy lo việc chung (việc nước) nhưng lại có yếu tố nhà trong đó, hoàn toàn có thể hiểu tính chất “của mình” trong đó. Nếu “nhà nước” chỉ được phiên thành “chính quyền” mà không có yếu tố “nhà”, tức yếu tố “của mình, của cộng đồng mình, của quê hương mình” thì sẽ trở nên lệch lạc biết bao.
Trong tiếng Anh, nói “nhà nước” hoặc “chính quyền” người ta có từ “government”, “state”, “authorities”, “administration”, “power” hoặc “office”… mà không hề có yếu tố “nhà-của-mình” đâu cả. Trong tiếng Việt, ông bà ta đã định sẵn thế, có lẽ có cái lý riêng của các cụ, chứ đâu đơn thuần là tính quy ước hay tính võ đoán!
(1) Bằng Giang, Tiếng Việt phong phú, NXB Văn hóa, 1997.
(2) Viện Ngôn ngữ học, Từ điển từ mới tiếng Việt, NXB TP.HCM 2002

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét