Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

Phê bình văn học

PHẢI CÓ “VỐN VĂN HỌC” MỚI “ĐỌC” ĐƯỢC NGUYỄN HUY THIỆP!
(Nhân đọc hai bài phê bình Khi Ông tướng về hưu xuất hiệnBiển không có thủy thần của nhà phê bình Đặng Anh Đào
(1))

Nhà giáo ưu tú Phó Giáo sư, Tiến sĩ văn học phương Tây Đặng Anh Đào (sinh năm 1934) là con gái thứ tư của Giáo sư, nhà văn hóa Đặng Thai Mai. “Ở Đặng Anh Đào luôn toát ra dáng vẻ mô phạm của một nhà giáo đã có nhiều năm đứng trên bục giảng. Bà nói chuyện nghiêm trang và ý nhị, rất chừng mực mà cũng rất tinh tế. Sự ân cần của bà làm người tiếp xúc ấm lòng và tin tưởng”(2). Với một nền tảng học vấn và văn hóa đó, nhà phê bình Đặng Anh Đào đã giúp người đọc có thể “bóc” được nhiều tầng ngữ nghĩa trong các phẩm văn học, nhất là với những tác giả “kén” người đọc như Nguyễn Huy Thiệp.

Truyện của Nguyễn Huy Thiệp – nhẹ như bấc mà nặng như chì
Nguyễn Huy Thiệp quê huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Năm 1960, gia đình chuyển về quê, định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội. Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980. Năm 1980, ông chuyển về làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu. Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986. Năm 1996, Tiểu Long Nữ được coi là “tiểu thuyết đầu tay” – cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông được chính thức xuất bản bởi Nhà xuất bản Công an nhân dân. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động. Sở trường của ông là truyện ngắn, mảng đề tài đa dạng gồm lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động.
Truyện của Nguyễn Huy Thiệp có thể nói “nhẹ như bấc mà nặng như chì”. Đọc Tướng về hưu, người ta thấy nhẹ ở giọng văn kể đơn giản, gần như không có chút “kỹ thuật văn chương” mà chỉ có sự kể chuyện theo một trật tự thời gian. Ta không tìm thấy nhiều tính từ miêu tả, mà chỉ có sự diễn đạt gần như trung tính. Thế nhưng hàm ý của Tướng về hưu thì không dễ nhận ra. “Thế nó định khen ai thế? Định khen ông tướng hay là… Có phải định phê phán con dâu không?”(3) … Người ta gần như không thấy thái độ của tác giả đâu nên không biết thật ra tác giả “đứng về phía nào”, bảo vệ cho ai và phê phán ai. Người đọc vẫn có thói quen đứng về phía một ai đó, đại khái ủng hộ cho nhân vật mà tác giả gọi là “chàng”, “nàng”, “anh”, chống lại những nhân vật được gọi là “y”, “hắn”, “mụ”… Nhưng trong Tướng về hưu thì là ai? Chúng ta phải vắt óc ra nghĩ.
Trong Con gái thủy thần, lại có nhân vật “tôi” xuất hiện, làm người kể chuyện. Chương, tên nhân vật ấy, một lần nghe kể chuyện về con gái thủy thần rồi bị ám ảnh. Lớn lên, chàng ta bỏ nhà đi tìm. Những cô Phượng – tên cô gái thủy thần – lần lượt đi qua cuộc đời anh với đủ hỉ nộ ái ố, nhưng giọng kể thì nhẹ như không. Người ta thoạt đầu không biết là thực ra theo tác giả thì có thủy thần hay không. Cái cổ tích, hoang đường cứ đan xen với những cảnh đời, chuyện đời rất thật (kể cả cái năm cũng rất thật – năm 1956). Người đọc lại phải nghĩ, thậm chí phải đoán. Vất vả. Mà cũng hết sức thú vị.
Hay trong Vàng lửa, Nguyễn Huy Thiệp cho ta đến 3 cái kết, muốn chọn cái nào cũng được. Dễ thế nhưng mà cũng khó làm sao. Tâm lý người đọc vẫn hay “phó mặc” cho tác giả định đoạt số phận câu chuyện của mình (theo logic vốn có của nó, chứ không thể tuỳ tiện(4).

Phải có vốn văn học mới đọc được Nguyễn Huy Thiệp!
Lần đầu tiên đọc Nguyễn Huy Thiệp cách đây khoảng 10 năm, tôi thật sự kinh ngạc. Tôi kinh ngạc vì những chuyện, những chi tiết trong truyện của ông táo bạo quá, thậm chí ghê rợn quá. Tôi đọc xong mà thừ người ra. Vì sao ông có thể viết lên điều ấy cơ chứ! Tôi vốn quen đọc sự mạnh mẽ, dữ dội theo kiểu của Nam Cao, của Nguyên Hồng, kể cả của Tô Hoài (theo lối của Ba người khác). Thế nhưng với Nguyễn Huy Thiệp thì khác hẳn. “Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu” (Tướng về hưu). Hay trong Chuyện ông Móng, người đọc, nhất là người miền Nam, sẽ hết sức ngạc nhiên về chuyện buôn bán phân tươi. Có người bảo đọc xong “không dám ăn cơm ngay” vì cảm giác rờn rợn cứ ám ảnh.
Nhưng ẩn đằng sau những chi tiết, những cốt truyện có khi nặng như chì, có khi nhẹ như bấc ấy của Nguyễn Huy Thiệp, có nhiều tầng ngữ nghĩa mà nếu người đọc quá đơn giản – hoặc không có vốn văn học (thậm chí vốn văn hóa) hoặc không chị tư duy – thì thật khó để hiểu đúng (chứ chưa nói đến hiểu đủ) nội dung của câu chuyện. Như trong Tướng về hưu, đâu phải dễ dàng nhận ra ngay cái lạc lõng, cô độc đến lạc loài của ông tướng vốn cả đời quen với trận mạc, quen với súng đạn hơn là va chạm với những phũ phàng của cuộc đời. Nhìn rộng hơn, ta sẽ thấy có sự chuyển mình (một cách trăn trở) của một xã hội Việt Nam trong buổi giao thời – cái mới chưa đến rõ, cái cũ còn đọng lại. Các giá trị đạo đức truyền thống đâu? Các nét đẹp cổ truyền đâu? Ta băn khoăn suy nghĩ mới mong tìm thấy câu trả lời – mà chắc đâu đã trọn vẹn – hoặc đôi khi chỉ có nghĩ chứ nào mong là tìm thấy được lời giải đúng nghĩa!
Cái vốn văn học để đọc được Nguyễn Huy Thiệp là phải có phương pháp đọc phù hợp. Nhà phê bình Đặng Anh Đào viết cho rằng cần có cách đọc mới những tác phẩm viết theo lối mới – tức là không viết theo kiểu “ta – địch” rõ ràng, “chính – tà” phân minh. Không phải chỉ tìm xem diễn biến tâm lý của nhân vật ra sao (theo những giai đoạn nhất định) mà thực ra còn phải tìm đúng thái độ của nhân vật trong từng lát cắt của câu chuyện.
Vốn văn học là phải hiểu rằng ta đang đọc một tác phẩm văn học, không phải đọc một câu chuyện báo chí hay một tác phẩm lịch sử. Câu chuyện của tác phẩm văn học được hư cấu, được dàn dựng với những kết cấu không gian, thời gian đặc thù nên phải tìm hiểu ý đồ của nhà văn trong việc hư cấu, trong việc tổ chức tác phẩm.
Vốn văn học còn là tìm thấy sự gợi mở, định hướng của tác giả, của câu chuyện, thậm chí chỉ qua một chi tiết nhỏ, cho người đọc. Giá trị của tác phẩm được góp phần hình thành từ trong đó. Chẳng hạn, ở Con gái thủy thần, Chương vì có một niềm tin rằng có một Gianna Phượng, con gái của thủy thần, nên anh ta quyết tâm đi tìm. Trải qua bao nhiêu gian khổ, niềm tin ấy chẳng những không mất đi mà còn như được tiếp thêm sức mạnh. Đến độ, Chương hờ hững và bất lực trước sự dâng hiến của Mây, người không muốn đánh mất sự trinh trắng của mình cho ông chủ nhiều tiền. Hay trong Tướng về hưu, khi cô Lài bảo là xấu xí lại cả tin thì chẳng có ai lấy, ông tướng lại bảo: “Con ơi, con không hiểu rằng cả tin chính là sức mạnh để sống hả con?". Hàm ý của tác giả gửi đến người đọc đó chứ!

Nhà phê bình không phải đọc hộ mà là giúp đọc!
Nhà phê bình dĩ nhiên phải đọc và hiểu toàn bộ tác phẩm. Nhưng để người đọc cảm thụ được tác phẩm – cảm thụ chứ không phải nghe theo nhà phê bình, vì mỗi người có sự cảm thụ riêng – nhà phê bình không phải đọc hộ rồi tóm tắt tác phẩm, sau đó nêu ra cảm nhận của mình. Nhà phê bình nên giới thiệu cách đọc, định hướng người đọc để giúp họ tìm ra vẻ đẹp thật sự của tác phẩm (cũng như nhận ra sự thất bại của tác giả qua tác phẩm đó).
Trong Khi Ông tướng về hưu xuất hiện, đừng mong nhà phê bình Đặng Anh Đào cho ta biết câu chuyện có nội dung thế nào. Bà chỉ giúp cho người đọc tìm thấy cách viết mới (cần có lối đọc mới), lý luận về cái cách cảm thụ tác phẩm, về cái lõi tư tưởng của tác phẩm, về cách hiểu tác phẩm… Tức là, nhà phê bình đã đề ra phương pháp cảm thụ tác phẩm theo một lý luận rõ ràng về văn học, đứng trên một nền tảng lý luận vững chắc, linh hoạt và biện chứng.
Trong Biển không có thủy thần, cách phê bình cũng không khác mấy. Ta không biết Chương đã hành trình như thế nào vì nhà phê bình đâu có làm chuyện điểm sách đơn giản. Bà đi tìm các tầng sâu văn hóa trong tác phẩm: cổ tích và phản cổ tích, hoang đường và hiện thực, tính khái quát thời cuộc của tác phẩm… Dĩ nhiên, bà không “bỏ mặc” người đọc. Vì bà đã kết luận: “Không có vua. Không có thủy thần. Vả chăng, ngay một khi cả người viết truyện cũng không khẳng định làm “vị gia trưởng cộc cằn, nhà lập pháp bẩn thỉu” (ở đây chỉ nhắc lại những lời nói về “thằng bố ô trọc” – tức con khỉ bố trong Muối của rừng) thì người đọc sẽ vẽ nên những thuỷ thần qua văn bản. Và đó sẽ là ngày hội của thuỷ thần”(5).
Rõ ràng, với một tác phẩm hay và đẹp, nhà phê bình phải giúp người đọc tìm ra cái hay và vẻ đẹp đó. Phê bình không phải đề cao cái tôi của người phê bình hay tâng bốc (hoặc vùi dập) tác giả mà chính là góp phần tạo ra một cái bối cảnh thuận lợi nhất để người đọc hiểu đúng tác phẩm cũng như giúp tác giả có một định hướng sáng tác phù hợp (cho những tác phẩm sau). Vì vậy, vẫn là câu “khen đúng là bạn ta, chê đúng là thầy ta”!
Về vấn đề phê bình, PGS Đặng Anh Đào viết: "Những hành xử bất nhã từng làm vẩn đục môi trường tranh luận trong phê bình văn học vừa qua sở dĩ xảy ra là do chúng ta thiếu thói quen tranh luận, truy đến cùng và nói cho to tát là dân ta không nằm trong xứ sở có truyền thống của chủ nghĩa hoài nghi. Song trong quá trình làm quen với va chạm, người ta sẽ học được cách ứng xử phù hợp". Như vậy, xét cho cùng, phê bình là vì người đọc. Nếu không, nhiều người sẽ không hiểu nổi Nguyễn Huy Thiệp!
TP.HCM, ngày 2-4-2009
(1) In trong Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật trên báo chí của Nguyễn Thị Minh Thái, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.
(2) Báo Công an nhân dân, ngày 4-10-2007.
(3) Bài Khi Ông tướng về hưu xuất hiện, sđd, tr. 448.
(4) Bởi vậy Nguyên Hồng khi viết Sóng gầm đã từng khóc rưng rức khi nhân vật của ông chết rồi, mà ông không thể dùng quyền tác giả của mình để cứu lấy nhân vật!
(5) Bài Không có thủy thần, sđd, tr. 463.

Không có nhận xét nào: