Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

Nhân vật

Doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX:
Đỗ Đình Thiện – nhà tư sản yêu nước nhiệt thành và trong sáng

Đỗ Đình Thiện (1904 – 1972) là một doanh nhân, một nhà tư sản nhiệt thành ủng hộ cho cách mạng và kháng chiến. Từ trước Cách mạng tháng Tám, ông là chủ cửa hàng buôn bán tơ lụa tại 54 Hàng Gai Hà Nội, chủ một nhà máy dệt và một đồn điền lớn tại Chi Nê (Hòa Bình).
Là nhà hoạt động cách mạng trước khi là nhà tư sản
Con đường đến với cách mạng của ông bà Đỗ Đình Thiện khá đặc biệt. Bởi trước khi trở thành tư sản, ông bà đã là những người cộng sản và những chiến sĩ cách mạng thực thụ rồi. Năm 1927, sau lễ dạm hỏi với cô gái Hà thành Trịnh Thị Điền, chàng thanh niên 24 tuổi Đỗ Đình Thiện sang Pháp du học trường Đại học Canh nông, còn cô Điền ở tuổi 16 bắt đầu dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Năm 1931, cô Điền bị bắt tại Hải Phòng, rồi chuyển về giam tại Sở Mật thám Hà Nội. Cô gái mảnh mai tròn 20 tuổi đã chịu đủ những trận đòn dã man nhưng vẫn không khai báo, còn tuyệt thực một tuần lễ để phản đối việc tra tấn và ngược đãi tù nhân nữ. Sợ Điền chết, bọn cai ngục phải đưa cô sang Nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt - Đức) điều trị. Sau tám tháng giam giữ, không đủ bằng chứng buộc tội, chúng phải trả tự do cho cô. Trong thời gian cô Điền điều trị tại Nhà thương Phủ Doãn, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Tạo... cũng bị nhốt trong khu biệt giam ở đây. Sau khi được thả, biết kế hoạch vượt ngục của các đồng chí, cô Điền đã giấu hai lưỡi cưa sắt nhỏ trong đế một đôi dép dừa gửi vào cho họ. Và họ đã vượt ngục thành công vào đêm Noel năm 1931.
Cùng thời gian này, ông Đỗ Đình Thiện gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia một số hoạt động hưởng ứng phong trào cách mạng trong nước. Ông bị mật thám Pháp bắt tại ga xe lửa Matablant (Toulouse) vì đã in và phát truyền đơn cho binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp kêu gọi họ khi trở về nước “hãy bất tuân thượng lệnh và hưởng ứng phong trào cách mạng”. Tòa án Toulouse xử ông 4 tháng tù giam và trục xuất về nước vì những hoạt động “gây nguy hại cho chính quốc”, lúc đó ông đang học năm thứ ba.
Sau khi ông trở về và bà Điền ra khỏi tù, họ làm đám cưới. Bị kiểm soát gắt gao, không thể trực tiếp hoạt động cách mạng được, ông bà chuyển sang làm kinh tế, trước hết để nuôi sống gia đình và sau là để chờ thời, khi có điều kiện sẽ ủng hộ cách mạng. Sau nhiều thăng trầm, bằng chữ tín ông bà Thiện giàu có dần lên. Đến đầu những năm 1940, ông bà đã nổi tiếng trong giới tư sản Hà thành với tiệm buôn tơ Cát Lợi ở 54 Hàng Gai, nhà máy dệt ở Gia Lâm và đồn điền cà phê Chi Nê.
Ủng hộ nhiều tài sản cho cách mạng
Gia đình ông bà là một cơ sở tài chính lớn của Đảng và Chính phủ trước và sau ngày nắm chính quyền. Có lúc khi ngân quỹ của Đảng chỉ còn 24 đồng bạc thì cụ bà Trịnh Thị Điền đã đưa cho ông Nguyễn Lương Bằng 3 vạn đồng để "các đồng chí hoạt động". Căn nhà 54 Hàng Gai của ông bà trước đây là nơi đi lại của những lãnh tụ cách mạng như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Nguyễn Tạo... Trong thời gian đầu sau khi thành lập nhà nước Việt Nam DCCH, nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng nơi đây để tiếp khách.
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính phủ Pháp ở Paris phong toả Ngân hàng Đông Dương đối với các giao dịch của Chính phủ Việt Nam DCCH. Trong khi đó, Ngân hàng Đông Dương bàn giao cho Chính phủ mới một ngân quỹ chỉ hơn 1.250.000 đồng, trong đó có đến 580.000 đồng hào rách chờ huỷ. Ông Đỗ Đình Thiện, với tư cách cá nhân, vào ngày 1-9-1945 đã rút 10 triệu đồng để cho Chính phủ mới chi dùng. Quỹ Độc lập được thành lập ngày 4-9-1945, ông được cử là Chủ tịch Quỹ. Trọng tâm hoạt động của Quỹ này là Tuần lễ vàng, diễn ra từ 17 đến 24-9-1945, cả nước đã góp được 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc và hiện vật trị giá 7 triệu đồng. Riêng gia đình ông góp 100 lượng vàng (nhiều nhà tư sản cũng đóng góp lớn, như ông Trịnh Văn Bô góp 117 lượng vàng). Trong tháng 9-1945, Nhà Đấu xảo Hà Nội có mở cuộc đấu giá bức tranh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh để ủng hộ Chính phủ, ông Đỗ Đình Thiện đã thắng thầu, mua bức tranh đó với giá 1 triệu đồng, sau đó đã tặng lại bức tranh cho Chính phủ.
Đỗ Đình Thiện từng là một trong hai người tháp tùng Bác Hồ trong chuyến ngoại giao đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam DCCH ở Fontainebleau (Pháp) từ tháng 6 đến tháng 9-1946 (người kia là đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh). Là thư ký riêng, phụ trách đối ngoại, tài chính, ông đã có một cuốn nhật ký tỉ mỉ về hành trình, làm việc của Bác tại nước Pháp trong chuyến đi đó.
Trong 9 năm kháng chiến tại chiến khu Việt Bắc, ông bà Đỗ Đình Thiện đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau và công việc nào cũng toàn tâm toàn ý, tận tụy vì công cuộc kháng chiến. Khi được ông Nguyễn Lương Bằng mời làm Giám đốc Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, ông Thiện không chịu nhận lương và bảo: “Như thế dễ nói hơn, dễ làm việc hơn”.
Nhà máy in tiền đầu tiên ở đồn điền Chi Nê
Nửa đầu thế kỷ trước, đồn điền Chi Nê có diện tích 12.000 ha này thuộc sở hữu của một dòng họ nổi tiếng ở Pháp trong lĩnh vực kinh doanh đồn điền ở Đông Dương: chú cháu nhà Borel. Vị trí của đồn điền nay thuộc thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
Vào năm 1943, vợ chồng nhà yêu nước Đỗ Đình Thiện mua lại đồn điền này với giá một triệu đồng Đông Dương (tương đương 2.000 lạng vàng), chủ yếu trồng cà phê. Trong kháng chiến chống Pháp, ông bà Đỗ Đình Thiện mua máy in cho chính phủ, chuyển ra đồn điền của gia đình mình ở Chi Nê (nằm trong vùng kiểm soát của ta, nay là Nông trường Sông Bôi – Hòa Bình) để lập nhà máy in tiền cho chính phủ của Việt Minh (đây là nhà máy in tiền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH). Trong khoảng một năm từ tháng 3-1946 đến tháng 4-1947, đồn điền Chi Nê trở thành nơi in tiền của chính quyền cách mạng Việt Nam, và nơi trú ẩn an toàn cho nhiều cán bộ của Đảng như Nguyễn Tạo, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Hiến...
Tất cả khu vực xưởng chế biến cà phê của đồn điền được giao lại cho Bộ Tài chính lập Nhà máy in tiền và xây dựng nhà xưởng cho công nhân ở. Nhà máy bấy giờ còn hết sức đơn giản. Máy móc chưa hiện đại nên cách thức in tiền cũng rất thô sơ: in lần lượt từng màu, số sê-ri, sau đó mới cắt. Mệnh giá lớn được in offset, mệnh giá nhỏ được in bằng máy sốp, typo. Lúc đó còn in cả các mệnh giá tiền 5 đồng, 2 đồng, 1 đồng, 5 hào, 2 hào, 1 hào. Tại Chi Nê đã ra đời đồng bạc mệnh giá lớn nhất lúc bấy giờ là 100 đồng Việt Nam, còn được gọi là "tờ bạc trâu xanh", vì trên tờ bạc có hình con trâu màu xanh.
Ngày 24-2-1947 máy bay Pháp đã oanh tạc và gây thiệt hại nặng nề cho đồn điền này. Khi được báo cáo về việc này, Bác Hồ đã viết thư gửi cho gia đình cụ Đỗ Đình Thiện. Thư có đoạn viết: "Chú thím Thiện. Được tin chú thím, nhà Hiền và các cháu đều bình an, tôi rất vui lòng. Mất của cải không sợ. "Còn trời còn nước còn non, thì còn của cải bà con họ Hồ". Kháng chiến thành công, ta làm ra của khác, chắc chắn hơn. Chúc các chú thím mạnh khỏe. Hôn các cháu. Chào thân ái và quyết thắng".
Người yêu nước nhiệt thành và trong sáng
Bí quyết thành công của ông bà Đỗ Đình Thiện là ở chữ Tín và chữ Tâm. Chữ Tín đã giúp thành công trong làm ăn kinh tế, còn chữ Tâm đã khiến ông bà rất mực thuỷ chung với nước, với sự nghiệp chung.
Giàu có nhưng ông bà Đỗ Đình Thiện sống giản dị theo kiểu thanh bạch của người Hà Nội xưa. Đặc biệt, ông không màng danh lợi. Khi cách mạng thành công, có người đề nghị ông xuống Nam Định để ứng cử Quốc hội nhưng ông từ chối.
Gia đình Đỗ Đình Thiện là một trong số những người Hà Nội đầu tiên đi kháng chiến; để lại hai ngôi nhà, một nhà máy và rất nhiều của cải; đi theo Cách mạng và Cụ Hồ cho đến ngày Điện Biên Phủ toàn thắng. Hòa bình lập lại, là Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiều năm, ông vẫn không nhận lương và vui lòng hưởng đến trọn đời tiêu chuẩn phân phối thời bao cấp dành cho nhân dân.
Ngày 1-1-1972, ông Đỗ Đình Thiện qua đời, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, bà con, đồng chí, bạn bè.
Bà Trịnh Thị Điền mất sau ông hơn chục năm. Sinh thời ông bà sống mẫu mực, đã hiến toàn bộ tài sản và trí tuệ cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Con cái không vướng vào việc đòi lại gia sản như đối với gia đình một số nhà tư sản cũ. Đó là bài học to lớn về tinh thần xả thân vì Tổ quốc, tấm lòng vì dân tộc, thái độ sống cao quý “trẻ đạt, già yên” không màng danh lợi mà vị tình nghĩa, vị nhân sinh.

Không có nhận xét nào: